Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội

Trả lời ĐBQH Nguyễn Phi Thường - TP. Hà Nội

11/06/2013 15:20:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Phi Thường - Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội..

Câu hỏi:

1. Đề nghị Thống đốc cho biết thực trạng nhập lậu vàng và dập lậu vàng miếng SJC hiện nay? Giải pháp khắc phục trong bối cảnh hiện nay và điều kiện chưa có 1 tiêu chuẩn quốc gia về kiểm định và chưa có 1 đơn vị độc lập về kiểm định?

2. Báo cáo NHNN có nêu nguyên tắc xử lý nợ xấu: tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải chịu trách nhiệm chính về khoản nợ xấu phát sinh..., Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ xấu trong cho vay các đối tượng chính sách hoặc cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ. Đề nghị Thống đốc cho biết tổng nợ xấu của phần này là bao nhiêu? Nguồn lực và phương án xử lý của NHNN như thế nào?

3. Tiêu chuẩn chính thức xác định nợ xấu đã được NHNN ban hành chưa? Tiêu chuẩn, cơ sở để NHNN xác định cứu ngân hàng nào? Doanh nghiệp nào? Bỏ, sáp nhập ngân hàng, doanh nghiệp nào? Là như thế nào? Đã có chưa? Có cơ sở định lượng không? Có “yêu, ghét”, lợi ích nhóm ở đây không?

4. Đề nghị đánh giá mức độ ảnh hưởng của nợ xấu tại thời điểm hiện tại khi mà tỷ lệ nợ xấu vấn đang tăng hàng ngày (Báo cáo nói là tăng trong kiểm soát!?). Thống đốc cho biết nguồn lực, khả năng, phương án, kịch bản đối phó với tình huống xấu nhất – đổ vỡ hệ thống, phá sản hàng loạt?

5. Tình trạng nợ xấu, sức khỏe NHTMNN như Agribank, BIDV...?

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Nguyễn Phi Thường như sau:

1. Về quản lý vàng:

- Về thực trạng nhập lậu vàng, dập lậu vàng miếng SJC và giải pháp khắc phục: Trước đây, cơ chế quản lý thị trường vàng theo Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999 có nhiều bất cập, trong đó không quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất vàng miếng. Vì vậy, với 8 doanh nghiệp được sản xuất vàng miếng và khoảng 12.000 doanh nghiệp kinh doanh vàng, thực tế Nhà nước khó kiểm soát được hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng lậu khi thị trường có biến động.

Để khắc phục bất cập của thị trường vàng miếng, ngăn chặn ảnh hưởng biến động giá vàng lên tỷ giá, chính sách tiền tệ, kinh tế vĩ mô, NHNN đã trình Chính phủ: (i) Ban hành Nghị định 95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2012 nâng mức xử phạt đối với hành vi nhập khẩu vàng không phép để hạn chế hoạt động nhập khẩu vàng trái phép; (ii) Ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 thay thế Nghị định 174 theo hướng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ nguồn cung vàng miếng thông qua việc quy định Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng; độc quyền nhập khẩu, xuất khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Sau khi Nghị định 24 có hiệu lực, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất vàng miếng như: (i) Niêm phong, quản lý chặt chẽ khuôn dập vàng miếng của công ty SJC, (ii) Ban hành quy định giám sát chặt chẽ quá trình gia công vàng miếng tại công ty SJC; (iii) Yêu cầu tất cả các TCTD, công ty sản xuất vàng miếng khác trước đây chuyển toàn bộ số khuôn dập vàng miếng cho NHNN để niêm phong quản lý (iv) Yêu cầu tất cả các TCTD, công ty sản xuất vàng miếng khác trước đây có văn bản cam kết không sản xuất vàng miếng theo đúng quy định tại Nghị định 24.

