Ngày 30/5/2014 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội thảo với chủ đề “Vai trò của NHNN đối với sự ổn định của hệ thống tài chính”. Các tác giả đã có nhiều bài viết chuyên sâu đóng góp cho hội thảo. Nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo nghiên cứu của Quý bạn đọc, Tổ Biên tập sẽ tập hợp và đăng tải chùm bài viết nổi bật nhất.
Cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế và đặc biệt từ những năm cuối của Thế kỷ 20, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã từng bước được đổi mới và định hướng phát triển phù hợp với quá trình tự do hóa tài chính tại Việt Nam, góp phần quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước trong suốt gần 30 năm. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 và những yếu kém và bất cập của nền kinh tế được bộc lộ trong quá trình hội nhập quốc tế đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển và cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Đề án tái cấu trúc nền kinh tế và cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 là một trong những quyết định chiến lược và đúng đắn để giải quyết những yếu kém và bất cập của nền kinh tế. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với quá trình ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.
1. Vai trò của NHNN trong ổn định kinh tế vĩ mô
Hầu hết các nhà kinh tế đều tin tưởng rằng, ổn định kinh tế vĩ mô là một trong những yêu cầu tiên quyết của tăng trưởng. Mặc dù có tồn tại một số quan điểm cho rằng mối liên hệ giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng là không thực sự rõ nét, các nghiên cứu thống kê chỉ ra rằng một nền kinh tế chỉ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn khi đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô1.
Thật vậy, khi kinh tế tăng trưởng và ổn định thì đời sống người dân mới được nâng cao, làm gia tăng mọi nhu cầu trong đời sống xã hội trong đó có cả nhu cầu tiêu dùng lẫn nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Ổn định kinh tế vĩ mô là một trong những tiêu chí quan trọng2 để đưa ra quyết định đầu tư vì điều đầu tiên mà doanh nghiệp quan tâm khi muốn thâm nhập vào một thị trường mới là môi trường kinh tế vĩ mô.
Để đo lường ổn định kinh tế vĩ mô, người ta thường đề cập đến các biến động ngắn hạn của các biến số kinh tế vĩ mô như GDP, lạm phát, thâm hụt cán cân thanh toán, thâm hụt ngân sách. Theo các tiêu chí của Hiệp ước Maastricht, ổn định kinh tế vĩ mô được đo lường bằng năm biến sau: (i) Lạm phát thấp và ổn định; (ii) Lãi suất dài hạn thấp; (iii) Nợ quốc gia/GDP thấp; (iv) Thâm hụt ngân sách thấp; (v) Ổn định tiền tệ (đảm bảo tỷ giá không biến động quá lớn)3.
Như vậy, để ổn định kinh tế vĩ mô cần phải thực hiện các giải pháp, trong đó 02 giải pháp phải do NHTW thực hiện: (i) Kiềm chế và giữ lạm phát ở mức thấp và ổn định; (ii) Bình ổn thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối.
NHNN với vai trò là cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương, có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT). Bản chất của CSTT là tổng thể các biện pháp chính sách của NHTW tác động làm thay đổi cung tiền và lãi suất, qua đó mà tác động đến tăng trưởng, lạm phát và công ăn việc làm cao, do vậy, chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.
Trong những năm qua, công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bám sát tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Trên cơ sở các nhiệm vụ được xác định tại Nghị quyết số 11, NHNN đã triển khai mạnh mẽ trong công tác điều hành, đảm bảo các chính sách, diễn biến tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước, quốc tế và các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế. Kết quả, lạm phát được kiểm soát, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) được cơ cấu lại và đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế, khu vực sản xuất từng bước khôi phục và tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất hợp lý, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng cao, đáp ứng các nhu cầu về ngoại tệ trong các giao dịch kinh tế. Những nỗ lực đáng chú ý trong công tác điều hành CSTT của NHNN trong thời gian qua được thể hiện thông qua việc xây dựng, ban hành và triển khai các giải pháp cụ thể, như:
- Các giải pháp tiết giảm tình trạng đô la hóa và vàng hóa, ổn định thị trường ngoại hối được NHNN thực hiện nhịp nhàng cùng với các giải pháp điều hành chính sách tỷ giá chủ động, mang tính dẫn dắt thị trường; chính sách đấu thầu vàng đảm bảo sự ổn định của thị trường.
- Các giải pháp giải phóng kênh tín dụng được NHNN thực hiện mạnh mẽ thông qua các chương trình tái cấu trúc, giải quyết nợ xấu tồn đọng, hoàn thiện cơ chế quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, thông qua các chương trình tọa đàm xúc tiến đầu tư theo vùng lãnh thổ, theo ngành nghề.
- Các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng.
- Các biện pháp điều hành lãi suất với những bước đi thích hợp, đảm bảo giảm nhanh chóng và hiệu quả mặt bằng lãi suất, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, từng bước hình thành đường cong lãi suất, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối.
- Các giải pháp thiết lập kỷ luật thị trường tiền tệ được thực hiện nghiêm túc trên cơ sở điều hành CSTT gắn kết chặt chẽ với công tác thanh tra, giám sát, đảm bảo thực thi nghiêm các chính sách của NHNN, qua đó giúp cơ chế truyền tải CSTT được vận hành tốt hơn.
Có thể nhận thấy, CSTT góp phần quan trọng đối với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và định hướng cho hoạt động ngân hàng trong thời gian qua.
2. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng
Để một nền kinh tế thị trường phát triển bền vững thì hệ thống ngân hàng luôn phải đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh và kỷ cương pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng được duy trì. Một hệ thống ngân hàng được coi là an toàn nếu nó thực hiện một cách có hiệu quả chức năng vốn có của nó (phân bổ nguồn vốn tiết kiệm, cung cấp phương tiện thanh toán cho các hoạt động kinh tế, thương mại) đối với nền kinh tế, có khả năng hạn chế hoặc xử lý các rủi ro trước khi các rủi ro này đe dọa đến hệ thống.
Dưới góc độ của cơ quan quản lý trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, “đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng” được nhìn nhận là “đảm bảo cho hệ thống ngân hàng không xảy ra khủng hoảng, đổ vỡ ngân hàng mang tính hệ thống”. Theo đó, cơ chế đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng được áp dụng theo hai cơ chế là: (i) Phòng tránh khủng hoảng và (ii) Xử lý khủng hoảng để giảm nguy cơ lây lan thành khủng hoảng hệ thống.
Sơ đồ 1: Cơ chế đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng
Quá trình áp dụng cơ chế đảm bảo an toàn là một quá trình liên tục với các biện pháp hoặc công cụ khác nhau, bao gồm:
- Các quy định an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng:
+ Các quy định an toàn hoạt động của TCTD gồm: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu để đảm bảo khả năng bù đắp các tổn thất không định trước bằng vốn tự có; tỷ lệ khả năng chi trả để đảm bảo cho ngân hàng có đủ thanh khoản khi xảy ra rủi ro xuất phát từ sự mất cân đối về kỳ hạn, nguồn vốn và sử dụng vốn; giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng và người có liên quan để hạn chế rủi ro do việc tập trung tín dụng; giới hạn góp vốn, mua cổ phần để đảm bảo tránh ngân hàng mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực phi tài chính.
+ Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro để đánh giá chất lượng tài sản “Có”, có bổ sung quản lý, điều chỉnh cơ cấu danh mục đầu tư hợp lý; đảm bảo trích lập dự phòng đầy đủ nguồn tài chính để bù đắp các tổn thất, xác định năng lực, mức độ lành mạnh về tài chính của các TCTD.
+ Quy định về quản lý rủi ro nhằm đưa các các yêu cầu về quản lý các rủi ro chính (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường) đối với các TCTD, trong đó yêu cầu về tránh nhiệm của bộ máy quản trị, điều hành đối với các rủi ro; quy trình quản lý rủi ro, các công cụ đo lường rủi ro và các biện pháp quản lý rủi ro.
+ Quy định về quản trị, điều hành gồm các quy định về cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách nhiệm của HĐQT/HĐTV, BKS, Ban điều hành (Tổng giám đốc) của TCTD để hạn chế sự lạm quyền, tập trung quyền lực quá mức trong việc quản trị, điều hành TCTD. Bên cạnh đó, còn có các quy định về kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ theo các nguyên tắc đảm bảo an toàn, tránh hiện tượng thông tin không cân xứng, xung đột lợi ích và hành vi gây tổn hại cho hoạt động của TCTD.
+ Các chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo việc hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính phản ánh trung thực tình hình tài chính, chất lượng tài sản và kết quả kinh doanh của TCTD. Các báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập đáp ứng các điều kiện theo quy định. Bên cạnh đó, quy định về chế độ báo cáo, công khai thông tin nhằm đảm bảo có đầy đủ thông tin, số liệu để phục vụ cho việc thanh tra, giám sát cũng như phân tích hoạt động của các TCTD nói riêng và toàn hệ thống TCTD nói chung.
- Thanh tra, giám sát một cách hiệu quả đảm bảo an toàn ở phạm vi vĩ mô (gọi là an toàn vĩ mô – macro prudential) và an toàn ở phạm vi vi mô (gọi là an toàn vi mô – micro prudential) gồm:
+ Giám sát an toàn vĩ mô nhằm đảm bảo sự an toàn cho toàn hệ thống TCTD, tránh những bất ổn định tài chính, tránh tác động tiêu cực đến tăng trưởng của nền kinh tế (GDP); theo đó giám sát sự tương tác giữa các TCTD và thị trường; tập trung vào các rủi ro chung toàn hệ thống của TCTD (top-down) theo các biến động kinh tế gây nên sự mất an toàn, đổ vỡ đối với toàn hệ thống TCTD.
+ Thanh tra, giám sát an toàn vi mô nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của từng TCTD , bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (gồm người gửi tiền, nhà đầu tư vào TCTD) trên cơ sở kết hợp thanh tra trên cơ sở rủi ro và thanh tra tuân thủ; tập trung vào các rủi ro của từng TCTD (bottom-up).
+ Đánh giá tổng thể mức độ an toàn hệ thống TCTD trên cơ sở kết hợp giữa giám sát an toàn vĩ mô và giám sát an toàn vi mô. Xây dựng và phát triển hệ thống cảnh báo sớm về mức độ an toàn của toàn hệ thống TCTD nhằm mục đích hỗ trợ thực thi các biện pháp phòng tránh khủng hoảng.
Việc đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng luôn là mục tiêu hàng đầu được đặt ra từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Xuất phát từ thực trạng tiềm ẩn nhiều rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, đặc biệt là sau thời kỳ tăng trưởng nóng và mở rộng hoạt động nhanh chóng của khu vực ngân hàng, trong thời gian qua, NHNN đã ban hành các chính sách liên quan tới tái cơ cấu, lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính và quản trị của các ngân hàng thương mại. Theo đó, NHNN đã tiến hành rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới phù hợp với diễn biến của hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế, trong đó bao gồm: các quy định về các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD ban hành theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN; Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động ngân hàng của các TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN (gần đây được thay thế bởi Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và sau đó là Thông tư 09/2014/TT-NHNN); Thông tư số 15/2009/TT-NHNN quy định về tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung dài hạn; Quy định về sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD; Hướng dẫn tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của NHTM; Quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD; Quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động NHTMCP.
