Thuế tăng,
đầu tư, tiêu dùng có ngưng trệ?!
Hậu quả bất lợi là nhãn tiền, trong khi đánh giá tác động còn quá sơ sài
Ngọc Khanh
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 luật thuế do Bộ Tài chính thực hiện đang tiếp tục vấp phải hàng loạt ý kiến phản đối từ cộng đồng DN, hiệp hội, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Với diện bao phủ rộng trên 5 luật thuế quan trọng là thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế tài nguyên, dự thảo luật được đánh giá là có vai trò cực kỳ quan trọng, tác động sống còn với nhiều DN trong nhiều ngành kinh tế.
Tác động sống còn tới nhiều ngành
Dự thảo có nhiều nội dung quan trọng như mở rộng các đối tượng chịu thuế GTGT, tăng thuế GTGT từ 10% lên 12% từ năm 2019; áp thuế TTĐB với nước ngọt, trà, cà phê đóng lon, thuốc lá… Ngoài ra, dự thảo còn đề xuất tăng mạnh thuế với xe bán tải, tính thuế xe con theo tỷ lệ nội địa hóa tức phần linh kiện sản xuất trong nước sẽ được miễn thuế...
Đây không phải là lần đầu tiên Bộ Tài chính “doạ” tăng thuế GTGT đối với mặt hàng nước giải khát, đặc biệt là nước ngọt có ga. Tuy nhiên cũng như các lần đề xuất trước, ý kiến này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các DN trong ngành này. Ông Nguyễn Tiến Vỵ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam khẳng định, dự thảo Luật nếu được thông qua sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các công ty nước giải khát. Cụ thể là các DN này sẽ phải chịu hàng loạt loại thuế với mức tăng và bổ sung, đó là thuế GTGT tăng từ 10% lên 12%; thuế TTĐB là 10%; và mức thuế suất VAT áp dụng cho đường tăng từ 5% lên 6%.
Như vậy đối với thị trường giá các sản phẩm nước giải khát sẽ tăng ít nhất 12%, ảnh hưởng đến doanh số tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, chi phí sản xuất sẽ tăng lên do mức tăng thuế suất GTGT áp dụng cho đường. Tất cả các yếu tố này sẽ gây ra hàng loạt hệ luỵ như tăng giá thành sản phẩm; giảm khả năng tiêu thụ sản phẩm; giảm doanh thu có thể kéo theo giảm quy mô sản xuất, giảm lao động, và giảm thuế thu nhập DN. Đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của luật thuế này sẽ là các DNNVV.
Theo ông Vỵ, các hậu quả bất lợi là nhãn tiền, trong khi đó báo cáo giải trình của Bộ Tài chính về luật này chưa trả lời được câu hỏi liệu luật sẽ tác động như thế nào đối với nền kinh tế, với ngành công nghiệp nước giải khát và người tiêu dùng.
Còn theo ông Bùi Ngọc Tuấn, Phó TGĐ dịch vụ tư vấn thuế, Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, dự thảo luật đã mở rộng đối tượng chịu thuế một cách không thoả đáng. Đó là việc đưa quyền sử dụng đất trở thành đối tượng chịu thuế GTGT. Điều này không chỉ ảnh hưởng về mặt pháp lý mà còn cả về kinh tế - xã hội. Ông Tuấn phân tích, thuế GTGT đánh vào hàng hoá dịch vụ, trong khi quyền sử dụng đất không phải hàng hoá bình thường, mà là quyền pháp lý. Trong danh mục cũng quy định một số quyền khác như quyền sở hữu trí tuệ, quyền góp vốn… cũng không phải hàng hoá trong danh mục chịu thuế, không phải hàng hoá thông thường mà bản chất là một khoản thu ngân sách Nhà nước.
