Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Các nền kinh tế đang phát triển của Châu Á đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phục hồi

21/07/2022 23:42:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á bổ sung tháng 7/2022 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) điều chỉnh dự báo tăng trưởng cho các nước đang phát triển ở châu Á năm 2022 còn 4,6% (từ mức 5,2% trong dự báo tháng 4/2022) và còn 5,2% cho năm 2023 (từ mức 5,2%). Trong khi đó, dự báo lạm phát cho các nền kinh tế đang phát triển châu Á được nâng từ 3,7% lên 4,2% vào năm 2022 và từ 3,1% lên 3,5% vào năm 2023 do giá nhiên liệu và lương thực cao hơn. ADB tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng của Việt Nam ở mức 6,5% năm 2022 và 6,7% vào năm 2023 với các mức lạm phát tương ứng là 3,8% và 4,0%.

Những diễn biến gần đây

Thời gian vừa qua, mặc dù dịch COVID-19 vẫn tồn tại nhưng đã giảm đáng kể, với số ca mắc hàng ngày giảm rõ rệt trên toàn cầu cũng như tại khu vực châu Á đang phát triển nhờ vào những tiến bộ về tiêm chủng. Điều này đã cho phép nhiều nền kinh tế trong khu vực tiếp tục giảm bớt các biện pháp hạn chế để ngăn chặn lây lan của COVID-19. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, việc tuân thủ chiến lược zero-COVID để đối phó với các đợt bùng phát mới vào đầu năm 2022 đã kích hoạt việc tái thiết lập các biện pháp phong tỏa chặt chẽ. Mặc dù xuất khẩu của nước này đã giảm vào tháng 4 do các đợt phong tỏa, nhưng sau đó đã tăng trở lại khi các hạn chế được nới lỏng.

Với việc nhiều nền kinh tế trong khu vực ngày càng chọn cách sống chung với virus và mở cửa trở lại, hoạt động kinh tế tiếp tục tăng trưởng trong nửa đầu năm 2022. Mặc dù tác động của COVID-19 đã giảm ở hầu hết các nước đang phát triển ở châu Á, hậu quả kinh tế từ cuộc chiến Nga- Ukraine đối với khu vực này vẫn tăng lên. Sự gián đoạn nguồn cung do chiến tranh và các lệnh trừng phạt leo thang áp đặt lên Liên bang Nga đã dẫn đến giá hàng hóa toàn cầu tăng đột biến và duy trì ở mức cao. Do đó, áp lực lạm phát đã gia tăng ở nhiều nền kinh tế trong khu vực tuy nhiên vẫnđược kiểm soát tốt tại các nền kinh tế lớn đang phát triển của châu Á. Nhờ vậy, lạm phát trung bình của cả khu vực vẫn ở mức vừa phải và thấp hơn nhiều so với các nơi khác trên thế giới.

Áp lực lạm phát gia tăng đã thúc đẩy các ngân hàng trung ương bắt đầu hoặc đẩy nhanh tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ. Các cơ quan quản lý tiền tệ ở các nước đang phát triển ở châu Á cũng đang tuân theo xu hướng chung, tăng lãi suất để đối phó với lạm phát và giảm áp lực bên ngoài, ngay cả khi tốc độ tăng trưởng vẫn thấp hơn xu hướng trước đại dịch ở hầu hết các nền kinh tế trong khu vực.

Trong bối cảnh môi trường kinh tế đang xấu đi, dự báo tăng trưởng cho các nước đang phát triển ở châu Á được điều chỉnh giảm so với dự báo đưa ra hồi tháng 4/2022 từ 5,2% xuống 4,6% cho năm 2022 và từ 5,3% xuống 5,2% cho năm 2023. Dự báo lạm phát được điều chỉnh tăng cho cả hai năm từ 3,7% lên 4,2% vào năm 2022 và từ 3,1% lên 3,5% vào năm 2023 chủ yếu do giá nhiên liệu và thực phẩm tăng.

Theo ADB, rủi ro đối với triển vọng kinh tế của khu vực vẫn ở mức cao và chủ yếu liên quan đến các yếu tố bên ngoài. Tốc độ tăng trưởng toàn cầu chậm lại đáng kể có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu, hoạt động sản xuất và triển vọng việc làm, đồng thời gây ra sự hỗn loạn trên thị trường tài chính. Việc FED và các NHTW lớn khác thắt chặt tiền tệ - ngay cả khi được dự đoán trước - có thể tác động đến tăng trưởng và làm chao đảo các thị trường tài chính trong khu vực. Hậu quả tồi tệ hơn từ cuộc chiến Nga - Ukraine có thể dẫn đến giá năng lượng và hàng hóa toàn cầu tăng cao hơn nữa, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và lạm phát ở châu Á đang phát triển. Đặc biệt, giá lương thực tăng và tình trạng thiếu hụt có thể đe dọa an ninh lương thực và làm gia tăng căng thẳng xã hội ở một số nền kinh tế. Trong nội tại khu vực, các rủi ro giảm tăng trưởng có thể phát sinh từ những tác động tiềm tàng kéo dài đối với chuỗi cung ứng do các đợt phong tỏa gần đây của Trung Quốc và tốc độ tăng trưởng chậm lại của nước này, có thể cản trở đà tăng trưởng đang phát triển của châu Á.