Cùng với việc tích cực triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” (ban hành theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012) và Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” (ban hành theo Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013) trong thời gian qua, hệ thống các TCTD đã có nhiều cải thiện về qui mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động, mức độ an toàn và khả năng cạnh tranh. Cụ thể:
- Tỷ lệ nợ xấu giảm thể hiện nỗ lực của các ngân hàng trong việc xử lý nợ: Tính đến tháng 12/2013, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng là 3,61% thấp hơn nhiều so với mức đỉnh điểm là 4,93% vào tháng 9/2012. Việc ra đời của Công ty Quán lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) vào cuối tháng 6/2013 được xem là một bước tiến quan trọng trong nỗ lực xử lý nợ xấu, góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu trong thời gian tới.
- Khả năng chi trả của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản đã được bảo đảm: NHNN đã nỗ lực lớn trong việc cải thiện thanh khoản của cả hệ thống qua các biện pháp: lãi suất điều hành được điều chỉnh giảm phù hợp với diễn biến lạm phát và ổn định cân đối vĩ mô, khuyến khích các ngân hàng dư thừa thanh khoản hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng yếu. Hiện tại, tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam có xu hướng ổn định.
- Cơ bản kiểm soát được tình hình của tổ chức tín dụng yếu kém, đây cũng chính là cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cơ cấu lại ở các giai đoạn sau: Một trong những nội dung quan trọng của Quyết định số 254/QĐ-TTg là cơ cấu lại các TCTD yếu kém. Bên cạnh việc tập trung xử lý các ngân hàng yếu kém, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đánh giá và xác định thêm một số tổ chức tín dụng yếu kém khác và yêu cầu các tổ chức này xây dựng phương án cơ cấu lại trình Ngân hàng Nhà nước phê duyệt để đảm bảo xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém trong thời gian tới.
Song song cùng hoạt động cơ cấu lại các TCTD yếu kém, NHNN đã chỉ đạo Qũy tín dụng nhân dân (QTDND) Trung ương hoàn thành việc chuyển mô hình hoạt động thành Ngân hàng Hợp tác xã nhằm thực hiện tốt mục tiêu liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính và điều hòa vốn trong hệ thống các QTDND, góp phần giúp các QTDND cơ sở hoạt động hiệu quả theo nguyên tắc hợp tác xã. Cùng với hệ thống QTDND, NHNN cũng chú trọng chỉ đạo các TCTD phi ngân hàng xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại. Trong đó, NHNN đã hướng dẫn từng TCTD phi ngân hàng hoàn thiện Phương án cơ cấu lại và chỉ đạo các TCTD phi ngân hàng yếu kém khẩn trương hoàn thiện phương án tái cơ cấu.
3. Những hạn chế, tồn tại và kiến nghị, đề xuất
Bên cạnh những nỗ lực rất đáng khích lệ, vẫn còn những bất cập cần phải tiếp tục được cải thiện để NHNN thể hiện tốt hơn nữa vài trò ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, cụ thể:
- Các công cụ của chính sách tiền tệ còn lạc hậu, mang nặng tính hành chính, dễ thay đổi ngoài dự kiến của các đối tượng điều chỉnh gây khó khăn cho không chỉ hoạt động của các TCTD mà cả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đây cũng là một trong những cản trở lớn cho việc xây dựng một chiến lược kinh doanh ổn định và vững chắc của các NHTM.
- Hoạt động Thanh tra của NHNN còn hạn chế, thiếu tính độc lập nên ảnh hưởng đến việc cảnh báo sớm, phát hiện và xử lý khách quan các vụ vi phạm. Mô hình tổ chức Thanh tra của NHNN vẫn đang tiếp tục và trong quá trình được hoàn thiện.
- Thiếu các phân tích, đánh giá về tài chính và dự báo xu hướng phát triển của các NHTM để kịp thời điều chỉnh các quy định và biện pháp giám sát.
- Hệ thống thống kê, kế toán, kiểm toán và thông tin tài chính toàn ngành còn yếu kém và chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đây là công cụ quản lý, chỉ đạo rất quan trọng để NHNN giám sát toàn hệ thống.