Với các quy định chặt chẽ tại Nghị định 24, Nghị định 95 và các biện pháp NHNN đã triển khai thực hiện, thị trường vàng trong nước có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia. Trong đó, từ tháng 4/2012 đến nay, mặc dù giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới, nhưng không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”, cũng như không kéo theo hiện tượng nhập lậu vàng qua biên giới như trước đây.

Trong thời gian gần đây, thị trường xuất hiện vàng giả SJC. Việc sản xuất và đưa vào lưu thông vàng giả là hành vi vi phạm pháp luật. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, NHNN đang phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra, phát hiện và xử lý nghiêm việc sản xuất vàng giả theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, NHNN đã yêu cầu Công ty SJC có các biện pháp tăng cường chống làm giả vàng miếng và tổ chức tuyên truyền để khuyến cáo người dân cách nhận biết vàng miếng giả thông qua các dấu hiệu đặc trưng của sản phẩm vàng miếng (như ký hiệu, số sêri, mẫu mã, bao bì...). NHNN cũng đã khuyến cáo người dân nên mua vàng miếng tại các địa chỉ có uy tín, có hóa đơn, chứng từ và có ghi số sêri của miếng vàng để tránh hiện tượng mua phải vàng giả.

- Về chất lượng vàng miếng do Công ty SJC gia công cho NHNN:

Theo quy định tại Điều 9, 10 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, với tư cách là nhà sản xuất, Công ty SJC: (i) có quyền quyết định, công bố mức chất lượng sản phẩm do mình sản xuất và (ii) có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm và chịu trách nhiệm trước pháp luật, người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất.

Khi lựa chọn sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC và giao công ty SJC gia công vàng miếng cho NHNN, NHNN đã ban hành Quyết định 1623/QĐ-NHNN ngày 23/8/2012 về tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN. Theo đó, NHNN quy định rõ Công ty SJC có trách nhiệm về khối lượng và chất lượng sản phẩm vàng miếng SJC; đồng thời quy định NHNN tổ chức sản xuất vàng miếng hàm lượng 99,99%, có đóng chữ, số chỉ khối lượng chất lượng và ký mã hiệu của Công ty SJC.

Như vậy, theo quy định của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Quyết định 1623, Công ty SJC có trách nhiệm trước pháp luật và người mua vàng về chất lượng vàng miếng SJC do Công ty gia công cho NHNN.

2. Về nợ xấu của đối tượng chính sách:

Theo số liệu báo cáo, đến ngày 30/6/2012, nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội là 1.743 tỷ đồng và nợ xấu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam là 30.339 tỷ đồng. Ngoài ra, nợ xấu trong cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ nằm rải rác trong các khoản NHTM Nhà nước cho vay các doanh nghiệp nhà nước.

Đối với các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước tại các NHTM Nhà nước, NHNN dự kiến trình Chính phủ xem xét, giao Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) thuộc Bộ Tài chính tiếp nhận, xử lý. Các khoản nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ do Bộ Tài chính lập phương án xử lý, báo cáo Chính phủ quyết định.

3. Về tiêu chuẩn, cơ sở xác định nợ xấu và cơ cấu lại ngân hàng:

3.1. Về tiêu chuẩn chính thức xác định nợ xấu:

Ngày 22/4/2005, NHNN đã ban hành Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD (được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007) thay thế Quyết định số 488/2000/QĐ-NHNN5 ngày 27/11/2000. Theo đó, các khoản nợ được phân làm 5 nhóm, trong đó, khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 thì được coi là nợ xấu. Tiêu chí để xác định 1 khoản nợ thuộc nhóm nào được quy định rất cụ thể tại Quyết định này.

Để đảm bảo quá trình phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng được chặt chẽ và tiến gần hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế, NHNN đang hoàn thiện dự thảo thông tư mới thay thế các Quyết định nêu trên.

3.2. Về tiêu chuẩn, cơ sở cơ cấu lại ngân hàng và lợi ích nhóm:

Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn Luật1 đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho việc cơ cấu lại TCTD yếu kém thông qua kiểm soát đặc biệt, sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc khi cần thiết. Trong đó, các điều kiện, thủ tục, quyền và trách nhiệm của các bên có liên quan trong việc xử lý TCTD đã được quy định rõ ràng, cụ thể.

Với mục tiêu cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các TCTD để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các TCTD đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả, vững chắc, trên cơ sở quán triệt nghiêm túc Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, và chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã xây dựng, trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ”Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”. Trong đó, Bộ Chính trị và Chính phủ thống nhất quan điểm tái cơ cấu các TCTD như sau:

- Không áp dụng giải pháp phá sản tổ chức tín dụng theo quy định của Luật Phá sản trong giai đoạn hiện nay để bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

- Khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống, một số tổ chức tín dụng có mức độ rủi ro, nguy cơ mất an toàn cao sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị của các tổ chức tín dụng theo các hình thức, biện pháp và lộ trình thích hợp. Hình thức và biện pháp cơ cấu lại tổ chức tín dụng được áp dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng tổ chức tín dụng.

- Quá trình chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất và chi phí của ngân sách nhà nước cho xử lý những vấn đề của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Thực hiện lộ trình tái cơ cấu đã được phê duyệt, từ cuối năm 2011 đến nay, NHNN ưu tiên tập trung đánh giá, xác định thực trạng hoạt động của các TCTD; xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại các TCTD, trong đó ưu tiên cơ cấu lại các NHTM cổ phần yếu kém, ngân hàng có nguy cơ mất an toàn hoạt động và bảo đảm an toàn thanh khoản của các ngân hàng. Qua công tác giám sát từ xa và đánh giá thực trạng hoạt động của các ngân hàng, NHNN đã xác định được những ngân hàng yếu kém, tiềm ẩn rủi ro mất an toàn hoạt động và tiến hành thanh tra toàn diện, đồng thời yêu cầu kiểm toán độc lập đối với các ngân hàng này để đánh giá đúng thực trạng và có cơ sở triển khai các biện pháp cơ cấu lại. Căn cứ kết quả thanh tra, giám sát và kiểm toán độc lập, NHNN đã yêu cầu các NHTM xây dựng phương án cơ cấu lại thích hợp, trình NHNN báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi phê duyệt, triển khai nhằm đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực an toàn hoạt động ngân hàng được pháp luật quy định. Thực hiện chỉ đạo của NHNN, vừa qua, một số NHTM cổ phần yếu kém đã xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt theo hướng tự chấn chỉnh củng cố, sáp nhập, hợp nhất hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện. NHNN chưa phải áp dụng biện pháp can thiệp trực tiếp thông qua việc đặt TCTD vào diện kiểm soát đặc biệt; sáp nhập, hợp nhất, mua lại bắt buộc.

NHNN khẳng định, không có bất cứ lợi ích nhóm nào trong việc cơ cấu lại NHTM. Quá trình cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém được tiến hành một cách công khai, minh bạch và đúng pháp luật. Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã thành lập Ban chỉ đạo cơ cấu lại đối với từng NHTM cổ phần yếu kém với sự tham gia của đại diện các Bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương nơi ngân hàng đặt trụ sở chính.

4. Về ảnh hưởng của nợ xấu và phương án xử lý với tình huống xấu nhất:

Nợ xấu lớn và có chiều hướng tăng nhanh trong hệ thống các tổ chức tín dụng có tác động tiêu cực đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng, cụ thể:

- Nợ xấu lớn làm giảm khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng. Do không thu hồi được các khoản nợ, tổ chức tín dụng thiếu nguồn thu để chi trả các khoản tiền gửi và nghĩa vụ nợ đến hạn. Ở một số tổ chức tín dụng yếu kém, nợ xấu là nguyên nhân chủ yếu gây mất khả năng chi trả và an toàn hoạt động. Vì vậy, từ cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã tích cực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ để cải thiện thanh khoản của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và khẩn trương tiến hành cơ cấu lại 9 ngân hàng yếu kém để đảm bảo giữ vững ổn định, an toàn hệ thống ngân hàng.

- Nợ xấu lớn, tăng nhanh dẫn đến các chi phí dự phòng rủi ro phải trích lập lớn làm tăng chi phí hoạt động và giảm hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Vì vậy, tổ chức tín dụng có xu hướng giảm lãi suất cho vay chậm hơn lãi suất huy động. Một bộ phận tổ chức tín dụng có nợ xấu lớn đã đẩy mạnh huy động vốn trên thị trường làm chậm quá trình giảm lãi suất trong thời gian qua.

- Nợ xấu lớn gắn liền với giảm/thiếu thanh khoản cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế khả năng cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho nền kinh tế. Khách hàng có nợ xấu, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng cũng gặp khó khăn hơn trong việc vay mới tại tổ chức tín dụng. Do đó, dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng từ đầu năm 2012 đến nay tăng trưởng chậm.

Do đó, xử lý nợ xấu và nâng cao chất lượng tín dụng là một trong những nội dung quan trọng của chương trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD trong giai đoạn 2011-2015. Để xử lý nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng, NHNN đã và đang phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ 03 nhóm giải pháp: (1) Giải pháp về cơ chế, chính sách của NHNN; (2) Giải pháp xử lý của các TCTD; (3) Các giải pháp hỗ trợ từ Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương. Trong đó, NHNN đã xây dựng phương án xử lý trong trường hợp hệ thống ngân hàng bị rút tiền hàng loạt, khủng hoảng hệ thống.

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nên thời gian qua tốc độ tăng nợ xấu đã giảm dần (Quý I/2012 tăng 7-9%/tháng nhưng Quý II/2012 chỉ tăng 3-4%/tháng). Bên cạnh đó, nhờ tích cực hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD và điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt nên thanh khoản của các TCTD, kể cả các NHTMCP yếu kém đã được cải thiện hơn và nguy cơ đổ vỡ hệ thống bị đẩy lùi. Nếu nền kinh tế phục hồi nhanh thì khả năng xảy ra đổ vỡ hệ thống ngân hàng là rất thấp.

5. Về tình trạng nợ xấu của các NHTM Nhà nước:

Theo báo cáo của các NHTM Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 05 NHTM Nhà nước đến ngày 30/9/2012 chiếm 3,88%, trong đó:

+ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là 2,21%;

+ Ngân hàng TMCP Đầu tư Việt Nam là 2,41%;

+ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là 2,55%;

+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là 7,22%;

+ Ngân hàng Nhà đồng bằng sông Cửu Long là 3,1%;

Tuy nhiên, theo kết quả giám sát của NHNN, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 5 NHTM nhà nước đến ngày 30/9/2012 ước tính khoảng 10%. Nhưng về cơ bản, các NHTM nhà nước hoạt động khá lành mạnh, kinh doanh có lãi và đáp ứng được hầu hết các chuẩn mực an toàn, trừ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chưa đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tỷ lệ khả năng chi trả 07 ngày.

Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Phi Thường. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.

1 Thông tư số 08/2010/TT-NHNN về kiểm soát đặc biệt đối với TCTD, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN quy định về hợp nhất, sáp nhập và mua lại TCTD, Thông tư số 06/2012/TT-NHNN về cho vay đặc biệt đối với TCTD, Nghị định số 141/2006/NĐ-CP quy định danh mục mức vốn điều lệ của các TCTD và các quy định an toàn hoạt động ngân hàng,…

  • aA
  • Categories:
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
OTHER NEWS
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Lã Thanh Tân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hoàng Bảo Trân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Quân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Huân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/01/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Bùi Xuân Thống gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/10/2026
Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hưng Yên gửi tới sau Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/08/2026
Showing 1 to 10 of 170
  • 1
  • 2
  • 3
  • 17
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready