1
a) Tên Đề tài: Quỹ bảo toàn hỗ trợ quỹ tín dụng nhân dân: Thực trạng và giải pháp
Mã số: ĐTNH.010/20
b) Tổ chức chủ trì: Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS.Lê Hà Diễm Chi, Giảng viên Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
- Thư ký: ThS. Nguyễn Thị Minh Châu - Giảng viên Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
- Thành viên tham gia:
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Cơ sở lý thuyết về quỹ bảo toàn hỗ trợ quỹ tín dụng
- Thực trạng hoạt động của Quỹ bảo toàn hỗ trợ quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam
- Kiến nghị các quy định liên quan đến hoạt động của Quỹ bảo toàn hỗ trợ quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 9/2020
- Thời gian kết thúc: Tháng 3/2022
e) Kinh phí thực hiện: 210 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu căn cứ lý thuyết, khuôn khổ pháp lý và thực trạng hoạt động của Quỹ bảo toàn hỗ trợ quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ bảo toàn) để đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Quỹ bảo toàn, đề tài ĐTNH.010/20 triển khai các nôi dung nghiên cứu cụ thể sau:
Chương 1 nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý thuyết về quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng Hợp tác xã, Quỹ bảo toàn; phân tích sự khác biệt giữa hoạt động của bảo hiểm tiền gửi (BHTG) và quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân. Chương 1 cũng phân tích kinh nghiệm tổ chức, quản lý mô hình Quỹ bảo toàn tại 07 nước trên thế giới, qua đó rút ra một số bài học cho Việt Nam về sự cần thiết thành lập Quỹ ổn định; Nhiệm vụ của Quỹ ổn định; Cơ quan quản lý, giám sát; Cơ sở xác định phí nộp; Quy mô của Quỹ ổn định; Các cam kết thay đổi của Liên hiệp tín dụng nhận hỗ trợ; Mối tương quan giữa Quỹ ổn định với Quỹ BHTG.
Chương 2 nghiên cứu các vấn đề về quy định pháp lý đối với hoạt động của quỹ bảo toàn; thực trạng hoạt động; thực trạng tình hình thực hiện quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn. Từ kết quả phân tích, nhóm nghiên cứu rút ra một số đánh giá chung về hoạt động của quỹ bảo toàn như:
- Về thành tích, tổng nguồn vốn của Quỹ bảo toàn không ngừng tăng lên trong giai đoạn nghiên cứu; Các hoạt động thu khác như thu lãi và thu từ cho vay tăng dần qua thời gian, góp phần gia tăng quy mô nguồn vốn của Quỹ bảo toàn trong giai đoạn nghiên cứu; Tỷ lệ nguồn vốn Quỹ bảo toàn/tổng tài sản của hệ thống QTDND ngày càng tăng, từ 0,13% năm 2017 lên 0,4% năm 2020; Quỹ bảo toàn đang thực hiện tốt chức năng hỗ trợ các QTDND gặp khó khăn trong hoạt động; Không chỉ cho vay hỗ trợ, Quỹ bảo toàn còn góp phần không nhỏ trong việc tham gia quản lý, hỗ trợ các QTDND vượt qua khó khăn.
- Về hạn chế, nguồn thu phí từ các QTDND tính đến 31/01 hàng năm chưa đầy đủ theo quy định; Với việc giảm mức trích phí, cùng với diễn biến thị trường tồn tại nhiều yếu tố bất lợi như dịch bệnh, cạnh tranh, tổng thu phí của Quỹ bảo toàn qua các năm đang có xu hướng giảm dần; Số lượng các QTDND được hỗ trợ khá ít, chưa phản ánh đúng khả năng hỗ trợ của Quỹ bảo toàn so với nhu cầu cần hỗ trợ của QTDND; Hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn mới chỉ dừng lại ở cho vay giải quyết khó khăn mà chưa có cho vay hỗ trợ phát triển như đầu tư công nghệ, cơ sở hạ tầng … ; Tỷ lệ nguồn vốn Quỹ bảo toàn trên tổng tài sản của hệ thống QTDND 0,4% là khá thấp; Một số QTDND chưa nhận thức rõ vai trò, chức năng của Quỹ bảo toàn trong hệ thống QTDND; Các hoạt động thu, chi của Quỹ bảo toàn còn nhiều điểm chưa thực sự phù hợp với thực trạng hoạt động của các QTDND…
Tại Chương 3, nhóm nghiên cứu đề xuất định hướng quản lý quỹ bảo toàn trong sự phát triển bền vững của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quỹ bảo toàn.