“Nếu chúng ta coi đây là hàng hoá chịu thuế thì sẽ dẫn đến tình trạng phát sinh phí chồng phí”, ông Tuấn nhấn mạnh. Kéo theo đó sẽ là ảnh hưởng kinh tế - xã hội đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, ảnh hưởng giá trị tài chính của hoạt động kinh doanh này. Như vậy việc nếu áp dụng quy định này sẽ tạo cú sốc lớn với tất cả các đối tượng tham gia giao dịch bất động sản, ảnh hưởng hoạt động tín dụng cho vay đối với lĩnh vực bất động sản, xây dựng…
Không liên quan trực tiếp đến tiêu dùng, song một số ngành khác cũng đã bắt đầu đánh tiếng lo xa về tác động của dự án luật này. Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, thuế suất GTGT tăng lên tới 12% sẽ tác động trực tiếp đến người tiêu dùng, làm chi phí tiêu dùng tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống người dân nói chung. Đối với ngành bảo hiểm cũng chịu tác động mạnh khi người dân không đủ năng lực tài chính để tham gia bảo hiểm, ảnh hưởng đến an sinh xã hội và giảm khả năng phát triển của thị trường.
Đánh giá tác động cần “tới nơi tới chốn”
Bình luận về quyết định tăng hàng loạt sắc thuế của Bộ Tài chính, các chuyên gia cho rằng khâu đánh giá tác động của các phương án điều chỉnh thuế vẫn chưa đủ thông tin cần thiết. Ở đây, cả tác động vĩ mô đến toàn bộ nền kinh tế, đến thu ngân sách; và tác động ở cấp độ vi mô – đối với "sức khỏe" và sự sống còn của DN; lẫn tác động cụ thể đến từng nhóm dân cư với thu nhập khác nhau… đều chưa được làm rõ.
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) dẫn chứng, chỉ đơn cử như quyết định tăng thuế TTĐB đối với sản phẩm nước ngọt, trà cà phê… các DN đều nhất trí rằng tác động của chính sách này sẽ rất rộng. Đó là nếu giảm tiêu thụ đường thì hệ quả gây ra với ngành đường là như thế nào? Nếu đường mà giảm tiêu thụ thì nông dân trồng mía sẽ ảnh hưởng ra sao? Đó là chưa kể các DN khác trong chuỗi như các nhà phân phối bán lẻ… Đó là hệ quả dây chuyền mà cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Ông Tuấn cho rằng, đề án vừa qua của Bộ Tài chính tương đối vắn tắt mà ngay cả các cơ quan có liên quan như VCCI cũng không biết đã có nghiên cứu cụ thể chưa.
Dưới góc độ chuyên gia độc lập, song cũng đã từng có nhiều năm làm công tác quản lý thuế, bà Đặng Thị Bình An, Công ty TNHH tư vấn thuế C&A chỉ ra thực tế là thuế suất thuế GTGT của Việt Nam so với một số nước có thể thấp nhưng kết cấu thuế GTGT trong tổng số thu ngân sách so với một số nước lại cao. Kết cấu như vậy là chưa hợp lý, thể hiện rằng có nhiều khoản thu khác phát sinh trong nền kinh tế nhưng chưa được cơ quan thuế bao quát hết, do các vướng mắc trong luật nên chưa thu được. Ví dụ thuế tài sản là một sắc thuế cần được áp dụng mạnh hơn nhưng tới này vẫn chưa thực hiện được. “Từ hồi tôi làm thuế đến nay đã mấy chục năm mới thấy có 1 sắc thuế mới là thuế bảo vệ môi trường được áp dụng”, bà An dẫn chứng.
Vì vậy theo vị này, trong nền kinh tế thị trường cần có các chính sách điều chỉnh nguồn thu một cách hợp lý. Ngoài tăng thuế suất thuế GTGT như dự thảo, các chuyên gia đề nghị Bộ Tài chính cần nghiên cứu trình Chính phủ và Quốc hội ban hành các Luật thuế mới nhằm điều tiết nguồn thu nhập từ các nguồn thu nhập khác phát sinh phù hợp với nền kinh tế thị trường nhằm tăng thu ngân sách, thay đổi kết cấu thu ngân sách một cách hợp lý.