Tín dụng ngân hàng góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế năm 2016
TS. Nguyễn Tiến Đông – Chủ tịch Hội đồng thành viên VAMC
Năm 2016, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, thương mại toàn cầu chưa có dấu hiệu phục hồi. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu khởi sắc trong năm 2015, kinh tế nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu, đặc biệt là sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống nhân dân. Trước bối cảnh đó, Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, chính quyền địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiều chính sách và giải pháp để ổn định vĩ mô, từng bước phát triển sản xuất tạo tăng trưởng kinh tế hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội. Bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ diễn biến kinh tế vĩ mô trong năm 2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng với định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 18 - 20% - đây là chỉ tiêu mang tính chất định hướng trong chỉ đạo điều hành mà NHNN đề ra từ đầu năm để góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý song song với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
1. Các giải pháp điều hành chính sách tín dụng của NHNN trong năm 2016
Nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng đã đề ra, NHNN đã điều hành chính sách tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn chất lượng tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn ngân hàng. Cụ thể:
Một là, trên cơ sở định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2016, NHNN đã thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2016 đối với từng TCTD phù hợp với chất lượng hoạt động và khả năng mở rộng tín dụng của từng TCTD; theo dõi sát tình hình tăng trưởng tín dụng của từng TCTD và của toàn hệ thống, đồng thời xem xét việc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2016 đối với các TCTD.
Hai là, duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành của NHNN; chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng vay. Trong năm 2016, lãi suất cho vay VND đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm từ 0,5 - 1,5%/năm. Hiện nay, mức lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6,8 - 9%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 9,3 - 11%/năm đối với cho vay trung và dài hạn.
Ba là, thực hiện các giải pháp góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng như nghiên cứu sửa đổi các quy định liên quan đến hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động cho vay của TCTD.
Bốn là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ TCTD mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả; từng bước thực hiện chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên tập trung nguồn vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi sự doanh nghiệp.
Năm là, triển khai quyết liệt, có hiệu quả các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như cho vay hỗ trợ lãi suất để thực hiện đầu tư máy móc thiết bị nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; cho vay tái canh cà phê nhằm phát triển bền vững cây cà phê tại khu vực Tây Nguyên; cho vay phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ nhằm giúp ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu công suất lớn phục vụ khai thác hải sản xa bờ, góp phần phát triển kinh tế biển và giữ vững an ninh chủ quyền biển đảo quốc gia.
Sáu là, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, NHNN đã ban hành Thông tư số 31/2016/TT-NHNN ngày 15/11/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú. Theo đó, các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối xem xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn bằng ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay đến hết ngày 31/12/2017.
Bảy là, để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục hậu quả do thiên tai, NHNN đã: (i) Yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) khoanh nợ, giãn nợ cho doanh nghiệp và người dân thiệt hại vốn tín dụng do hạn hán, xâm nhập mặn gây ra tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; (ii) Chỉ đạo các TCTD kịp thời cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, xem xét miễn, giảm lãi vay… đối với các khoản vay của người dân, doanh nghiệp tại một số tỉnh miền Trung do hiện tượng thủy sản, hải sản chết bất thường hàng loạt; đồng thời, tiếp tục xem xét cho vay mới giúp khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất theo quy định; (iii) Yêu cầu 4 NHTM Nhà nước cân đối nguồn vốn và chỉ đạo các chi nhánh, phòng giao dịch trên địa bàn 4 tỉnh miền Trung triển khai cho vay thu mua, tạm trữ hải sản khai thác tại vùng biển an toàn.
Tám là, chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, TCTD phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường triển khai Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, người dân trên địa bàn trong vấn đề tiếp cận vốn tín dụng, đảm bảo thiết thực bằng các cuộc đối thoại trực tiếp, định kỳ và các cam kết cho vay vốn cụ thể giữa ngân hàng với doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
2. Tăng trưởng tín dụng năm 2016 - những kết quả đạt được
Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nguồn vốn tín dụng đã được khơi thông và tăng trưởng tốt ngay từ đầu năm, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Dư nợ toàn nền kinh tế năm 2015, tăng trưởng 18,71% so với cuối năm 2015, đạt mục tiêu đề ra.
Nhìn lại tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm 2016 cho thấy, tín dụng tăng trưởng đều qua các tháng với độ dốc đường tăng trưởng tương đối ổn định. Điều này cho thấy, các giải pháp, chính sách mà ngành Ngân hàng triển khai nhằm tháo gỡ khó khăn, duy trì đà tăng trưởng cho nền kinh tế đã phát huy hiệu quả, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Cơ cấu tín dụng cũng có sự chuyển biến tích cực, tín dụng bằng VND chiếm tỷ trọng khoảng 90%, tín dụng ngoại tệ được kiểm soát theo xu hướng giảm dần và chiếm tỷ trọng khoảng 10%, phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ. Tín dụng trung, dài hạn tăng cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung và tăng trưởng tín dụng ngắn hạn, phản ánh triển vọng tăng trưởng tích cực và ổn định của nền kinh tế.
Hình 2 - Diễn biến tăng trưởng tín dụng nội tệ và ngoại tệ
Dòng vốn ngân hàng đã được định hướng vào sản xuất và các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đến cuối tháng 11/2016, dư nợ cho vay phục vụ nông nghiệp, nông thôn của các TCTD (không bao gồm dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội) đạt 940.000 tỷ đồng, tăng 11,14% so với cuối năm 2015, dự kiến cuối năm 2016 tăng khoảng 13%; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 1.115.386 tỷ đồng, tăng 6%; cho vay lĩnh vực công nghiệp ưu tiên phát triển đạt khoảng 130.563 tỷ đồng, tăng 9,98%...
Xét về cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế, dư nợ tín dụng đối với ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng khoảng 10%, công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng khoảng 33%, dịch vụ chiếm tỷ trọng 57% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế; tỷ trọng này tương ứng với mức đóng góp của các ngành trong cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2016, cụ thể: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,54%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,48%, khu vực dịch vụ chiếm 41,8%.
Hình 3: Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế
|
Hình 4: Cơ cấu nền kinh tế
|
Nguồn vốn tín dụng đã hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Từ năm 2011 trở về trước, mặc dù tín dụng tăng trưởng mạnh, song GDP cũng chỉ xoay quanh mức 6%. Trong khi đó, từ năm 2012 tới nay, tín dụng tăng trưởng thấp hơn hẳn giai đoạn trước và GDP cũng giảm thấp nhưng vẫn ở mức trên 5%, điều đó cho thấy, nguồn vốn tín dụng đã được đầu tư đúng hướng hơn, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển. Trong thời gian qua, tỷ lệ dư nợ/GDP luôn ở mức cao (>95%) cho thấy, tín dụng đã, đang và sẽ luôn là kênh chủ đạo cung ứng vốn cho nền kinh tế, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP của cả nước.
Tăng trưởng tín dụng giai đoạn vừa qua
% |
2010 |
2011 |
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
2016e |
Tăng trưởng tín dụng |
32,43 |
14,31 |
8,91 |
12,52 |
12,8 |
17,29 |
18 |
GDP |
6,78 |
5,89 |
5,03 |
5,42 |
5,93 |
6,68 |
6,3 |
CPI |
11,75 |
18,13 |
6,81 |
6,04 |
2,22 |
0,63 |
<5% |
3. Định hướng chính sách tín dụng năm 2017
Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2016 và các năm trước đó, năm 2017, NHNN sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp về tín dụng nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp chỉ tiêu định hướng, đồng thời đảm bảo chất lượng tín dụng, an toàn hệ thống. Theo đó, định hướng điều hành chính sách tín dụng của NHNN trong năm 2017 là:
Thứ nhất, xây dựng và thực hiện các biện pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu định hướng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay bằng ngoại tệ góp phần ổn định thị trường ngoại hối, hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế.
Thứ hai, tiếp tục hướng dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình cho vay liên kết, chương trình tín dụng đặc thù nhằm tạo sự đột phá trong đầu tư tín dụng, đặc biệt đối với một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp, phục vụ xuất khẩu và bảo đảm an ninh lương thực.
Thứ ba, tăng cường các giải pháp tháo gỡ khó khăn giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh mà NHNN và các TCTD đã thực hiện trong thời gian qua; hoàn thiện các cơ chế chính sách để đẩy mạnh hoạt động tín dụng.
Thứ tư, tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nêu tại Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD nhằm duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 3% một cách bền vững.
Việc triển khai các giải pháp này cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Ngân hàng với các Bộ, ngành, địa phương để cùng tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, người dân tiếp cận vốn ngân hàng để phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo sức cầu về tín dụng; qua đó, tạo điều kiện để các giải pháp, chính sách tín dụng triển khai có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống.