Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Kinh tế toàn cầu đang lấy lại động lượng

20/04/2017 21:53:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Ngày 18/4/2017, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu với nhận định, kinh tế toàn cầu được dự báo tăng từ 3,1% trong năm 2016 lên 3,5% trong năm nay và tăng 3,6% trong năm 2018, điều chỉnh tăng 0,1% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016.

Dự báo tăng trưởng toàn cầu (% so với năm trước)

 

Kết quả

Dự báo

Thay đổi so dự báo 01/2017

Thay đổi so dự báo 10/2016

 

2016

2017

2018

2017

2018

2017

2018

GDP toàn cầu

3,1

3,5

3,6

0,1

0,0

0,1

0,0

Các nước phát triển

1,7

2,0

2,0

0,1

0,0

0,2

0,2

Mỹ

1,6

2,3

2,5

0,0

0,0

0,1

0,4

Khu vực đồng euro

1,7

1,7

1,6

0,1

0,0

0,2

0,0

CHLB Đức

1,8

1,6

1,5

0,1

0,0

0,2

0,1

CH Pháp

1,2

1,4

1,6

0,1

0,0

0,1

0,0

Italia

0,9

0,8

0,8

0,1

0,0

-0,1

-0,3

Tây Ban Nha

3,2

2,6

2,1

0,3

0,0

0,4

0,2

Nhật Bản

1,0

1,2

0,6

0,4

0,1

0,6

0,1

VQ Anh

1,8

2,0

1,5

0,5

0,1

0,9

-0,2

Canada

1,4

1,9

2,0

0,0

0,0

0,0

0,1

Những nước phát triển khác

2,2

2,3

2,4

0,1

0,0

0,0

0,0

EMDEs

4,1

4,5

4,8

0,1

0,0

-0,1

0,0

Cộng đồng quốc gia độc lập

0,3

1,7

2,1

0,2

0,3

0,3

0,4

CHLB Nga

-0,2

1,4

1,4

0,3

0,2

0,3

0,2

Không kể CHLB Nga

1,8

2,5

3,5

0,0

0,2

0,2

0,6

EMDEs châu Á

6,4

6,4

6,4

0,0

0,1

0,1

0,1

Trung Quốc

6,7

6,6

6,2

0,1

0,2

0,4

0,2

Ấn Độ

6,8

7,2

7,7

0,0

0,0

-0,4

0,0

ASEAN 5 (*)

4,9

5,0

5,2

0,1

0,0

-0,1

0,0

EMDEs châu Âu

3,0

3,0

3,3

-0,0

0,1

-0,1

0,1

Mỹ Latinh và Caribê

-1,0

1,1

2,0

-0,1

-0,1

-0,5

-0,2

Brazil

-3,6

0,2

1,7

0,0

0,2

-0,3

0,2

Mêxicô

2,3

1,7

2,0

0,0

0,0

-0,6

-0,6

Trung Đông, Bắc Phi (**)

3,9

2,6

3,4

-0,5

-0,1

-0,8

-0,2

Trung Đông, Bắc Phi

3,8

2,3

3,2

-0,6

-0,1

-0,9

-0,2

Arập Xê út

1,4

0,4

1,3

0,0

-0,1

-1,6

-1,3

Khu vực Cận Sahara

1,4

2,6

3,5

-0,2

-0,2

-0,3

-0,1

Nigeria

-1,5

0,8

1,9

0,0

-0,4

0,2

0,3

CH Nam Phi

0,3

0,8

1,6

0,0

0,0

0,0

0,0

Các nước thu nhập thấp

3,6

4,7

5,3

0,0

-0,1

-0,2

0,1

Thương mại toàn cầu

2,2

3,8

3,9

0,0

-0,2

0,0

-0,3

Giá dầu (tính theo USD)

-15,7

28,9

-0,3

9,0

-3,9

11,0

-5,1

Hàng hóa khác (trừ chất đốt)

-1,9

8,5

-1,3

6,4

-0,4

7,6

-0,6

CPI tại các nước phát triển

0,8

2,0

1,9

0,3

0,0

0,3

0,0

CPI tại EMDEs

4,4

4,7

4,4

0,2

0,0

0,3

0,2

Nguồn: IMF 04/2017

(*): Bao gồm, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam;

(**): Kể cả Afganistan và Pakistan.

So với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016, các chuyên gia nghiên cứu tại IMF đã điều chỉnh tăng dự báo kinh tế toàn cầu, chủ yếu nhờ xu hướng cải thiện trên các thị trường tài chính và sự phục hồi mang tính chu kỳ của ngành công nghiệp chế tạo và lĩnh vực thương mại, sau khi giảm thấp trong năm 2015 và đầu năm 2016.

Báo cáo nêu rõ, hoạt động kinh tế tăng cao và những kỳ vọng về nhu cầu tăng vững trên toàn cầu, cùng với thỏa thuận kiềm chế sản lượng dầu mỏ tại Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và nhiều nước khác đã khiến mặt bằng giá cả hàng hóa phục hồi sau khi chạm đáy vào đầu năm 2016. Giá cả tăng cao đã phần nào hỗ trợ xuất khẩu và lạm phát, góp phần giảm nhẹ áp lực giảm phát. Tình hình cải thiện dần trên các thị trường tài chính và kỳ vọng lạc quan về các biện pháp hỗ trợ kinh tế tại Trung Quốc cũng như kế hoạch mở rộng tài khóa và thay đổi quan điểm chính sách tại Mỹ. Nếu niềm tin và tâm trạng thị trường tiếp tục được duy trì, kinh tế toàn cầu có thể tiếp tục tăng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, triển vọng tích cực này đang vấp phải những trở ngại không thể tránh khỏi. Trong đó, khó khăn mang tính cơ cấu tiếp tục cản trở quá trình phục hồi, rủi ro vẫn rình rập, nhất là trong giai đoạn trung hạn. Nhiều vấn đề dai dẳng về cơ cấu như năng suất thấp, bất bình đẳng về thu nhập đang gây áp lực trong việc tìm kiếm chính sách hướng nội tại các nước phát triển, đe dọa nỗ lực hội nhập và cùng phối hợp củng cố trật tự kinh tế toàn cầu, nhất là đối với các nước đang phát triển và mới nổi. Khả năng rút ngắn lộ trình tăng lãi suất chính sách tại Mỹ có thể dẫn đến xu hướng thắt chặt tài chính trên toàn cầu, và USD mạnh sẽ gây khó khăn cho những nước mới nổi vốn theo đuổi chính sách neo tỷ giá so với USD hoặc bị sai lệch kỳ hạn trên bảng cân đối tài sản. Theo nghĩa rộng, những lo lắng trên thị trường và niềm tin của các nhà đầu tư có thể khiến tình hình tài chính căng thẳng hơn, dẫn đến nguy cơ gia tăng thiệt hại cho nhiều nước mới nổi, kể cả Trung Quốc.

Trong bối cảnh kinh tế các nước phát triển tăng nhanh hơn kỳ vọng, và hoạt động kinh tế nhộn nhịp tại một số nước mới nổi trong những tháng cuối năm 2016, triển vọng kinh tế năm 2017-2018 có thay đổi so với dự báo đưa ra vào hồi tháng 10/2016 là, điều chỉnh tăng dự báo kinh tế tại các nước phát triển, nhưng điều chỉnh giảm dự báo kinh tế tại các nước đang phát triển và mới nổi. Tuy nhiên, tình hình không thay đổi nhiều so với báo cáo đưa ra trong dự báo trước đó. Trước mắt và trong giai đoạn trung hạn, yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước phát triển bắt nguồn từ hoạt động kinh tế gia tăng tại các nước đang phát triển và mới nổi.

Tại các nước phát triển, GDP năm 2017 và 2018 được dự báo tăng 2,0%, điều chỉnh tăng 0,2% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016. Động thái điều chỉnh này phản ánh chu kỳ phục hồi trong ngành công nghiệp chế tạo thế giới, nhất là từ cuối năm 2016, lòng tin cũng được củng cố sau kết quả bầu cử tổng thống tại Mỹ, góp phần thúc đẩy những động lượng mang tính chu kỳ. Cũng như nhận định trong báo cáo tháng 10/2016, báo cáo này nhắc lại tính bất định về thay đổi lập trường chính sách của chính phủ mới tại Mỹ và khả năng tác động đến các nước khác trên thế giới. Kinh tế tăng chậm tại các nước phát triển bắt nguồn từ những trở ngại mang tính cơ cấu như dân số già hóa ảnh hưởng đến việc huy động lực lượng lao động, năng suất tiếp tục tăng chậm.

Tại các nước đang phát triển và mới nổi, GDP năm 2017-2018 được dự báo lần lượt tăng 4,5% và 4,8%, sau khi tăng 4,1% trong năm 2016. Dự báo này phản ánh xu hướng phục hồi hoặc ổn định tại nhiều nước xuất khẩu, mặc dù GDP tại một số nước tăng thấp do vấp phải khó khăn trong việc thích ứng với xu hướng giảm thấp của mặt bằng giá cả hàng hóa. Kinh tế Ấn Độ tiếp tục tăng cao, bù đắp cho xu hướng giảm tốc của kinh tế Trung Quốc. Nhìn chung, kinh tế các nước đang phát triển và mới nổi có tốc độ tăng trưởng không đồng đều, thấp hơn nhịp độ tăng trưởng trong giai đoạn 2000-2015. Có nhiều yếu tố chi phối triển vọng này, bao gồm quá trình chuyển đổi kinh tế tại Trung Quốc sang mô hình tăng trưởng bền vững hơn, một số nước xuất khẩu hàng hóa phải thích ứng với xu hướng giá cả giảm thấp, nợ nần tiếp tục đeo bám tại một số quốc gia, triển vọng kinh tế trung hạn không mấy sáng sủa tại các nước phát triển, một số vấn đề xã hội và căng thẳng địa chính trị gia tăng tại nhiều nước trên thế giới.

Về triển vọng kinh tế trung hạn, GDP toàn cầu được dự báo sẽ vượt ngưỡng cận biên vào năm 2018, tăng 3,8% vào năm 2022, chủ yếu nhờ hoạt động kinh tế gia tăng tại các nước đang phát triển và mới nổi, với GDP tăng tới 5% trong giai đoạn dự báo. Báo cáo cũng đưa ra kỳ vọng lạc quan về tăng trưởng kinh tế tại các nước xuất khẩu hàng hóa, mặc dù thấp hơn kết quả tăng trưởng trong giai đoạn 2000-2015; kinh tế Ấn Độ tăng tốc nhờ các nỗ lực cải cách cơ cấu, kinh tế Trung Quốc tăng chậm dần nhưng vẫn khá cao và cân bằng hơn.

Tại Mỹ, GDP được kỳ vọng tăng nhanh trong năm 2017-2018 với tốc độ tăng lần lượt đạt 2,3% và 2,5%, tăng tổng cộng 0,5% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016, chủ yếu do tình hình kinh tế lạc quan trong những tháng cuối năm 2016, nhất là chu kỳ phục hồi kinh tế, lượng hàng hóa tích trữ dồi dào, tiêu dùng tăng cao, xu hướng nới lỏng tài khóa trong tương lai. Những kỳ vọng về thay đổi chính sách đã kích thích các thị trường tài chính và củng cố niềm tin của các doanh nghiệp, tiếp sức cho động lượng kinh tế. Tuy nhiên, triển vọng kinh tế trung hạn có vẻ trầm lắng, GDP tiềm năng chỉ tăng 1,8%, chủ yếu do dân số già hóa và năng suất tăng chậm dần.

Tại khu vực đồng tiền chung euro, GDP năm 2017-2018 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng như trong năm 2016. Triển vọng phục hồi khiêm tốn này bắt nguồn từ xu hướng mở rộng tài khóa, điều kiện tài chính thuận lợi, đồng euro yếu, tác động lan tỏa từ chính sách nới lỏng tài khóa tại Mỹ, bất định chính sách do bầu cử sắp tới tại một số quốc gia thành viên, triển vọng các mối quan hệ kinh tế với Vương quốc Anh sau khi quốc gia này rời Liên minh châu Âu (EU). Trong hai năm 2017-2018, GDP tại khu vực euro lần lượt tăng 1,7% và 1,6%. Tương tự, GDP cũng được điều chỉnh tăng nhẹ tại CHLB Đức (tăng 1,6% trong năm 2017 và 1,5% trong năm 2018), Italia (0,8% trong năm 2017 và năm 2018), Tây Ban Nha (2,6% trong năm 2017 và 2,1% trong năm 2018), nhưng GDP tại Pháp chỉ tăng khiêm tốn (1,4% trong năm 2017 và 1,6% trong năm 2018).

Tại Vương quốc Anh, GDP được dự báo tăng 2,0% trong năm 2017, nhưng chỉ tăng 1,5% trong năm 2018, thay đổi đáng kể so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016 là GDP năm 2017 chỉ tăng 1,1% và GDP năm 2018 tăng tới 1,7%. Sự điều chỉnh này bắt nguồn từ kỳ vọng kinh tế thời kỳ hậu Brexit, với những thay đổi có nhiều khả năng là chỉ diễn ra từ từ, đồng thời phản ánh nhu cầu sức mua giảm dần do bảng Anh mất giá và những bất định trong hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân. Kinh tế ngắn hạn có thể tăng cao, nhưng triển vọng kinh tế trung hạn không mấy lạc quan, do nhiều rào cản về thương mại và di chuyển lao động, cũng như hoạt động tài chính xuyên biên giới.

Tại Nhật Bản, tài khoản quốc gia cải thiện một cách toàn diện đã hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Trong đó, xuất khẩu trong năm 2016 tăng cao hơn kỳ vọng đã tiếp sức cho động lực tăng trưởng, GDP năm 2017 tiếp tục tăng và đạt 1,2%, nhưng sẽ giảm dần từ năm 2018 do tác động mờ nhạt dần của các biện pháp hỗ trợ tài tài khóa, và nhập khẩu tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách quốc tế trong dịp Olympic Tokyo. Trong giai đoạn trung hạn, lực lượng lao động giảm dần sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người không thay đổi đáng kể so với những năm gần đây.

Tại hầu hết những nước phát triển khác, hoạt động kinh tế được kỳ vọng sẽ tăng tốc. GDP tại Thụy Sỹ có thể tăng 1,4% trong năm 2017 và 1,6% trong năm 2018, chủ yếu nhờ nhu cầu trong và ngoài nước tăng vững, tác động yếu dần của frank Thụy Sỹ sau khi tăng giá mạnh trong thời gian qua. Kinh tế Thụy Điển tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao, đạt 2,7% trong năm 2017 và 2,4% trong năm 2018, giảm tương đối so với kết quả tăng 3,3% trong năm 2015-2016 do chi tiêu công trở lại bình thường và hoạt động đầu tư không còn sôi động như trước, qua đó hạn chế phần nào nhu cầu chi tiêu tư nhân. GDP phục hồi dần tại các nước xuất khẩu như Na Uy, Canada, Australia, với kết quả tăng trưởng năm 2017 lần lượt là 1,2%, 1,9% và 3,1%. Tại Australia và Na Uy, yếu tố thúc đẩy tăng trưởng bắt nguồn từ chính sách tiền tệ thích hợp, các biện pháp hỗ trợ tài khóa và đầu tư hạ tầng, giá cả tăng cũng khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa. Tại Canada, nền kinh tế này cũng hưởng lợi từ triển vọng lạc quan của nền kinh tế Mỹ và USD tăng giá.

Tại các nền kinh tế phát triển châu Á, GDP năm 2017 tại Hồng Kông được điều chỉnh tăng nhẹ và đạt 2,4%, tại Đài Loan (1,7%), Singapore (2,2%), một phần là do nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc tăng trở lại. Trái lại, GDP năm 2017 tại Hàn Quốc được điều chỉnh giảm so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016, do tiêu dùng tư nhân yếu ớt khi các biện pháp hỗ trợ tạm thời không còn phát huy tác dụng, bất định chính sách, nợ cá nhân ở mức cao.

Tại Trung Quốc, GDP được dự báo tăng 6,6% trong năm 2017 và tăng 6,2% trong năm 2018 (thay đổi 0,4% và 0,2% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016), phản ánh động lực tăng trưởng trong năm 2016, khi các biện pháp hỗ trợ chính sách đã góp phần mở rộng tín dụng và đầu tư nhằm chặn đà suy giảm tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, triển vọng kinh tế trung hạn tiếp tục trầm lắng, do phân bổ nguồn lực tiếp tục có vấn đề, những thiệt hại do biện pháp nới lỏng tiền tệ hiện nay.

Đối với những nước đang phát triển và mới nổi khác tại châu Á, GDP được dự báo tiếp tục tăng vững, mặc dù thấp hơn so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016. GDP năm 2017 tại Ấn Độ chỉ tăng 7,2% (giảm 0,4% so với dự báo trước đó), chủ yếu do khan hiếm tiền mặt sau đợt đổi tiền đã kìm hãm tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên, kinh tế trung hạn vẫn thuận lợi, GDP có thể tăng 8% nhờ các nỗ lực tái cấu các lĩnh vực chủ chốt. Hoạt động kinh tế tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam được dự báo tăng nhẹ trong năm 2017 với tốc độ tăng lần lượt đạt 5,1%, 4,5%, 6,8% và 6,5%, kinh tế Thái Lan sẽ phục hồi sau thời gian suy giảm du lịch và chi tiêu dùng.

Tại các nước Mỹ Latinh và Caribê, GDP được dự báo tăng 1,1% trong năm 2017 và 2,0% trong năm 2018 (giảm 0,5% và 0,2% so với dự báo trước đó). Giữa các nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt khá lớn. Kinh tế các nước xuất khẩu phục hồi dần nhờ giá cả hàng hóa tăng trở lại, trong khi những yếu tố nền tảng trong nước tiếp tục đóng vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Trong đó, GDP tại Mêhicô chỉ tăng 1,7% trong năm 2017 và 2,0% trong năm 2018 (giảm tổng cộng 1,2% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016), phản ánh triển vọng mờ mịt về hoạt động đầu tư và thương mại do tình hình tài chính khó khăn và những rào cản trong mối quan hệ thương mại với Mỹ.

Trong nhóm quốc gia xuất khẩu hàng hóa, kinh tế Brazil được kỳ vọng thoát khỏi suy thoái, tăng 0,2% trong năm 2017 và 1,7% trong năm 2018 (giảm 0,3% và tăng 0,2% so với dự báo trước đó), chủ yếu nhờ tình hình chính trị ổn định dần, chính sách tiền tệ nới lỏng và các nỗ lực cải cách; giá cả hàng hóa tăng trở lại cũng hỗ trợ tích cực cho kinh tế Chilê và Colombia với GDP năm 2017 dự kiến lần lượt tăng 1,7% và 2,3%. Sau khi giảm thấp trong năm 2016, kinh tế Argentina tăng trở lại 2,2% trong năm 2017 (nhờ tiêu dùng và đầu tư công tăng cao) và tăng 2,3% trong năm 2018 (nhờ đầu tư và xuất khẩu tăng dần). Trái lại, kinh tế Venezuela tiếp tục chìm trong khủng hoảng, với GDP giảm 7,4% trong năm 2017 và giảm 4,1% trong năm 2018, tài chính và tiền tệ thâm hụt trầm trọng, kinh tế rối loạn, lạm phát tăng cao.

Tại cộng đồng các quốc gia độc lập, tình hình kinh tế có dấu hiệu cải thiện, tăng 1,7% trong năm 2017, cao hơn 0,3% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016. Kinh tế CHLB Nga bắt đầu thoát khỏi suy thoái, đạt mức tăng 1,4% trong năm 2017, sau khi giảm tổng cộng 3% trong hai năm trước đó. Kinh tế CHLB Nga tăng tốc phản ánh xu hướng phục hồi của giá dầu, điều kiện tài chính thuận lợi đã củng cố lòng tin và thúc đẩy nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, tăng trưởng tiềm năng của CHLB Nga bị cản trở do cải cách chậm chạp, thu nhập bình quân đầu người còn thấp so mặt bằng thu nhập tại nhiều nước phát triển. Kinh tế các nước đang phát triển và mới nổi tại châu Âu (trừ trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ) tiếp tục phát triển thuận lợi, tăng 3,0% trong năm 2017 và 3,3% trong năm 2018.

Tại khu vực cận Sahara, kinh tế sẽ phục hồi dần, tăng 2,6% trong năm 2017 và 3,5% trong năm 2018, chủ yếu phản ánh tình hình tại các nền kinh tế lớn trong khu vực. Sau khi giảm 1,5% trong năm 2016 do những rối loạn trong hoạt động khai thác dầu mỏ và tỷ giá, kinh tế Nigeria được dự báo tăng 0,8% trong năm 2017, chủ yếu nhờ giá dầu tăng trở lại, nông nghiệp tiếp tục phát triển, đầu tư công tăng cao. Tại CH Nam Phi, kinh tế cũng kỳ vọng phục hồi nhẹ, đạt mức tăng 0,8% trong năm 2017 nhờ giá hàng hóa tăng trở lại, hạn hán không khắc nghiệt như trước, năng lực cung cấp điện cải thiện đáng kể.

Tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi, triển vọng kinh tế khá yếu ớt, GDP năm 2017 chỉ tăng 2,6%, giảm 0,8% so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016. Tăng trưởng kinh tế ỳ ạch phản ánh những khó khăn tại các nước xuất khẩu dầu mỏ, sau khi Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đạt thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu, ngoài ra phải kể đến những bất ổn trong nước và căng thẳng địa chính trị trong khu vực. Do phải cắt giảm sản lượng dầu khai thác và các biện pháp tái cơ cấu tài khóa, GDP năm 2017 tại Arập Xê út chỉ tăng 0,4%, trước khi đạt mức tăng 1,3% vào năm 2018. Tương tự, GDP năm 2017 tại hầu hết những quốc gia xuất khẩu khác trong khu vực cũng giảm sâu. Trái lại, kinh tế tại các nước nhập khẩu dầu trong khu vực được dự báo tiếp tục tăng tốc, đạt 4,0% trong năm 2017 và 4,4% trong năm 2018. Trong đó, kinh tế Pakistan phục hồi mạnh, tăng 5% trong năm 207 và 5,2% trong năm 2018, chủ yếu do đầu tư hạ tầng tăng cao. Nhờ các nỗ lực cải cách toàn diện, kinh tế Ai Cập dự báo tăng 3,5% trong năm 2017 và 4,5% trong năm 2018.

Các chuyên gia IMF cho rằng, một sự điều chỉnh tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, nhưng có thể gây bất ổn tài chính toàn cầu, thậm chí châm ngòi cho cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn. Ngoài ra, phải kể đến những căng thẳng địa chính trị kéo dài, nhất là tại Trung Đông và Bắc Phi. Trong bối cảnh đó, các chính sách kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro và đảm bảo tiến trình phục hồi kinh tế. Tại mỗi nước, cần có chính sách khuyến khích nhu cầu trong nước, và điều chỉnh bảng cân đối tài sản trong trường hợp cần thiết và khả thi; cải thiện năng suất thông qua các biện pháp tái cơ cấu, chi tiêu hợp lý cho phát triển hạ tầng, cung ứng tài khóa một cách hiệu quả, hỗ trợ quá trình chuyển đổi cơ cấu như thay đổi công nghệ và toàn cầu hóa. Tại nhiều nước, cần có chiến lược đáng tin cậy nhằm bố trí lại quy mô và cơ cấu nợ công theo xu hướng bền vững. Đối với nhiều nước đang phát triển và mới nổi, việc thích ứng với mặt bằng giá cả thấp và ngăn ngừa tổn thất tài chính tiếp tục là thách thức cơ bản. Trên toàn cầu, cần đổi mới các nỗ lực đa phương nhằm đối phó với những thách thức chung đang nổi lên trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.

Xuân Thanh

Nguồn: IMF tháng 4/2017

 

 

 

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready