1
Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trân trọng cảm ơn của Đại biểu Trần Trí Quang, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực đối với những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Về ý kiến chất vấn của Đại biểu nêu tại phiếu chất vấn số 114/GS-PCCV, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước báo cáo Đại biểu Quốc hội như sau:
1. Những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 42
* Nghị quyết 42 đã tạo cơ chế xử lý đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) các khoản nợ xấu của TCTD. Trong 03 năm kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, toàn ngành Ngân hàng đã triển khai nghiêm túc, nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu đúng mục tiêu, định hướng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Về cơ bản, các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố có liên quan đã tham gia giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Nghị quyết 42 của các TCTD.
Thời gian qua, Nghị quyết 42 đã được triển khai thực hiện trong bối cảnh có nhiều thuận lợi như sau:
- Cơ bản đã khắc phục được các tồn tại, hạn chế trong công tác xử lý nợ xấu; khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu đã tương đối đồng bộ giúp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, bảo đảm các TCTD tiếp tục phát huy tốt vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo, đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.
- Nghị quyết 42 tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và những bài học kinh nghiệm từ thực tế triển khai xử lý nợ xấu của giai đoạn trước, tập trung vào việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về tiền tệ ngân hàng và xử lý nợ xấu, tăng cường quy mô, nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, kiểm soát rủi ro của các TCTD...
- Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 42 nhận được sự quan tâm đặc biệt của Quốc hội, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự chủ động vào cuộc của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (UBND tỉnh, thành phố). Trong đó, các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố đã chủ động ban hành chương trình/kế hoạch hành động, tập trung triển khai Nghị quyết 42 theo lộ trình cụ thể bảo đảm tính khả thi, kịp thời; từ đó hỗ trợ các TCTD trong quá trình thu giữ, xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu.
- Công ty TNHH 1 thành viên Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) đã được bổ sung vốn điều lệ để tăng cường năng lực tài chính, tiếp tục thực hiện chức năng là công cụ đặc biệt, hỗ trợ các TCTD trong việc tiếp tục cấp tín dụng bình thường cho các doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế và tạo điều kiện để các TCTD có thời gian phân bổ chi phí xử lý nợ xấu. Đồng thời, VAMC đã phối hợp cùng với các TCTD quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về xử lý nợ xấu, triển khai mua nợ theo giá trị thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai Nghị quyết số 42 trên thực tế.
- Các TCTD cũng đã chủ động, trách nhiệm và có ý thức hơn trong việc nâng cao chất lượng tín dụng, kiềm chế tối đa nợ xấu mới phát sinh; tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 42 trong toàn hệ thống; đẩy mạnh truyền thông để khách hàng đang có nợ xấu hiểu rõ quyền lợi hợp pháp của TCTD cũng như trách nhiệm trả nợ của mình.
* Tuy nhiên, quá trình triển khai Nghị quyết 42 còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như sau:
- Về bán nợ xấu và TSBĐ theo giá trị thị trường, phát triển thị trường mua bán nợ:
(i) Việc mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa TCTD và 02 đơn vị mua nợ chính là VAMC và Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC), thiếu những nhà đầu tư khác trong nước và nước ngoài do điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ khá phức tạp, yêu cầu về vốn cao; Nghị định 69/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ chưa quy định rõ đầu mối tạo lập, phát triển thị trường giao dịch mua bán nợ; Đội ngũ môi giới mua, bán nợ chuyên nghiệp còn thiếu.
(ii) Thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ: Sau khi mua các khoản nợ, do chưa có thị trường nợ thứ cấp, chưa có các nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản, chứng khoán hóa khoản nợ, dẫn đến thanh khoản của các khoản nợ rất thấp, làm giảm mức độ hấp dẫn của các khoản nợ đã mua.
(iii) Các tổ chức thẩm định giá chưa có sự thống nhất trong việc vận dụng Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam khi thẩm định giá khoản nợ, gây khó khăn cho các bên trong việc xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua bán nợ.
- Về quyền thu giữ TSBĐ: Điều 7 Nghị quyết 42 cho phép các TCTD có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu, phát đi thông điệp bảo vệ quan hệ có vay - có trả, khẳng định quyền của chủ nợ. Mặc dù Bộ Công an đã có văn bản hướng dẫn về việc hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự trong quá trình thu giữ nhưng trên thực tế, việc thu giữ TSBĐ hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay. Đồng thời, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lý thu hồi nợ xấu.
Ngoài ra, nhiều Hợp đồng bảo đảm ký trước thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực không có nội dung “bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu”. Do đó, khi khách hàng không hợp tác với TCTD trong việc ký văn bản bổ sung nội dung này vào Hợp đồng bảo đảm, TCTD gặp khó khăn khi tiến hành thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết 42.
- Về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ và xử lý TSBĐ: Hội đồng Thẩm phán đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ, tranh chấp về quyền xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu của TCTD. Hiện tại, một số TCTD đã đề nghị áp dụng hình thức rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến TSBĐ và đang được Tòa án các cấp xem xét xử lý; tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có trường hợp nào được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
- Về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế khi chuyển nhượng TSBĐ: Theo quy định tại Nghị quyết 42, số tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm của TCTD trước khi thực hiện nghĩa vụ không có bảo đảm của bên bảo đảm (như nghĩa vụ thuế, án phí). Tuy nhiên, hiện các TCTD vẫn tiếp tục phản ánh về việc phải nộp các khoản thuế trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán nên đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD, nhiều trường hợp số tiền bán TSBĐ không đủ thu hồi nợ cho TCTD nhưng vẫn phải nộp thuế, gây khó khăn cho cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của chủ nợ.
- Về việc phối hợp tổ chức thực hiện Nghị quyết 42 của các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố có liên quan còn nhiều hạn chế như: (i) Tại một số địa phương còn chưa quyết liệt, thiếu đồng bộ, xem đây là lĩnh vực riêng của ngành Ngân hàng nên còn vướng mắc trong phối hợp xử lý. Công tác thu giữ TSBĐ còn nhiều khó khăn, bất cập do các cấp cơ sở chưa được tập huấn về Nghị quyết 42; (ii) Mặc dù đã có Quy chế phối hợp số 01/QCLN/NHNNVN-BTP ngày 18/3/2015 giữa NHNN và Bộ Tư pháp về hoạt động thi hành án dân sự và Bộ Tư pháp cũng thường xuyên chỉ đạo, triển khai kịp thời công tác phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự, tuy nhiên tại một số địa phương, việc thi hành án liên quan đến hoạt động ngân hàng còn chưa thật sự hiệu quả, việc kê biên, bán đấu giá, cưỡng chế bàn giao tài sản cho người mua đấu giá thành công còn chậm, nhiều vụ việc kéo dài. Nhiều vụ việc thi hành án còn tồn đọng thời gian dài, phát sinh nhiều chi phí cho đơn vị xử lý nợ.
- Ngoài ra, quá trình triển khai Nghị quyết 42 cũng gặp phải khó khăn, vướng mắc về: (i) cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng TSBĐ; (ii) đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là TCBĐ của khoản nợ xấu; (iii) điều kiện chuyển nhượng TSBĐ là dự án bất động sản; (iv) hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự; (v) giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá...
2. Đối với nội dung dư luận cho rằng các khoản nợ xấu cũ thì có giảm nhưng nợ xấu mới khác lại phát sinh thêm. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục?
Những giải pháp xử lý nợ xấu quyết liệt, đồng bộ của ngành Ngân hàng trong thời gian qua đã góp phần khắc phục nợ xấu của các khoản vay cũ và kiểm soát nợ xấu phát sinh mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế không thuận lợi, những tháng gần đây, nợ xấu mới phát sinh tăng nhiều hơn, dẫn tới tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống có xu hướng tăng so với cuối năm 2019, cụ thể: Đến cuối tháng 9/2020, tổng nợ xấu nội bảng toàn hệ thống là 215,6 nghìn tỷ đồng, tăng 59,74 nghìn tỷ đồng (tương ứng 38,33%) so với cuối năm 2019 (riêng trong tháng 9/2020, nợ xấu tăng 16,4 nghìn tỷ đồng (tương ứng 8,2%) so với cuối tháng 8/2020). Tỷ lệ nợ xấu nội bảng cuối tháng 9/2020 ở mức 2,14% (tăng so với tỷ lệ 2,01% tại thời điểm cuối tháng 8/2020 và 1,63% tại thời điểm cuối năm 2019).
* Nguyên nhân của thực trạng này như sau:
- Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, khả năng trả nợ của khách hàng vay suy giảm, tiềm ẩn gia tăng nợ xấu tại các TCTD. Trong trường hợp dịch bệnh Covid-19 trên thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường gây tác động tiêu cực đến thu nhập của các cá nhân, hộ gia đình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nợ xấu của các TCTD có khả năng tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới.
- Việc thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, TSBĐ của các khoản nợ xấu còn hạn chế do chưa có thị trường mua bán nợ thật sự chuyên nghiệp dẫn đến việc mua bán nợ xấu chưa thật sự sôi động, các thương vụ lớn chưa phát sinh nhiều. Bên cạnh đó, việc xử lý TSBĐ của các khoản nợ xấu còn nhiều bất cập nên dự phòng rủi ro vẫn là nguồn chủ yếu để xử lý nợ xấu.
- Trong quá trình triển khai quy định liên quan đến xử lý nợ xấu có một số khó khăn vướng mắc về khuôn khổ pháp lý như: Hành lang pháp lý cho hoạt động xử lý nợ xấu đã hình thành nhưng được quy định rải rác tại nhiều văn bản và chưa có Luật xử lý nợ xấu; việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ theo quy định tại Nghị quyết 42; việc nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản và xử lý TSBĐ còn chưa được áp dụng hoặc phát huy hiệu quả trong trong thực tiễn.
