Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng hay nói rộng hơn là nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính (financial inclusion) được định nghĩa đơn giản là tăng tỷ lệ cá nhân và doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ tài chính, mà cơ bản nhất là tiệt kiệm, tín dụng, thanh toán và bảo hiểm. Đây được coi là điều kiện tiên quyết cho việc đạt được tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững (UNDP, 2010; WB, 2013).
Tại các nước đang phát triển, một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển là hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Trong đó, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng là giải pháp hiệu quả, kích thích các hoạt động tạo thu nhập, giúp người dân kiểm soát tình hình tài chính của mình, từng bước vượt khỏi đói nghèo. Tại Việt Nam, dân số hiện nay là 90 triệu người trong đó hơn 70% dân cư sống ở vùng nông thôn với tỷ lệ hộ nghèo chiếm đến 95% của cả nước. Như vậy, rõ ràng vẫn còn khoảng trống rất lớn cho việc phát triển tài chính chính thức ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đòi hỏi chúng ta cần lựa chọn các mô hình, phương pháp giải quyết phù hợp thông qua quá trình nghiên cứu thực trạng ở Việt Nam cũng như học hỏi kinh nghiệm quốc tế.
1. Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa
Freedom from Hunger (FFH) là một tổ chức quốc tế có hoạt động TCVM ở châu Phi. FFH đã tìm kiếm các đối tác – chủ yếu là ngân hàng hoặc các tổ chức chính thức của Chính phủ - phù hợp với tiêu chí hoạt động cũng như mô hình của FFH. Đối tác có thể là các tổ chức chưa từng có kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ TCVM, nên nhân viên sẽ được đào tạo và cung cấp các hỗ trợ kĩ thuật với các phương thức tài chính phù hợp cho đối tượng thu nhập thấp. Sự phối hợp giữa FFH và các đối tác đảm bảo được rất nhiều yêu cầu, sự chuyên môn hóa về tài chính, giảm chi phí nhờ tận dụng mạng lưới của đối tác, tạo cơ hội cung cấp các dịch vụ tài chính. Cách thức hợp tác trên được cho là rất phù hợp, nhất là với các nước có khuôn khổ luật pháp chưa hoàn thiện, qua đó không những làm cho hoạt động tài chính của các ngân hàng, tổ chức hoạt động an toàn, hiệu quả mà còn giúp cả các đối tượng của TCVM tiếp cận gần hơn các dịch vụ ngân hàng.
Adopem ở Cộng hòa Dominican cũng là một ví dụ điển hình về hiệu quả của chuyên môn hóa, hiện đại hóa hoạt động tài chính. Adopem thực hiện chương trình PDA (Personal Digital Assistants) trong dịch vụ tài chính vi mô: số hóa dữ liệu khách hàng và máy móc hỗ trợ tối đa cho hoạt động tài chính thay vì thuê mướn thêm nhân viên và đã ghi nhận những cải thiện đáng kể. Khách hàng tài chính vi mô đông hơn. Số ngày giữa kế hoạch và giải ngân giảm xuống từ năm ngày đến hai ngày. Chi phí cho thủ tục giấy tờ giảm 60% và chi phí cho việc nhập dữ liệu giảm 50%. Khối lượng công việc nhân viên vay và các biện pháp khác năng suất tăng khoảng 35%.
Swayam Krishi Sangam (SKS) Ấn Độ: ra đời vào năm 1998, SKS cung cấp các sản phẩm TCVM thông qua một mô hình cho vay đối với nhóm phụ nữ nghèo vì mục đích lợi nhuận. SKS vận hành theo mô hình Tập đoàn trách nhiệm hữu phần (Joint Liability Group - JLG). Hình thức tín dụng thực hiện theo nhóm năm thành viên. SKS cung cấp 8 sản phẩm và dịch vụ tài chính cho các khách hàng: vay tạo thu nhập, các khoản cho vay trung hạn, hỗ trợ tang, khoản vay vàng, vay nhà ở, bảo hiểm nhân thọ,… Nhờ chú trọng vào thiết kế các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng, phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng dân cư và sự tiên phong trong phát triển hệ thống thông tin quản lý (MIS) mà SKS đã tiếp cận tới hàng triệu hộ gia đình nghèo trên khắp Ấn Độ. Từ khi thành lập, SKS đã cung cấp 40 triệu USD tín dụng vi mô cho hơn 150.000 phụ nữ ở miền Nam Ấn Độ thông qua 45 chi nhánh và 500 nhân viên.
