Thống kê ngân hàng trước tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4
TS. Tô Huy Vũ – Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - NHNN
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (FIR), sẽ tác động sâu sắc đến các chính phủ, doanh nghiệp và người dân, đem đến cả về cơ hội cũng như thách thức. Những thay đổi toàn diện và sâu rộng này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị của xã hội loài người. Nhiều sản phẩm công nghệ mới sẽ hình thành dựa trên công nghệ kỹ thuật số và siêu kết nối. Đối với ngành Ngân hàng, xu hướng phát triển các ngân hàng số (ngân hàng điện tử), ngân hàng “không giấy”, không phòng giao dịch và nhiều nghiệp vụ mới sẽ “bùng nổ” dựa trên công nghệ của cuộc cách mạng lần này đem lại. Việc ứng dụng công nghệ quản trị thông minh nhân tạo và tự động hóa quy trình nghiệp vụ, sẽ mang lại nhiều cơ hội lớn cho công tác dự báo, thống kê ngân hàng. Việc thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu lớn sẽ tạo ra những tri thức mới, hỗ trợ hiện đại hóa việc sản xuất và phổ biến thông tin, giảm chi phí. Tuy nhiên, những tiến bộ về kỹ thuật công nghệ cũng gây ra nhiều khó khăn cho công tác thống kê ngân hàng.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập những tác động chủ yếu đến công tác thống kê ngân hàng Việt Nam và một số giải pháp để nắm bắt cơ hội tốt hơn, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của cuộc cách mạng này.
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu về tác động của FIR đến thống kê ngân hàng
Theo GS. Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới, FIR là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, xu hướng trao đổi dữ liệu, công nghiệp chế tạo và sản xuất thông minh. Có ba lý do giải thích những thay đổi diễn ra trong FIR không phải là sự kéo dài của cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba, mà là sự xuất hiện của một cuộc cách mạng mới, khác biệt. Đó là, tốc độ, phạm vi và các tác động. Tốc độ của bước đột phá hiện tại là không có tiền lệ trong lịch sử khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng lần thứ tư được phát triển với tốc độ của một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính.
Cuộc cách mạng lần này được đánh giá sẽ vượt ra khỏi quy mô công xưởng, doanh nghiệp khi vạn vật được kết nối bởi internet (Internet of Thing). Cụ thể, tất cả máy móc, thiết bị trong công xưởng được kết nối với nhau thông qua internet, đồng thời nhiều cảm biến được lắp đặt để thu thập dữ liệu. Cách làm này giúp máy móc có thể “giao tiếp” với nhau mà không cần sự có mặt của con người, dây chuyền sản xuất sẽ được vận hành tự động một cách thích hợp, ứng với lượng hàng tồn kho. Do đó, nhiều sản phẩm công nghệ mới sẽ hình thành dựa trên công nghệ kỹ thuật số và siêu kết nối. Đối với ngành Ngân hàng, xu hướng phát triển các ngân hàng số (ngân hàng điện tử), ngân hàng “không giấy”, không phòng giao dịch và nhiều nghiệp vụ mới sẽ “bùng nổ” dựa trên công nghệ của cuộc cách mạng lần này đem lại. Theo đó, một loạt các sản phẩm dịch vụ tài chính mới được hình thành trong lĩnh vực ngân hàng làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo thuận lợi cho người dân trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiết kiệm được chi phí giao dịch, nhưng cũng đem lại nhiều thách thức cho ngành Ngân hàng, nhất là công tác thống kê ngân hàng.
Công nghệ sẽ thay đổi tất cả - trở thành tiềm năng hỗ trợ, thúc đẩy các dịch vụ phát triển và giảm chi phí. Gần đây, công nghệ phát triển rất nhanh - cơ sở dữ liệu lớn, điện toán đám mây, điện thoại thông minh dải băng thông rộng đều là những khái niệm quen thuộc. Do đó, tốc độ đổi mới đối với ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Các định chế tài chính buộc phải đổi mới nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển.
Tại Việt Nam, công tác thống kê ngân hàng là một trong những nhiệm vụ chuyên môn hết sức quan trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), bảo đảm thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp số liệu thống kê kịp thời, đầy đủ và chính xác để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, xây dựng và hoạch định chính sách tiền tệ quốc gia cũng như giám sát đảm bảo an toàn hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD). Do vậy, việc nghiên cứu về tác động của FIR đến công tác thống kê ngân hàng để tận dụng tốt những cơ hội và hạn chế tác động tiêu cực là một trong những vấn đề hết sức cần thiết đối với NHNN và các TCTD, nhằm hỗ trợ công tác xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), quản lý, thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả hơn, phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
2. Tác động của FIR đến công tác thống kê ngân hàng
Với công nghệ quản trị thông minh nhân tạo và tự động hóa quy trình nghiệp vụ, FIR sẽ mang lại nhiều cơ hội lớn cho NHNN trong việc ứng dụng các mô hình quản trị ngân hàng trung ương (NHTW) hiện đại. Đáng chú ý là, công tác dự báo, thống kê tiền tệ - ngân hàng ngày càng có nhiều thuận lợi trong việc phân tích và quản lý dữ liệu, nhờ việc xây dựng được những trung tâm dữ liệu lớn (big data). Việc thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu lớn sẽ tạo ra những tri thức mới, hỗ trợ hiện đại hóa việc sản xuất và phổ biến thông tin, giảm chi phí; Tăng cường công tác tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN đưa ra quyết định để quản lý, điều hành hoạt động tiền tệ - ngân hàng phù hợp và nhanh hơn; Giúp tăng độ minh bạch và dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước; Tiếp cận và nghiên cứu về dữ liệu lớn sẽ giúp cho NHNN có thêm nhiều phương án giải quyết, xử lý đối phó với những thách thức sản xuất số liệu thống kê ngân hàng trong hiện tại và tương lai; Sử dụng dữ liệu lớn sẽ đem lại niềm tin của công chúng với thống kê ngân hàng, do quá trình sản xuất số liệu thống kê với dữ liệu lớn hoàn toàn không có sự tác động chủ ý của con người. Sau đây là một số cơ hội, thách thức chủ yếu và cụ thể đối với công tác thống kê ngân hàng:
2.1.Về cơ hội
- Hệ thống mạng máy tính được kết nối trực tuyến toàn cầu sẽ tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng Việt Nam triển khai, phát triển hệ thống báo cáo theo thời gian thực (real time) thay vì việc thực hiện các báo cáo định kỳ sẽ giúp NHNN cập nhật thường xuyên, nhanh chóng các thông tin chủ yếu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành về hoạt động tiền tệ - ngân hàng.
- Tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật lần này, thị trường tài chính sẽ phát triển nhanh và mạnh hơn, với sự tham gia của rất nhiều công cụ và đối tác mới, nên việc quản lý và điều hành CSTT theo phương pháp truyền thống sẽ kém hiệu quả, nếu chỉ dựa vào các dữ liệu thống kê vĩ mô. Tuy nhiên, nhờ việc khai thác dữ liệu lớn sẽ giúp đơn vị làm công tác thống kê của NHNN thu thập và sử dụng các dữ liệu vi mô nhanh hơn (dữ liệu về các thông số quản lý rủi ro áp dụng cho các đối tác và tài sản; dữ liệu về các giao dịch trên thị trường tiền tệ, hoạt động đầu tư; dữ liệu động trên thị trường tài chính…); giúp cho NHNN xác định được cơ chế chuyển tải của CSTT tốt hơn và cho phép xác định được các dữ liệu tổng thể, nâng cao chất lượng công tác dự báo về tiền tệ - ngân hàng và các chỉ số vĩ mô khác. Bên cạnh đó, dữ liệu vi mô có thể bổ sung hoặc thay cho dữ liệu tổng thể hiện hành bằng tập dữ liệu mới với chất lượng cao hơn. Ngoài ra, dữ liệu vi mô có thể làm tăng tính linh hoạt của dữ liệu tổng thể, do có thể được chỉnh sửa để phục vụ việc đổi mới tài chính, thay đổi các quy định hay phản ứng theo thói quen nhằm thay đổi môi trường kinh tế.