- Một số cơ quan chức năng chưa mạnh dạn, quyết liệt trong việc áp dụng các chính sách xử lý nợ xấu, xử lý TSBĐ quy định tại Nghị quyết 42; chưa thực sự hiểu rõ ý nghĩa, tác dụng, quyền và nghĩa vụ liên quan của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện Nghị quyết 42.
- Quá trình xử lý nợ xấu tại một số TCTD gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi nợ và xử lý TSBĐ, đặc biệt là đối với các ngân hàng mua bắt buộc do phần lớn TSBĐ của các khoản nợ xấu là bất động sản, TSBĐ bị kê biên chủ yếu liên quan đến các vụ án với hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh nên thời gian xử lý kéo dài. Bên cạnh đó, giá trị của TSBĐ thường lớn nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc thẩm định và đấu giá khi thực hiện xử lý nợ xấu, TSBĐ của các khoản nợ xấu.
3. Tình hình khắc phục trong xử lý nợ xấu tại một số ngân hàng hoạt động yếu kém thuộc diện giám sát đặc biệt
Đối với những ngân hàng hoạt động yếu kém, trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, theo thẩm quyền và trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, NHNN đã tích cực chỉ đạo các ngân hàng triển khai quyết liệt việc sắp xếp lại mạng lưới hoạt động, tiết giảm chi phí, triển khai các hoạt động kinh doanh an toàn, xử lý nợ xấu... trên nguyên tắc quyết liệt, thận trọng, chặt chẽ, bảo đảm hiệu quả kinh tế, an toàn hệ thống ngân hàng. NHNN cũng có nhiều văn bản chỉ đạo về hoạt động, bảo đảm các ngân hàng triển khai các hoạt động kinh doanh trong giới hạn kiểm soát, tạo nguồn thu, góp phần hạn chế gia tăng lỗ lũy kế, khắc phục nợ xấu cũ và kiềm chế nợ xấu phát sinh mới. Đồng thời, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng này khẩn trương xây dựng, hoàn thiện phương án cơ cấu lại/phương án phục hồi, lấy ý kiến của các Bộ, ngành, cơ quan liên quan và báo cáo cấp có thẩm quyền về phương án/định hướng xử lý theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, thực tế quá trình cơ cấu lại nói chung và quá trình xử lý nợ xấu nói riêng của các ngân hàng này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như:
- Việc xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản không sinh lời cũng như khắc phục lỗ luỹ kế của các ngân hàng hoạt động yếu kém, đòi hỏi phải có cơ chế phân bổ tổn thất, giảm nhẹ gánh nặng tài chính bằng chính sách tài chính phù hợp để TCTD hấp thụ dần tổn thất, vượt qua được khó khăn tài chính.
- Phần lớn TSBĐ của các khoản nợ xấu của các ngân hàng hoạt động yếu kém là bất động sản, TSBĐ bị kê biên chủ yếu liên quan đến các vụ án với hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh nên thời gian xử lý kéo dài. Bên cạnh đó, giá trị của TSBĐ thường lớn nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc thẩm định và đấu giá khi thực hiện xử lý nợ xấu, TSBĐ của các khoản nợ xấu.
- Với thực trạng tài chính hiện nay của các ngân hàng hoạt động yếu kém, việc tìm kiếm nhà đầu tư có năng lực tài chính và năng lực quản trị tham gia xử lý, cơ cấu lại các ngân hàng này gặp rất nhiều khó khăn.
4. Giải pháp triển khai trong thời gian tới
Nhằm góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu, NHNN dự kiến đẩy mạnh triển khai các giải pháp tới như sau:
- Tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu tại Đề án 1058 và Nghị quyết 42. Nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2021-2025 nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD và Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo.
- Chỉ đạo các TCTD tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; thường xuyên rà soát chất lượng tín dụng, tăng cường xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định nhằm kiểm soát và hạn chế nợ xấu mới phát sinh.
- Chỉ đạo các TCTD xây dựng/điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chỉ tiêu lợi nhuận phù hợp với các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô và diễn biến dịch Covid-19; bảo đảm năng lực tài chính, khả năng thanh khoản, hạn chế chia cổ tức bằng tiền mặt, tăng cường tiết giảm chi phí hoạt động để dành nguồn vốn hỗ trợ khách hàng, doanh nghiệp trong thời gian khó khăn do dịch Covid-19.
- Hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền phương án cơ cấu lại ngân hàng mua bắt buộc, các TCTD yếu kém; nâng cao hiệu quả trong việc triển khai phương án sau khi được phê duyệt để ngăn ngừa rủi ro phát sinh ảnh hưởng đến an ninh, tiền tệ tín dụng. Tăng cường tìm kiếm đối tác để chuyển nhượng các ngân hàng mua bắt buộc khi có đủ điều kiện.
- Chỉ đạo TCTD tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng; Phối hợp với các Bộ, ngành rà soát hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan, nhất là về việc thi hành án, xử lý và thu hồi TSBĐ, thúc đẩy xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trần Trí Quang. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.
Trân trọng cảm ơn Đại biểu./.