Để thực hiện tốt hơn nữa vai trò của NHNN, một số giải pháp cần phải được thực hiện trong thời gian tới, bao gồm:
Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành CSTT nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô:
(i) Điều hành các công cụ CSTT:
+ Duy trì việc tự do hoá công cụ lãi suất. Để NHNN thực sự là người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng, cần tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất theo hướng: sử dụng lãi suất tái chiết khấu như lãi suất sàn; lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất trần trên thị trường liên ngân hàng nhằm tác động đến việc huy động vốn và cho vay của các ngân hàng thương mại trên thị trường.
+ Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc một cách chủ động và linh hoạt theo diễn biến của thị trường nhằm kiểm soát tiền tệ; mặt khác tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng sử dụng vốn khả dụng linh hoạt và hiệu quả.
+ Đẩy mạnh việc đổi mới điều hành công cụ nghiệp vụ thị trường mở xem thị trường mở là công cụ được sử dụng rộng rãi nhằm duy trì lãi suất chủ đạo “lãi suất liên ngân hàng định hướng”; đa dạng hoá hàng hoá giao dịch trên thị trường mở nhằm đáp ứng thanh khoản cho các tổ chức tín dụng. Tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệ liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc và thị trường mua bán lại giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng với nhau và giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.
+ Tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung cầu trên thị trường, trong mối quan hệ phối hợp với lãi suất, có sự kiểm soát của Nhà nước nhằm đảm bảo các cân đối vĩ mô : kiểm soát được lạm phát; kích thích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu; khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; không ảnh hưởng lớn đến việc doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ; tạo điều kiện quản lý và thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng; nâng cao quỹ trữ ngoại tệ của Nhà nước.
(ii) Nâng cao tính độc lập, trách nhiệm giải trình của NHNN: Việc nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN phải thích ứng với mức độ hội nhập tài chính thế giới và phù hợp thể chế chính trị ở nước ta. Theo đó, cần trao thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho NHNN trong xây dựng dự án chính sách tiền tệ.
(iii) Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ: Tiếp tục tạo hàng hoá và phát triển nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ; mở rộng thành viên tham gia thị trường; nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn của NHNN trên thị trường tiền tệ; hoàn thiện hành lang pháp lý tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển. Sự phát triển của thị trường tiền tệ sẽ là kênh dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
(iv) Phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính và các chính sách kinh tế vĩ mô khác: Để nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác (chính sách tài chính, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài..).
Nhóm giải pháp đảm bảo an toàn của hệ thống
(i) Về chính sách: Hoàn thiện quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; Quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; Quy định về cấp phép thành lập và hoạt động, mở rộng mạng lưới; Quy định về tổ chức quản lý và hoạt động ngân hang; Quy định về sáp nhập, hợp nhất, tái cơ cấu, bảo hiểm tiền gửi.
(ii) Nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng: Hoàn thiện khuôn khổ thể chế và hạ tầng cơ sở công nghệ, chế độ thông tin báo cáo phục vụ cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; Mô hình tổ chức, bộ máy thanh tra, giám sát ngân hàng; Đổi mới hoạt động và tiêu chí giám sát, phương pháp giám sát từ xa; Hoàn thiện về phương pháp thanh tra tại chỗ; Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng; Đẩy mạnh hợp tác về thanh tra, giám sát ngân hàng./.
ThS. Nguyễn Hữu Nghĩa
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
1 Vatcharin Sirimaneetham và Jonathan R.W. Temple (2009): “Macroeconomic Stability and the Distribution of Growth Rates”, World Bank Economic Review 2009.
2 Bleaney (1996): “Macroeconomic Stability, investment and growth in developing countries”, Journal of Development Economics, Volume 48, Issue 2.
3 Buiter, Corsetti và Roubini (1993): “Sense and Non-sense in the Treaty of Maastricht”, Paper 674, Yale Economic Growth Center.