- Việc tăng cường ứng dụng công nghệ tin học trong công tác thống kê ngân hàng và thiết lập các quy tắc trên hệ thống thông tin báo cáo sẽ góp phần giảm thiểu công tác kiểm tra thủ công không cần thiết đối với cán bộ thống kê. Bên cạnh đó, công tác khai thác, lập báo cáo phân tích cũng có thể được thiết lập tự động sinh báo cáo qua cơ chế đặt lịch đối với các báo cáo định kỳ và sử dụng công cụ tạo lập báo cáo linh hoạt đối với các báo cáo đột xuất.
- Trên cơ sở triển khai các ứng dụng, phần mềm được sử dụng trên nền tảng web (web-based), công tác xử lý, khai thác dữ liệu có thể được thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Do đó, cán bộ thống kê ngân hàng có thể xử lý báo cáo ở bất kỳ nơi nào không nhất thiết phải có mặt ở cơ quan. Sau khi báo cáo được xử lý, người sử dụng thông tin thống kê có thể tra cứu, khai thác báo cáo ngay lập tức trên hệ thống, nhờ đó giảm bớt các khâu luân chuyển báo cáo qua đường văn bản, tăng tính kịp thời của thông tin báo cáo, giảm chi phí.
- Công tác quản lý dữ liệu thống kê ngân hàng sẽ thuận lợi hơn nhờ xây dựng được trung tâm dữ liệu lớn. Mô hình gửi, nhận báo cáo tập trung sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho NHNN triển khai kho dữ liệu tập trung (Data warehouse) thống nhất và các ứng dụng. Cơ sở dữ liệu tập trung đảm bảo dữ liệu thông tin báo cáo được sử dụng thống nhất từ trung ương đến địa phương.
- Công nghệ điện toán đám mây có thể được ứng dụng trong công tác quản lý, lưu trữ dữ liệu thống kê ngân hàng, nhờ đó sẽ cắt giảm các chi phí liên quan đến việc duy trì hệ thống máy móc thiết bị lưu trữ và nhân lực vận hành.
2.2. Về thách thức
Bên cạnh những cơ hội, FIR cũng mang lại không ít thách thức đối với công tác thống kê ngân hàng, cụ thể:
- Những tiến bộ về kỹ thuật công nghệ cũng gây ra nhiều khó khăn cho việc quản lý và giám sát hoạt động tiền tệ - ngân hàng nói chung và công tác thống kê ngân hàng nói riêng. Do các sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, rủi ro kinh doanh phức tạp hơn, gây khó khăn cho nhiều quốc gia trong việc kiểm soát rủi ro dựa trên các phương pháp truyền thống, cơ chế giám sát ngân hàng ở mỗi nước không còn phù hợp. Do vậy, NHNN cần phải tiếp tục đổi mới hoạt động thống kê để đảm bảo thu thập đầy đủ các dữ liệu đáp ứng nhu cầu giám sát của CSTT và ổn định tài chính.
- Nguy cơ về bảo mật thông tin số liệu thống kê ngân hàng và khách hàng. Do sự phát triển ngày càng tinh vi của công nghệ số cũng sẽ tạo ra nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng và thông tin thống kê. Thực tế cho thấy, tội phạm công nghệ cao, tin tặc có thể xâm nhập hệ thống thông tin báo cáo và đánh cắp, thay đổi thông tin dữ liệu báo cáo thống kê mà không cần đến ngân hàng, thậm chí không cần kết nối với ngân hàng. Trong khi đó, hoạt động tiền tệ - ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh dựa trên miềm tin nên những thông tin thống kê ngân hàng cũng như về công tác hoạch định, điều hành chính sách tiền tệ khi chưa được công bố đòi hỏi tính bảo mật cao, nếu để lộ, lọt thông tin sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng. Do đó, hệ thống ngân hàng cần phải luôn chủ động có biện pháp đối phó khả thi để đảm bảo an ninh mạng.
- Do sự phát triển của công nghệ thông tin, làm gia tăng các nghiệp vụ và công cụ tài chính mới nên công tác thống kê ngân hàng sẽ gặp không ít khó khăn trong việc thống kê các hoạt động tài chính phi ngân hàng và ngân hàng ngầm1. Thống kê theo phương pháp truyền thống sẽ không thể tập hợp được thông tin về các tập đoàn tài chính hoạt động xuyên biên giới và thông qua các chi nhánh phi ngân hàng, nên sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra dự báo khả thi về rủi ro có thể hình thành trong hệ thống tài chính, ngân hàng, nhất là việc sở hữu chéo.
- Thách thức lớn về hạ tầng công nghệ và nguồn lực tài chính. Do hệ thống thông tin báo cáo có sự tham gia của nhiều loại hình TCTD, tổ chức tài chính khác nhau, nên để triển khai hệ thống báo cáo thống kê trên nền tảng công nghệ hiện đại đòi hỏi hạ tầng công nghệ tin học của các đơn vị tham gia phải đồng đều. Trong khi đó, hệ thống các TCTD, tổ chức tài chính khác tại Việt Nam có sự phân hóa lớn, về nguồn lực tài chính, công nghệ và nhân lực. Mặc dù, ngành Ngân hàng luôn đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam, nhưng hệ thống các TCTD vẫn có sự khác biệt khá lớn về trình độ công nghệ tin học, nhất là giữa khối ngân hàng và khối quỹ tín dụng nhân dân.
- Thách thức về việc sử dụng và so sánh thông tin liên quan của “dữ liệu gốc” giữa đối tượng báo cáo và đơn vị quản lý như một mô hình dữ liệu hài hòa. Điều này đòi hỏi NHNN cần phát triển và hoàn thiện mô hình báo cáo tập trung, đồng thời đẩy mạnh cơ chế chia sẻ thông tin tại kho dữ liệu chung để giảm gánh nặng báo cáo.
- Thách thức về chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thống kê ngân hàng. Hệ thống báo cáo thống kê hiện đại đòi hỏi các cán bộ thống kê không những giỏi về trình độ về nghiệp vụ ngân hàng mà còn phải giỏi về công nghệ thông tin để vận hành hệ thống báo cáo thống kê. Trong khi đó, phần lớn cán bộ thống kê tại các TCTD cũng như tại các đơn vị thuộc NHNN là các cán bộ kiêm nhiệm. Việc vận hành và xử lý các vấn đề về công nghệ tin học do bộ phận chuyên trách tại Cục Công nghệ tin học thực hiện, nên sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý các vấn đề về tin học có liên quan đến nghiệp vụ.
- Thách thức trong việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thống kê tiền tệ - ngân hàng, yêu cầu cấp thiết là phải mở rộng quyền hạn của NHTW trong việc thu thập dữ liệu, không chỉ từ các ngân hàng mà cả từ các định chế tài chính phi ngân hàng, đẩy nhanh việc thiết lập thống kê mới về các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí, nhất là dữ liệu vi mô như đã nêu ở phần trên. Ngoài ra, quy định chế độ báo cáo thống kê hiện tại chủ yếu điều chỉnh với các báo cáo định kỳ, trong khi đó để phát triển hệ thống báo cáo thống kê theo thời gian thực, NHNN cần xây dựng cơ chế quản lý, điều chỉnh phù hợp. Bên cạnh đó, với sự ra đời của nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới, các kênh thanh toán, phân phối mới, hệ thống báo cáo cũng cần được sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo kịp thời giám sát an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.
- Nguy cơ con người sẽ dễ bị áp đặt bởi dữ liệu lớn, do dữ liệu lớn là một công cụ có giá trị tham khảo, giúp ta hướng tới sự hiểu biết, nhưng cũng có thể dẫn đến sai lầm, tùy thuộc vào việc sử dụng của con người.
3. Một số kết quả trong công tác thống kê ngân hàng 5 năm gần đây
Với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, trong giai đoạn 2011-2015, công tác thống kê ngân hàng tại NHNN đã thường xuyên được đổi mới, cung cấp các thông tin, số liệu quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch quản lý và điều hành hoạt động tiền tệ - ngân hàng của NHNN và Chính phủ. Khung khổ pháp lý về thống kê ngân hàng không ngừng được hoàn thiện (giai đoạn này đã 3 lần ban hành thông tư quy định về chế độ báo cáo thống kê); Phương pháp thống kê ngân hàng dần được hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế; Xây dựng và hoàn thiện mô hình báo cáo thống kê tập trung thống nhất trong toàn Ngành; Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, xử lý, tổng hợp và khai thác báo cáo thống kê. Đến nay, hầu hết các báo cáo đều được NHNN thu thập theo phương thức báo cáo điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ, khai thác báo cáo. Ngoài ra, công tác khai thác, tổng hợp báo cáo được thực hiện linh hoạt nhờ các ứng dụng tin học như BI, BO, góp phần nâng cao tính chính xác, kịp thời của thông tin, báo cáo phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, giám sát đảm bảo an toàn của NHNN.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thống kê ngân hàng còn tồn tại một số vấn đề sau: (i) Mô hình báo cáo thống kê phân tán còn áp dụng đối với một số đối tượng, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, khai thác báo cáo. (ii) Công tác thống kê còn mang tính truyền thống, các yêu cầu báo cáo chủ yếu là các báo cáo định kỳ và có độ trễ dài nên tính cập nhật của thông tin báo cáo còn hạn chế. Bên cạnh đó, các báo cáo tổng hợp, phân tích chủ yếu là các báo cáo được xây dựng cố định trong hệ thống và lập theo định kỳ nên các sản phẩm thống kê còn thiếu tính đa dạng, phong phú. (iii) Khối lượng báo cáo phải kiểm tra thủ công vẫn còn lớn do báo cáo không có cơ sở đối chiếu, kiểm tra và nhiều báo cáo chưa được xây dựng công thức kiểm tra tự động. (iv) Chưa đảm bảo tính liên thông giữa các cơ sở dữ liệu thống kê ngân hàng với nhau và phù hợp với cơ sở dữ liệu thống kê ngân hàng của khu vực và thế giới.
4. Giải pháp đối với công tác thống kê ngân hàng
Trên cơ sở định hướng phát triển công tác thống kê chung của toàn ngành Ngân hàng, tác giả xin đưa ra một số giải pháp để đón nhận các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư đem lại và hạn chế những tác động tiêu cực, cần thực hiện những giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về thống kê tài chính - tiền tệ, hoạt động ngân hàng đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn, tiến tới phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế; mở rộng quyền hạn của NHNN trong việc thu thập dữ liệu không chỉ từ các ngân hàng mà cả từ các định chế tài chính phi ngân hàng, đẩy nhanh việc thiết lập thống kê mới về các công ty bảo hiểm, chứng khoán và các quỹ hưu trí; tạo lập cơ sở dữ liệu thống kê kinh tế và tài chính một cách nhất quán, liên tục, đầy đủ, kịp thời, đáng tin cậy và có thể đối chiếu giữa các nền kinh tế. Trong đó cần tập trung hoàn thiện hệ thống yêu cầu báo cáo nhằm phục vụ công tác giám sát rủi ro đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng công nghệ cao như các thông tin về hoạt động thanh toán, ngoại hối. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, xây dựng cơ sở pháp lý để triển khai hệ thống báo cáo thống kê theo thời gian thực nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu chỉ đạo, điều hành của NHNN và Chính phủ.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong công tác thống kê, nhằm hỗ trợ việc thu thập, kiểm tra, tra soát và tổng hợp báo cáo tự động, giảm thiểu các công việc thủ công cho cán bộ thống kê và nâng cao chất lượng báo cáo thống kê. Theo đó, NHNN cần ưu tiên nguồn lực phát triển các giải pháp công nghệ thông tin mới, tích hợp từ các nhà cung cấp: Cảm biến, hệ thống điều khiển, mạng truyền thông…; đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học hiện đại trong phân tích và xử lý dữ liệu báo cáo thống kê nhằm tận dụng tối đa cơ sở dữ liệu thông tin báo cáo.
Ba là, do FIR đã đẩy cao mức độ chia sẻ thông tin nên vấn đề an ninh mạng cần phải được chú trọng để bảo mật thông tin dữ liệu thống kê ngân hàng. Theo đó, hệ thống ngân hàng cần quan tâm đến việc xây dựng trung tâm dữ liệu dự phòng, nâng cấp hệ thống an ninh mạng, xây dựng các quy định đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu theo hướng chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó, đối với hệ thống thông tin báo cáo cần tăng cường các biện pháp bảo mật thông tin dữ liệu thông qua cơ chế chữ ký điện tử, phân cấp, phân quyền truy cập, khai thác báo cáo theo hướng chi tiết hơn nhưng cũng cần đảm bảo dễ quản lý, dễ sử dụng.
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thống kê ngân hàng đủ năng lực và phẩm chất đạo đức. Để vận hành hệ thống báo cáo thống kê tiên tiến hiện đại, đội ngũ cán bộ thống kê cần phải giỏi về nghiệp vụ và công nghệ thông tin. Do đó, NHNN cần tiếp tục tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ thống kê ngân hàng để có thể đáp ứng nhu cầu quản trị vận hành, làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại.
Năm là, tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực thống kê tiền tệ, tài chính, ngân hàng, từng bước xây dựng hệ thống báo cáo thống kê tiến tới phù hợp với chuẩn mực quốc tế; thu hút các nguồn vốn và công nghệ cao phục vụ việc đổi mới và hiện đại hóa công nghệ thống kê ngân hàng.
Sáu là, tăng cường công tác thông tin - tuyên truyền về hoạt động thống kê tiền tệ - ngân hàng để nâng cao nhận thức của các cán bộ làm công tác thống kê ngân hàng nói riêng và các TCTD nói chung về tầm quan trọng của dữ liệu thống kê ngân hàng.
5. Kết luận
FIR sẽ đem đến cả về cơ hội cũng như thách thức cho công tác thống kê ngân hàng. Do đó, việc nhận thức đầy đủ về những cơ hội, thách thức mà FIR đem lại sẽ rất có ý nghĩa cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thống kê ngân hàng, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để nâng cao tính khả thi của những giải pháp nêu trên, Việt Nam cũng cần chủ động đầu tư nguồn lực phù hợp xây dựng một hệ thống báo cáo thống kê tự động bài bản ở cấp trung ương, kết nối với dữ liệu báo cáo của các bộ, ngành. Trong đó có NHNN, giảm tải việc thực hiện báo cáo của các TCTD. Các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu việc sử dụng và khai thác thống nhất một nguồn dữ liệu báo cáo thống kê, để đảm bảo số liệu báo cáo nhất quán, đầy đủ, giảm số lượng các chỉ tiêu báo cáo trùng lặp. Cùng với đó, Việt Nam cần xây dựng cơ chế điều phối chung, kết nối và thúc đẩy sử dụng hệ thống báo cáo thống kê.
1 Theo IMF (2015), trung gian tín dụng ngầm là tổ chức tài chính tham gia huy động vốn từ những nguồn phi truyền thống như phát hành các loại chứng khoán nợ, chứng khoán hóa, sáng tạo tài chính.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Diễn đàn Kinh tế thế giới 2016;
- Hạ tầng Thông tin NHTW, NHQG Ba Lan;
- Hội nghị ECB lần thứ năm;
- Hội nghị ECB lần thứ sáu;
- Hội nghị ECB lần thứ tám;
- Cyber security in the banking sector.