a) Tên Đề tài: Thao túng lợi nhuận công bố của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam - một số khuyến nghị
Mã số: ĐTNH.014/19
b) Tổ chức chủ trì: Học viện Ngân hàng
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS. Đào Nam Giang – Phó Trưởng Khoa Kế toán – kiểm toán, Học viện Ngân hàng.
- Thư ký: TS. Nguyễn Thị Lê Thanh - Trưởng Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế toán – kiểm toán, Học viện Ngân hàng
- Thành viên tham gia:
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Tổng hợp các vấn đề lý luận cơ bản về thao túng lợi nhuận kế toán và tổng quan nghiên cứu liên quan;
- Khảo sát kinh nghiệm quốc tế, xây dựng phương pháp đo lường mức độ thao túng lợi nhuận;
- Hệ thống hóa khung pháp lý liên quan đến kế toán kiểm toán và quản trị công ty đối với các công ty niêm yết Việt Nam, nghiên cứu thực nghiệm về thao túng lợi nhuận kế toán;
- Phân tích kết quản nghiên cứu và đề xuất khuyến nghị chính sách.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 12/2019.
- Thời gian kết thúc: Tháng 9/2021
e) Kinh phí thực hiện: 165 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu phân tích thực nghiệm về hoạt động thao túng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để đề xuất các giải pháp hạn chế các hoạt động này, đề tài ĐTNH.014/19 hướng đến việc phân tích mức độ thao túng lợi nhuận công bố của các công ty niêm yết ở Việt Nam, xem xét tác động của việc sửa đổi chế độ kế toán doanh nghiệp và khung pháp lý chung về kế toán - kiểm toán đến chất lượng thông tin làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị cho cơ quan quản lý, các nhà đầu tư cũng như các bên có liên quan. Để giải quyết mục tiêu này, nhóm nghiên cứu đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể sau:
Tại Chương 1, nhóm nghiên cứu phân tích cơ sở lý thuyết về thao túng lợi nhuận công bố, phân tích một số nghiên cứu thực chứng về thao túng lợi nhuận và các cách tiếp cận để đo lường, phân tích một số mô hình phổ biến đánh giá chất lượng các biến kế toán dồn tích và mô hình đánh giá thao túng lợi nhuận dựa trên giả định về các động cơ thao túng. Chương 1 cũng phân tích tổng quan nghiên cứu liên quan để xác định khoảng trống nghiên cứu, qua đó đề xuất hướng triển khai nghiên cứu của đề tài cụ thể như sau:
- Tiếp cận để có nhìn đa chiều và khách quan về thao túng lợi nhuận của các công ty niêm yết; hiểu rõ hơn về các mục tiêu hay hiện tượng thao túng phổ biến.
- So sánh với các nước trong khu vực để có đánh giá về mức độ thao túng lợi nhuận kế toán công bố;
- So sánh mức độ thao túng lợi nhuận công bố giữa giai đoạn 2011-2014 và 2017-2019 để đánh giá tác động của Luật kế toán và chế độ kế toán mới cũng như những cải tiến trong khung pháp lý chung về kế toán – kiểm toán.
- Phân tích một số tình huống điển hình về cách thức, mục tiêu và dấu hiệu để làm rõ hơn về cách thức thao túng trên thực tế và minh chứng cho các kết luận rút ra từ phân tích các đặc điểm dữ liệu số lớn bằng các phương pháp thống kê.
Chương 1 cũng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hạn chế thao túng lợi nhuận báo cáo để đưa ra một số khuyến nghị đối với Ủy ban Chứng khoán và cơ quan quản lý liên quan.
Chương 2 của đề tài trình bày về phương pháp nghiên cứu. Theo đó, đề tài sử dụng kết hợp một số nhóm nhân tố để đo lường mức độ thao túng của lợi nhuận; khảo sát và xem xét các hiện tượng tương ứng ở các công ty niêm yết của Malaysia và Singapore; kiểm định tác động của những thay đổi trong khung pháp lý về kế toán và kiểm toán diễn ra trong giai đoạn 2015-2016 đến mức độ thao túng lợi nhuận. Qua đó, đánh giá mức độ thao túng lợi nhuận trên 4 khía cạnh, gồm: chất lượng biến kế toán dồn tích, thao túng lợi nhuận để đạt mục tiêu (tránh báo cáo lỗ, tránh sự sụt giảm của lợi nhuận), thao túng số liệu để ổn định lợi nhuận, các tình huống gian lận điển hình. Chương 2 cũng mô tả về phương pháp thu thập, phân tích dữ liệu và mẫu nghiên cứu.
Tại Chương 3, nhóm nghiên cứu khái quát về sự phát triển của khung pháp lý liên quan đến kế toán kiểm toán và quản trị công ty đối với các công ty niêm yết Việt Nam và đánh giá mức độ thao túng lợi nhuận trên 4 khía cạnh nêu tại chương 2. Cụ thể, qua phân tích một số tình huống điển hình, nhóm tác giả nhận thấy các vấn đề phần lớn liên quan đến động cơ tránh báo cáo lỗ; tránh lợi nhuận báo cáo sụt giảm và để đáp ứng giá trị lợi nhuận kỳ vọng của các nhà phân tích. Ngoài ra còn có động cơ đảm bảo lợi nhuận ổn định và lợi ích của cá nhân nhà quản trị, mối quan hệ với các bên có liên quan. Qua phân tích thực nghiệm về thao túng lợi nhuận ở các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2017-2019 và so sánh với các nước trong khu vực, nhóm tác giả kết luận các công ty niêm yết Việt Nam có mức độ thao túng lợi nhuận cao hơn so với nhóm các công ty của Singaporre và Malaysia. Về thao túng số liệu để tránh báo cáo lỗ và tránh sự giảm sút của lợi nhuận giai đoạn 2017-2019, kết quả thực nghiệm cho thấy mức độ thao túng lợi nhuận ở các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2017-2019 là khá lớn, phổ biến hơn hẳn so với các công ty niêm yết ở Malaysia và Singapore. Kết quả này nhất quán ở cả 3 tiêu chí phân tích là chất lượng các khoản dồn tích, thao túng số liệu để ổn định lợi nhuận và thao túng số liệu để tránh báo cáo lỗ. Về tác động của cải thiện môi trường pháp lý về kế toán - kiểm toán đến thao túng lợi nhuận ở các công ty niêm yết Việt Nam, từ kết quả thực nghiệm, nhóm nghiên cứu cho rằng chưa có bằng chứng thống kê đủ thuyết phục để khẳng định thao túng lợi nhuận kế toán được hạn chế trong giai đoạn 2017-2019 sau các bước đi củng cố và cải thiện hành lang pháp lý kế toán kiểm toán.
Thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra khuyến nghị về mặt chính sách, cụ thể như sau:
- Đối với lĩnh vực kế toán, cần nâng cao tính hiệu lực của khung pháp lý về kế toán và một số lưu ý khi áp dụng IFRS ở Việt Nam;
- Đối với lĩnh vực kiểm toán, các khuyến nghị tập trung vào tăng cường đo lường và kiểm soát chất lượng kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp, nâng cao vai trò của kiểm toán độc lập hướng tới phát huy được vai trò của kiểm toán trong hạn chế thao túng lợi nhuận;
- Đối với củng cố khung pháp lý và vai trò của quản trị công ty, nhóm nghiên cứu đề xuất các văn bản pháp lý ban hành trong tương lai cần lưu ý đến các nhân tố ảnh hưởng tới động cơ thao túng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, về củng cố quản trị công ty, nên áp dụng thông lệ quốc tế về công bố thông tin chi tiết lý lịch của từng thành viên HĐQT (bao gồm tuổi, trình độ đào tạo, chuyên môn, ngày đầu bổ nhiệm, kinh nghiệm phù hợp, và vị trí thành viên HĐQT đang nắm giữ tại các doanh nghiệp niêm yết khác). Qua đó, sẽ giúp cung cấp thêm thông tin đến cổ đông cho việc đánh giá năng lực, mức độ độc lập và thời gian đóng góp của từng thành viên HĐQT./.