Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Bé - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang.
Câu hỏi:
Chính sách Nhà nước có quy định đối với các ngân hàng tín dụng cho dân vay trong đầu tư sản xuất nông nghiệp, các đầu tư phúc lợi xã hội khác. Tuy nhiên, không có quy định nào ràng buộc đối với các ngân hàng tín dụng, cho nên dẫn đến việc ngân hàng tín dụng chỉ chọn những nội dung cho vay có lợi cho mình thì làm, còn lĩnh vực nào thấy không lợi nhuận cao thì không làm. Từ đó làm cho hiệu lực, hiệu quả của chính sách không cao. Thông đốc có nhận thấy điều lỏng lẻo trong quy định trên? Để tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận vốn trong sản xuất nông nghiệp, đầu tư xây dựng nông thôn mới, Thống đốc nên có giải pháp gì chỉ đạo điều chỉnh những bất cập nêu trên.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé như sau:
Hiện nay, đối với các lĩnh vực được ưu tiên, hỗ trợ như nông nghiệp, nông thôn, Nhà nước có những chính sách riêng, phù hợp với đặc thù của đối tượng này, một số chính sách cụ thể như sau:
- Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Thông tư 14/2010/TT-NHNN ngày 14/06/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
- Thông tư 20/2012/TT-NHNN ngày 08/6/2012 của Ngân hàng Nhà nước về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 14/2012/TT-NHNN ngày 04/5/2012 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế (trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn) là 13%/năm;
- Nghị định 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác;
- Công văn số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với chăn nuôi, thủy sản và công văn số 5294/NHNN-TD ngày 20/9/2012 của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay phục vụ chăn nuôi, chế biến biến thịt lợn, gia cầm và cá tra;
Ngoài ra, để hỗ trợ người sản xuất, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách liên quan, như: (i) Áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức thấp đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cao; (ii) Dành lượng tiền cung ứng hàng năm để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với sự ưu tiên về thời hạn và nguồn vốn cho vay; (iii) Chỉ đạo các tổ chức tín dụng đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay, nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay và không trái với quy định của pháp luật, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, áp dụng nhiều phương thức cho vay và mở rộng cho vay đối với hộ nông dân không phải thế chấp tài sản theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010; (iv) Chỉ đạo tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay chương trình xây dựng nông thôn mới, nhất là cho vay đối với nhu cầu nâng cao quá trình cơ giới hoá và áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn.
Thực hiện chủ trương của Nhà nước và của Ngân hàng Nhà nước, nhiều ngân hàng thương mại đã tập trung vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, điển hình như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 68,3% tổng dư nợ; Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long đạt 66,98%; Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương đạt 62,02%; Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Mê Kông đạt 46,24%.
Ngoài ra, nhiều tổ chức tín dụng đã thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo tại nhiều địa phương xây dựng nông thôn mới trên toàn quốc, trong đó tập trung vào việc xây dựng nhà ở, xóa nhà tạm, xây dựng trường học, cầu giao thông nông thôn, hỗ trợ về y tế, nước sinh hoạt và các nhu cầu cấp thiết khác phục vụ đời sống sinh hoạt cho đồng bào nhân dân. Các tổ chức tín dụng đã tích cực đăng ký hỗ trợ đối với các địa phương; đến tháng 8/2012 đã có 49 tổ chức tín dụng đăng ký tham gia hỗ trợ cho 46 tỉnh, 31 huyện và 125 xã xây dựng nông thôn mới.
Thực tế cho thấy, tăng trưởng tín dụng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng dần qua từng năm1, riêng năm 2012, mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn song dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn 9 tháng đầu năm vẫn đạt 525.383,5 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cuối năm 2011, gấp đôi mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế và chiếm khoảng 18% so với tổng dư nợ của nền kinh tế; Dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách đạt 108.925 tỷ đồng, tăng 5% so với cuối năm 2011. Tăng trưởng tín dụng đối với một số ngành nghề trọng điểm cũng đạt được thành tựu đáng kể2.
Trong thời gian tới, để tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận vốn trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện một số giải pháp: (i) Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; (ii) Tiếp tục thông qua các công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo định hướng của Chính phủ như áp dụng dự trữ bắt buộc thấp hơn, hỗ trợ nguồn vốn đối với các tổ chức tín dụng cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; (iii) Phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành liên quan đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP để xem xét trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, trong đó có vấn đề hỗ trợ tài chính đối với các ngân hàng thương mại để xử lý rủi ro phát sinh khi thực hiện cho vay các chương trình nông nghiệp, nông thôn và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ đạo của Chính phủ; (iv) Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu thẩm định và mở rộng cho vay không có bảo đảm trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính, hiệu quả dự án, mức độ tín nhiệm và chiều hướng phát triển của khách hàng vay; (v) Khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng triển khai gói sản phẩm tín dụng liên kết, như cho vay doanh nghiệp chế biến nhưng để trả tiền cho người bán nguyên liệu; cho vay người sản xuất để trả cho người cung cấp thức ăn…
Về nguyên tắc, các đối tượng khách hàng được vay vốn chính sách phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định và do tổ chức tín dụng xem xét quyết định. Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý khác (Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước,…) có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách của các tổ chức tín dụng được giao thực hiện.
Ngân hàng Nhà nước mong Đại biểu quan tâm và qua tiếp xúc cử tri phản ánh cho Ngân hàng Nhà nước biết cụ thể những tổ chức tín dụng đã không thực hiện đúng các chính sách nêu trên của Nhà nước hoặc các đối tượng khách hàng đủ điều kiện được hưởng các chính sách của Nhà nước nhưng không được tổ chức tín dụng cho vay để Ngân hàng Nhà nước xem xét xử lý.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Bé. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.