Technoserve ở Ghana đã phát triển chương trình tín dụng hàng tồn kho ở Ghana cho phép các nhóm nông dân nhận được lợi nhuận từ cây trồng bằng cách cung cấp tín dụng sau thu hoạch thông qua liên kết với một tổ chức tài chính nông thôn. Thay vì bán tất cả các cây trồng thu hoạch khi giá đang thấp nhất để đáp ứng nhu cầu tiền mặt, nông dân quy mô nhỏ trong các cửa hàng kế hoạch cây trồng của họ trong một nhà kho hợp tác quản lý và nhận được một khoản vay khoảng 75-80%. Giá trị của các cây trồng được lưu trữ, phục vụ làm tài sản thế chấp. Khoản vay này cho phép họ để xóa các khoản nợ họ tích lũy và đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngay lập tức. Sau đó, khi giá đã tăng trong mùa, nông dân, hoặc bán cây trồng được lưu trữ hoặc mua lại nó cho tiêu dùng. Đây là mô hình sáng tạo, giải quyết khó khăn đầu ra theo mùa vụ của sản phẩm nông nghiệp, có thể áp dụng hiệu quả tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Agensi Kaunseling Dan Pengurusan Kredit (AKPK) ở Malaysia là một tổ chức được thành lập vào năm 2006, được xem như một nhánh của NHTW Malaysia với nhiệm vụ “Làm cho hoạt động quản lý tài chính thận trọng trở thành một phương châm sống” của người Malaysia. Thông qua các kênh truyền thông như hội thảo, các chương trình đào tạo trong nước, giáo dục tài chính tại nơi làm việc, chương trình định hướng cộng đồng…AKPK tổ chức chương trình giáo dục tài chính kết hợp với một vài biện pháp khác như chương trình tư vấn và quản lý nợ nhằm thúc đẩy việc thay đổi hành vi của người đi vay. Chương trình giáo dục tài chính tập trung vào những nguyên tắc tài chính cơ bản, hướng tới các mục tiêu quan trọng trong từng giai đoạn cuộc đời, gồm 6 chương: (i) quản lý dòng tiền, (ii) kiến thức cơ bản về vay vốn, (iii) sử dụng thẻ tín dụng, (iv) mua xe, (v) mua nhà, (vi) tầm quan trọng của việc quản lý nợ. Kể từ năm 2011, đã có gần 200.000 người tham gia và 500.000 người hưởng lợi từ chương trình giáo dục tài chính từ năm 2006.
Luật Đầu tư Công cộng tại Mỹ ra đời vào năm 1977, đã yêu cầu bắt buộc nhiều ngân hàng thương mại phải thực hiện việc đầu tư vào nhóm dân cư nghèo sinh sống tại các khu đô thị, thành phố lớn và cả các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Phương thức nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng đối với những đối tượng này của ngân hàng, tổ chức tài chính ở Mỹ thường thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các tổ chức xã hội. Ban đầu chỉ có một vài tổ chức phải thực thi Điều Luật trên, sau một thời gian thu được kết quả khích lệ, chính quyền liên bang đã mở rộng phạm vi áp dụng rộng hơn đến các tổ chức tài chính, tín dụng trên cả nước, tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng chính thức của người dân, giảm tỷ lệ người dân tiếp cận với dịch vụ tín dụng phi chính thức.
2. Thực trạng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa tại Việt Nam
Trong 10 năm trở lại đây, hệ thống các TCTD nói chung và các NHTM Việt Nam nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về cơ cấu sở hữu, loại hình và năng lực hoạt động. Tổng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng đã tăng hơn 13,7 lần trong giai đoạn 2001-2010, với tốc độ tăng trưởng trung bình là 37,5%/năm, tổng tài sản tăng hơn 10 lần với tốc độ tăng khoảng 31%/năm. Giá trị tổng tài sản của toàn hệ thống hiện tại là hơn 6 triệu tỷ đồng, tương đương với khoảng 176% GDP. Hệ thống mạng lưới ngân hàng cũng được mở rộng trên khắp cả nước, vươn đến tận vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của các NHTM đã tăng gần gấp 3 lần, từ 3.689 đơn vị năm 2005 lên 9.493 đơn vị tính đến 31/12/2013.
Việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng đối với dân cư nông thôn, hộ nghèo ngày càng được chú trọng và đạt nhiều tiến bộ nhờ những tổ chức cung ứng tín dụng nông thôn với mạng lưới bao phủ rộng khắp như NHNN&PTNN, hơn 1000 Quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô và Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng để cho vay hộ nghèo, vùng sâu vùng xa, đối tượng chính sách ngày càng được nâng cao. Nhiều chương trình an sinh xã hội được thực hiện theo hướng ưu tiên phát triển giáo dục, y tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống,... tập trung ở một số chương trình như cho vay hộ nghèo, cho vay học sinh sinh viên, cho vay nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ gia đình vùng khó khăn. Chỉ tính riêng nguồn vốn cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội đến hết năm 2012, đã có trên 21,4 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn tín dụng ưu đãi, góp phần giúp trên 2,9 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, 2,6 triệu hộ nghèo đã cải thiện được đời sống, trên 8,7 triệu lao động được tạo việc làm nhờ vốn vay của chương trình chính sách.
Bên cạnh những kết quả đạt được, khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa ở Việt Nam còn những hạn chế nhất định như:
- Chất lượng dịch vụ chưa cao, nhất là dịch vụ ngân hàng hiện đại như ATM, POS còn có một số những hạn chế, sai sót trong quá trình sử dụng, mạng lưới máy ATM phân bố chưa tiện lợi, khiến cho người dân ở các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không mặn mà sử dụng.
- Sự phát triển của các tổ chức tài chính vi mô còn hạn chế. Các TCTCVM bao gồm cả các chương trình NGO cũng chỉ chiếm tỷ trọng 1,84% thị trường tài chính vi mô. Các TCTCVM chưa phát huy được những mặt tích cực và chưa phổ biến rộng rãi ở vùng nông thôn Việt Nam.
Nguyên nhân của hạn chế
- Sự phân bố mạng lưới của các ngân hàng thương mại là không đồng đều, tập trung quá mức ở vùng thành thị mà bỏ qua vùng nông thôn. Số xã có đặt điểm giao dịch của các ngân hàng thương mại mới chỉ chiếm khoảng 10% tổng số xã nông thôn và cũng chiếm khoảng 10% trong tổng số điểm giao dịch trên cả nước. Thậm chí còn có những huyện trắng ngân hàng (kể cả NHNN&PTNT) ví dụ như những huyện mới thành lập như Nậm Pồ (Điện Biên), Nậm Nhùn (Lai Châu), Tu Mơ Rông (Kontum), Sốp Cộp (Sơn La). Ở các địa bàn vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo người dân tiếp cận dịch vụ ngân hàng càng khó khăn do địa lý cách trở.
- Địa bàn xa xôi, giao thông cách trở đã cản trở người dân đến với dịch vụ ngân hàng, cũng như là các TCTD gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng mạng lưới đến các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Những chi phí giao dịch cao cho những món tiền nhỏ lẻ để đáp ứng nhu cầu của những người thu nhập thấp sẽ khiến cho hoạt động ngân hàng ở vùng nông thôn trở nên kém hiệu quả, dễ gặp rủi ro cao.
- Trình độ dân trí của một bộ phận người dân thành thị và nông thôn vẫn thấp, đặc biệt là về kiến thức tài chính. Đây là nguyên nhân lớn nhất khiến người dân nhất là người dân ở vùng nông thôn, không tiếp cận đến với dịch vụ ngân hàng. Không có kiến thức tài chính sẽ không hiểu được lợi ích của các dịch vụ ngân hàng như gửi tiền tiết kiệm, tín dụng…Tâm lý người dân nông thôn vẫn thích cất giữ tiền mặt, vàng, tài sản ở nhà mà không cần đến dịch vụ của ngân hàng . Mặt khác, đối với người nghèo thu nhập và nhu cầu chi tiêu của họ là không lớn nên cũng chưa có nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng.
- Điều kiện cho vay dễ dàng của các tổ chức không chính thức như hiệu cầm đồ, hụi họ khiến cho những người dân nông thôn không muốn đến với ngân hàng là nơi đòi hỏi những điều kiện khắt khe về tài sản thế chấp hoặc phương án kinh doanh. Tình trạng này cũng xuất phát từ tâm lý và văn hóa có từ lâu đời của người dân nông thôn Việt Nam.
Việt Nam là một trong những quốc gia đạt được thành tích rất đáng tự hào trong công cuộc giảm nghèo trong 2 thập kỷ qua, dù áp dụng theo chuẩn quốc gia hay quốc tế (WB, 2012). Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng là một trong những giải pháp quan trọng để thực thi vai trò của hệ thống các TCTD đối với tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng đời sống của người dân, hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế bền vững. Từ những hạn chế của Việt Nam và kinh nghiệm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa của một số quốc gia trên thế giới, một số bài học rút ra là:
- Khuyến khích các NHTM, các TCTD cung cấp dịch vụ tài chính vi mô sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng từ xa như phát triển các mạng lưới ngân hàng điện tử, phát triển dịch vụ ngân hàng đi kèm với ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông (mobile và internet banking);
- Tiếp tục chỉ đạo các TCTD trên địa bàn triển khai thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; kết hợp giữa cho vay phục vụ sản xuất với cho vay tiêu dùng, xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa;
- Phát triển đội ngũ nhân lực theo hình thức nhân viên chính thức hoặc thuê ngoài am hiểu về các ngành nghề kỹ thuật nông nghiệp để phát triển sản phẩm phù hợp và an toàn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn;
- Đa dạng hóa các loại hình tín dụng nông thôn. Có giải pháp khuyến khích đáp ứng nhu cầu vay vốn với quy mô lớn nhỏ khác nhau của nông dân, phù hợp với tính mùa vụ của các loại nông sản như mô hình của Technoserve ở Ghana, đảm bảo công bằng trong tín dụng nông thôn, góp phần tăng thu nhập và giảm đói nghèo. Tăng hiệu quả của đồng vốn bằng cách hoàn thiện việc thẩm định dự án, đánh giá mức rủi ro của người đi vay;
- Đẩy mạnh huy động tiết kiệm. Xoá bỏ quan điểm là người nghèo không thể tiết kiệm, các chương trình tín dụng ngoài việc tập trung vào việc cho vay nên triển khai song song mảng tiết kiệm. Nỗ lực toàn diện để huy động tiền gửi từ dân, cơ cấu lãi suất với những quy định của NHNN về mức trần lãi suất tiền gửi hiện hạn chế các tổ chức tín dụng thu hút tiết kiệm;
- Xây dựng chương trình giáo dục tài chính nhằm nâng cao năng lực sử dụng các dịch vụ ngân hàng cho người dân. Đưa giáo dục tài chính trở thành một chương trình quốc gia với hai mục tiêu chính: (i) Bảo vệ người tiêu dùng tài chính, và (ii) Nâng cao hiểu biết của người dân đối với các sản phẩm tài chính;
- Tạo cầu nối giữa tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức. Nếu khai thác và phối hợp được thế mạnh của hai khu vực này sẽ có nhiều nguồn tín dụng với chất lượng cao hơn cho người dân ở nông thôn, nhất là người nghèo, dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.
Tài liệu tham khảo
Vũ Thị Hải Yến
Phòng nghiên cứu phát triển các định chế tài chính