a) Tên Đề tài: Tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách an toàn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam - Mã số: ĐTNH.008/17
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS.Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng, Vụ IV, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, NHNN
- Thư ký: Ths.Vũ Thiết Hoàng
- Các thành viên tham gia: TS. Nguyễn Tú Anh; TS. Phan Hữu Việt; TS. Bùi Văn Hải; Ths. Nguyễn Xuân Hiệp; Ths. Nguyễn Hoài Nam; Ths. Tô Thị Hồng Anh; Ths. Nguyễn Hải Ninh; CN. Đinh Thị Thủy.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu mục tiêu, các công cụ, mối quan hệ và cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (CSATNH) để tham mưu về phối hợp giữa hai chính sách.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 12/2017.
- Thời gian kết thúc: Tháng 01/2019.
e) Kinh phí thực hiện: 247,69 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm nghiên cứu mục tiêu, các công cụ, mối quan hệ và cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (CSATNH) để tham mưu về phối hợp giữa chính sách, đề tài ĐTNH.008/17 đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận về sự phối hợp giữa CSTT với CSATNH, bao gồm: Các vấn đề cơ bản về CSATNH và CSTT như mục tiêu, khuôn khổ, các công cụ thực hiện; Sự cần thiết, mục tiêu của việc phối hợp giữa CSTT với CSATNH. Nghiên cứu tại chương 1 đưa ra một số lý giải sự cần thiết phải có sự phối hợp giữa chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và CSTT nói riêng với CSATNH như: Do quá trình thực thi chính sách tiền tệ luôn có những tác động lên sự ổn định của hệ thống ngân hàng; Do nhiệm vụ giám sát tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng thường được giao cho nhiều cơ quan phụ trách khác nhau, trong khi tính tương tác giữa các khu vực trong hệ thống tài chính lại rất chặt chẽ; Do các công cụ giám sát ngân hàng thường được chia sẻ hoặc thậm chí được sử dụng chung giữa các cơ quan thực thi chính sách tiền tệ và giám sát tài chính; Do trong một số cơ quan thực thi chính sách tiền tệ trên thế giới có chức năng giám sát an toàn vĩ mô, trong khi giám sát an toàn vĩ mô và giám sát an toàn vi mô lại có sự giao thoa lẫn nhau, nên sự phối hợp sẽ giúp tăng tính hiệu quả của các mô thức giám sát; Do giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ và mục tiêu ổn định và an toàn ngân hàng không phải lúc nào cũng tương thích, thậm chí trong nhiều trường hợp lại có sự xung đột, chính vì vậy, một sự phối hợp hiệu quả sẽ giúp tìm thấy điểm cân bằng giữa các mục tiêu chính sách. Những lý do trên đã đặt ra yêu cầu phải có sự phối hợp giữa các đơn vị thực thi CSTT và CSATNH.
Chương 2 của đề tài nghiên cứu về thực trạng về sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách an toàn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Nghiên cứu tại chương 2 cho thấy từ năm 2008 đến nay do suy giảm kinh tế thế giới và ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng cũng có sự thay đổi phù hợp, tương tác và phối hợp với nhau để thực hiện mục tiêu chung là đảm bảo ổn định, an toàn hệ thống các TCTD nói chung và TCTD nói riêng. Trong từng thời kỳ, để phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô, chính sách an toàn hoạt động ngân hàng đều có sự thay đổi, chỉnh sửa, bổ sung phù hợp. Việc ban hành, chỉnh sửa, bổ sung không làm mất đi mục tiêu của chính sách an toàn hoạt động ngân hàng mà còn bổ sung, hỗ trợ chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Quá trình phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng trong giai đoạn vừa qua chưa cho thấy sự xung đột lớn về mặt lợi ích cũng như mục tiêu của mỗi chính sách. Tuy vậy, phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng trong thời gian qua cho thấy vẫn còn những tồn tại và hạn chế về vai trò, nhiệm vụ của các đơn vị trong cơ chế phối hợp; Về tăng cường vai trò của giám sát an toàn vĩ mô; Về tính vị thế của Cơ quan TTGSNH; về độ trễ trong phối hợp, ban hành quy định; về cơ chế chia sẻ thông tin, phối hợp đột xuất; về tính dự báo và xác định chính xác các kênh truyền dẫn; về việc thiếu cơ chế hội đồng, phản biện và cơ chế xử lý những vấn đề xung đột về mục tiêu giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn.
Tại Chương III, nhóm nghiên cứu sử dụng các mô hình định lượng để phân tích, đánh giá tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng đến nền kinh tế, hệ thống các TCTD và sự tương tác, phối hợp giữa hai chính sách. Kết quả phân tích định lượng tại chương 3 cho phép nhóm tác giả đưa ra một số kết luận sau:
(i) việc NHNN ban hành quy định về an toàn hoạt động ngân hàng (Thông tư 13/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ 01/10/2010 và Thông tư 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ 01/2/2015) trong giai đoạn 2011-2017 có tác động đến hoạt động an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các TCTD nói chung và từng TCTD nói riêng.
(ii) Về tác động của CSTT đến nền kinh tế và hệ thống các TCTD, kết quả phân tích định lượng cho thấy:
- Cung tiền M2 có xu hướng tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn.
- Chỉ số CPI tương đối nhạy cảm và phản ứng trước động thái thắt chặt chính sách tiền tệ, cụ thể là việc tăng lãi suất có tác động mạnh đến chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số CPI có xu hướng giảm mạnh khi NHNN tăng lãi suất VND với độ trễ khoảng 3 tháng.
- Sự biến động của thị trường tiền tệ, ngoại hối phụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu thông.
- Hệ thống các TCTD tương đối nhạy cảm và chịu tác động rất lớn bởi các cú shock bên ngoài nền kinh tế, đặc biệt là sự biến động của giá cả hàng hóa thế giới cũng như các động thái điều hành chính sách tiền tệ của FED.
- Trước các cú shock về tăng trưởng kinh tế, cụ thể là nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng nóng “overheating”, chỉ số CPI có xu hướng tăng nhanh và liên tục trong khoảng thời gian 5 - 10 tháng.
(iii) tồn tại mối quan hệ, tương tác giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, mối quan hệ này được thể hiện ở mối quan hệ một chiều từ góc độ phối hợp của chính sách an toàn hoạt động ngân hàng.
Chương 4 của đề tài phân tích bối cảnh kinh tế, tài chính trong nước và quốc tế, phân tích các quan điểm chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ về kinh tế vĩ mô và hoạt động ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, bao gồm: Các giải pháp chung về chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng; Các giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng. Trong đó, đối với nội dung phối hợp chính sách, nhóm nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh đến các nội dung về thiết lập cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin, cơ chế tham vấn, nâng cao chất lượng công tác phân tích, cảnh báo sớm rủi ro kinh tế vĩ mô, an toàn hoạt động ngân hàng.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi./.