Dự báo tăng trưởng và lạm phát các nền kinh tế lớn

ADB dự báo tăng trưởng của khu vực Đông Á năm 2022 giảm còn 3,8% từ mức 4,7% được dự báo hồi tháng 4/2022 do tăng trưởng ở Trung Quốc sẽ yếu hơn so với dự kiến ​​trước đó. Nền kinh tế của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng bởi các ca lây nhiễm COVID-19 mới ở Thượng Hải và các thành phố khác, cùng các đợt đóng cửa kéo dài làm ảnh hưởng đến tiêu dùng và đầu tư đầu quý 2. Ngoài tiêu dùng giảm, thị trường nhà ở chưa ổn định cũng là một gánh nặng đối với nền kinh tế của Trung Quốc. Giá nhà mới trung bình tại 70 thành phố lớn đã giảm 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái vào tháng 5/2022, bất chấp việc giảm sàn lãi suất thế chấp đối với người mua nhà lần đầu và giảm lãi suất cho khoản vay kỳ hạn 5 năm. Dự báo tăng trưởng của Trung Quốc được điều chỉnh giảm 1 điểm phần trăm xuống 4% vào năm 2022 với giả định tiêu dùng hộ gia đình sẽ dần phục hồi, khu vực bất động sản ổn định, đầu tư cơ sở hạ tầng tăng trong nửa cuối năm và các biện pháp của chính phủ để thúc đẩy cung cấp tín dụng. Dự báo cho năm 2023 vẫn không thay đổi vì những tác động mang lại từ việc thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm 2022 có thể sẽ bị cản trở bởi những nỗ lực củng cố tài khóa trong năm tới.

Tăng trưởng GDP của Hàn Quốc cũng đã chậm lại đáng kể trong quý 1/2022, còn 3,1% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất hàng quý tính từ đầu năm 2021. Nền kinh tế bị tác động bởi tăng trưởng tiêu dùng tư nhân chậm lại, tăng trưởng đầu tư cố định yếu, đầu tư xây dựng và cơ sở vật chất giảm. Tuy nhiên, nhu cầu bên ngoài vẫn mạnh với tăng trưởng xuất khẩu tăng lên 9,0%, nhập khẩu chậm lại. Áp lực lạm phát sẽ kìm hãm tăng trưởng tiêu dùng tư nhân, lãi suất tăng kéo theo gánh nặng nợ của các doanh nghiệp và hộ gia đình, hạn chế hơn nữa tăng trưởng chi tiêu hộ gia đình và đầu tư kinh doanh. Xuất khẩu cũng dự kiến ​​sẽ suy yếu trong nửa cuối năm 2022 do nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu chính chậm lại và sự gián đoạn chuỗi cung ứng tiếp tục ảnh hưởng đến ngành sản xuất. Do những kỳ vọng này, cùng với mức tăng trưởng quý 1 thấp hơn dự kiến, dự báo tăng trưởng năm 2022 của Hàn Quốc được điều chỉnh xuống 2,6%.

ADB cũng điều chỉnh hạ dự báo lạm phát cho khu vực Đông Á từ 2,4% xuống 2,3% cho năm nay do kỳ vọng lạm phát thấp hơn ở các nền kinh tế lớn. Tại Trung Quốc, giá tiêu dùng chỉ tăng chậm trong 5 tháng đầu năm 2022. Lạm phát giá tiêu dùng được dự báo sẽ thấp hơn một chút ở mức 2,1% vào năm 2022 do tăng trưởng GDP yếu hơn và duy trì ở mức 2,0% cho năm 2023.

Giá tiêu dùng ở Hàn Quốc tăng 5,4% so với cùng kỳ vào tháng 5, mức tăng lớn nhất kể từ tháng 8/2008. Lạm phát đã tăng nhanh kể từ năm 2021, vượt quá mục tiêu 2% của ngân hàng trung ương trong 14 tháng liên tiếp. Xu hướng lạm phát mạnh được thúc đẩy bởi sự kết hợp của giá hàng hóa toàn cầu tăng và tiêu dùng tăng đột biến sau đại dịch. Do đó, dự báo lạm phát của Hàn Quốc được điều chỉnh tăng từ 3,2% lên 4,5% cho năm 2022 và từ 2,0% lên 3,0% cho năm 2023.

Các nền kinh tế thuộc Nam Á dự kiến ​​sẽ tăng trưởng ít hơn so với dự báo của ADB đưa ra hồi tháng 4/2022. Điều này chủ yếu do dự báo tăng trưởng GDP của Ấn Độ chậm lại do lạm phát cao hơn và thắt chặt tiền tệ. Theo đó, dự báo tăng trưởng của Nam Á được điều chỉnh giảm từ 7,0% xuống 6,5% cho năm 2022 và từ 7,4% xuống 7,1% vào năm 2023. GDP của Ấn Độ - nền kinh tế lớn nhất thuộc tiểu vùng được dự báo giảm từ 8,9% xuống còn 8,7% cho năm tài khóa 2021 và từ mức 7,5% xuống còn 7,2% cho năm tài khóa 2022. Lạm phát của Nam Á cũng được điều chỉnh tăng từ 6,5% lên 7,8% cho năm 2022 và từ 5,5% lên 6,6% cho năm 2023.

Khu vực Đông Nam Á

ADB đánh giá, tăng trưởng tiêu dùng ở tất cả các nền kinh tế Đông Nam Á phục hồi mạnh mẽ trong 5 tháng đầu năm 2022 nhờ việc dỡ bỏ dần các hạn chế di chuyển do COVID-19 và mở cửa trở lại thị trường và biên giới. Tăng trưởng sản xuất và dịch vụ phục hồi và phát triển ở hầu hết các nền kinh tế, tạo ra việc làm và nâng cao thu nhập của các hộ gia đình. Tuy nhiên, các nền kinh tế Đông Nam Á phải đối mặt với những thách thức do giá dầu cao hơn, hoạt động thương mại và nguồn cung tiếp tục gián đoạn và sự kết thúc của thời kỳ lãi suất toàn cầu thấp. Những yếu tố này đã làm mờ đi triển vọng của một số nền kinh tế trong năm 2022 và 2023, tuy nhiên những tiến bộ trong tiêm chủng và du lịch phục hồi giúp triển vọng kinh tế của Đông Nam Á được dự báo tăng nhẹ lên 5,0% vào năm 2022 từ mức 4,9% trước đó và cho năm 2023 được duy trì ở mức 5,2%. Dự báo lạm phát của Đông Nam Á năm 2022 đã được nâng lên đáng kể từ 3,7% lên 4,7% và từ 3,1% lên 3,4% cho năm 2023. Lạm phát cao hơn trong cả hai năm do tăng giá năng lượng và thực phẩm cùng sự gián đoạn chuỗi cung ứng.

Tăng trưởng năm 2022 của Indonesia được dự báo tăng từ 5,0% lên 5,2%, phản ánh nhu cầu trong nước và xuất khẩu mạnh mẽ. Hoạt động kinh tế tiếp tục bình thường hóa và số ca lây nhiễm COVID-19 được kiểm soát. Việc làm, thu nhập và lòng tin được củng cố đang giúp thúc đẩy tiêu dùng tư nhân. Nhu cầu và tín dụng tăng đang kích thích đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, chính sách tài khóa đang trở nên ít hỗ trợ hơn khi chi tiêu liên quan đến đại dịch bị cắt giảm. Dự báo lạm phát của Indonesia năm 2022 được nâng từ 3,6% lên 4,0%.

Dự báo tăng trưởng DGP của Malaysia được điều chỉnh giảm xuống 5,8% vào năm 2022 và 5,1% vào năm 2023 do sự không chắc chắn gia tăng và tăng trưởng toàn cầu yếu hơn ảnh hưởng đến triển vọng của nền kinh tế này. Mặc dù Malaysia đạt tăng trưởng 5% trong quý 1/2022 nhờ tiêu dùng tư nhân mạnh mẽ và sự hỗ trợ của chính phủ gia tăng nhưng niềm tin kinh doanh và chỉ số PMI tiếp tục giảm dần do triển vọng toàn cầu yếu hơn và sự gián đoạn nguồn cung từ Trung Quốc do các đợt phong tỏa để giải quyết sự bùng phát COVID-19. Tăng trưởng nông nghiệp vẫn ở mức thấp do điều kiện thời tiết bất lợi và những cú sốc về chi phí đầu vào từ cuộc chiến ở Ukraine. Du lịch đang phục hồi chậm với lượng khách đến trong năm nay dự kiến ​​chỉ bằng 1/3 mức trước đại dịch. Nhờ kiểm soát tốt giá cả và trợ cấp đối với dầu và các sản phẩm thực phẩm cơ bản, lạm phát của Malaysia được điều chỉnh giảm cho năm 2022, từ 3,0% xuống 2,7% và duy trì ở mức 2,5% cho năm 2023

Bất chấp những diễn biến tích cực thời gian gần đây, tăng trưởng GDP của Thái Lan dự báo giảm nhẹ từ 3,0% xuống 2,9% cho năm 2022 và từ 4,5% xuống 4,2% cho năm 2023. Việc điều chỉnh này phản ánh tác động của giá năng lượng và hàng hóa tăng, kinh tế toàn cầu suy thoái, dự kiến ​​sẽ làm giảm nhu cầu xuất khẩu, tăng chi phí sản xuất và làm suy giảm sức mua của các hộ gia đình. Lạm phát của Thái Lan được dự báo tăng từ 3,3% lên 6,3% cho năm 2022 và từ 2,2% lên 2,7% cho năm 2023, chủ yếu do giá năng lượng tăng và chi phí chuyển dịch cao hơn dự kiến ​​sẽ ảnh hưởng đến giá của nhiều loại sản phẩm hơn.

Dự báo tăng trưởng của Philippines được nâng từ 6,0% lên 6,5% cho năm 2022 với kết quả hoạt động quý 1 tốt hơn dự kiến với sự phục hồi của đầu tư và tiêu dùng hộ gia đình. Việc mở rộng tiêm chủng COVID-19 và các tác động sức khỏe tương đối nhẹ từ biến thể Omicron đã cho phép nền kinh tế mở cửa trở lại hơn nữa. ADB tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng cho năm 2023 của Philippines ở mức 6,3% do thắt chặt tài chính và áp lực giá cả ảnh hưởng lớn hơn đến nhu cầu. Bên cạnh đó, có những rủi ro đáng kể đối với tăng trưởng trong nửa cuối năm do sự suy giảm ở các nền kinh tế lớn và khả năng giá hàng hóa tiếp tục tăng cao. Lạm phát năm 2022 của quốc gia này được dự báo tăng từ 4,2% lên 4,9% và từ 3,5% lên 4,3% vào năm 2023 do giá hàng hóa toàn cầu tăng và đồng peso giảm giá.

Đối với Singapore, ADB hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của quốc gia này xuống 3,9% và duy trì ở mức 3,2% cho năm 2023. Trong quý 1/2022, GDP của Singapore đã tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước với sự tăng trưởng mạnh mẽ của tiêu dùng tư nhân và đầu tư. Tăng trưởng sẽ vẫn vững chắc vào năm 2022, được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin và dịch vụ tài chính mạnh mẽ, tăng trưởng sản xuất bền vững và sự phục hồi dần dần của các ngành du lịch và dịch vụ hướng tới trong nước. Tuy nhiên, triển vọng về nhu cầu bên ngoài đã suy yếu do tăng trưởng chậm hơn dự kiến ​​ở hầu hết các đối tác thương mại lớn và áp lực lạm phát tiếp tục liên quan đến đại dịch COVID-19 và cuộc chiến ở Ukraine. Chi phí tài chính tăng trong bối cảnh điều kiện tài chính thắt chặt hơn có thể làm giảm đầu tư. Dự báo lạm phát của Singapore cho năm nay được nâng từ 3,0% lên 4,7% do giá hàng hóa tăng và duy trì ở mức 2,3% cho năm 2023.

Tại Việt Nam, thương mại tiếp tục mở rộng trong nửa đầu năm 2022, và dịch chuyển, sản xuất và tiêu dùng trong nước nhanh chóng phục hồi. ADB cho rằng nền kinh tế vẫn phải đối mặt với những thách thức từ môi trường kinh tế bên ngoài xấu đi do sự thắt chặt tiền tệ chủ động của các nền kinh tế phát triển và tăng trưởng chững lại của Trung Quốc. Tuy nhiên, dự báo tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục được duy trì ở mức cao 6,5% cho năm nay và 6,7% cho năm 2023. Dự báo lạm phát của Việt Nam cho năm 2022 và 2023 tiếp tục duy trì ở mức thấp lần lượt là 3,8% và 4,0%.

Triển vọng kinh tế năm 2022 của Lào có vẻ mờ nhạt hơn do niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp giảm do giá cả tăng và đồng nội tệ yếu hơn nhưng triển vọng dự kiến ​​sẽ được cải thiện vào năm 2023. Trong khi tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ có những cải thiện ở Myanmar, căng thẳng chính trị và tình hình an ninh biến động vẫn là những rủi ro lớn đối với sự phục hồi kinh tế. Giá nhiên liệu tăng và đồng tiền giảm đáng kể so với đô la Mỹ đang gây áp lực lên lạm phát tại các nền kinh tế này.

HN (theo ADB)

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready