Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu (WEO) tháng 10/2022 của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, nền kinh tế thế giới đang trải qua những thử thách đầy sóng gió. Lạm phát cao ở mức kỷ lục trong vòng 40 năm, các điều kiện tài chính thắt chặt ở hầu hết các khu vực trên thế giới, cuộc chiến Nga - Ukraine và đại dịch COVID-19 kéo dài tiếp tục đè nặng lên triển vọng toàn cầu.
Tăng trưởng toàn cầu chậm lại trong ngắn hạn
Theo IMF, tăng trưởng toàn cầu được dự báo chậm lại, từ mức 6,0 % vào năm 2021 còn 3,2% vào năm 2022 và 2,7% vào năm 2023. IMF cũng hạ dự báo cho năm 2023 thấp hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo được đưa ra tại Bản cập nhật WEO tháng 7/2022. Đối với hầu hết các nền kinh tế, triển vọng yếu hơn đáng kể so với các dự báo sáu tháng trước trong WEO tháng 4/2022. Tổng số 143 nền kinh tế (chiếm 92% GDP thế giới) được cho là sẽ tăng trưởng chậm hơn vào năm 2023.
Ba nền kinh tế lớn nhất thế giới, bao gồm: Trung Quốc, khu vực đồng euro và Hoa Kỳ, sẽ tăng trưởng chậm lại đáng kể trong 2022 và 2023, thấp hơn so với các dự đoán của chính IMF đưa ra vào tháng 4 và tháng 7/2022. Các điều chỉnh tiêu cực phản ánh việc hiện thực hóa những rủi ro giảm giá đã được đề cập trong báo cáo triển vọng toàn cầu hồi tháng 4 và bản cập nhật tháng 7/2022.
Việc thắt chặt toàn cầu điều kiện tài chính ở hầu hết các khu vực, liên quan đến kỳ vọng về việc tăng lãi suất cao hơn của các ngân hàng trung ương để chống lạm phát; sự chậm lại rõ rệt hơn của Trung Quốc do các đợt phong tỏa kéo dài để ngăn chặn dịch COVID-19 và cuộc khủng hoảng thị trường bất động sản ngày càng tồi tệ tại quốc gia này; hiệu ứng lan tỏa từ cuộc chiến của Nga tại Ukraine với nguồn cung cấp khí đốt từ Nga tới Châu Âu thắt chặt là những yếu tố tác động mạnh đến triển vọng kinh tế thế giới.
Dự báo cơ bản của IMF không đề cập tới suy thoái toàn cầu. Tuy nhiên, sự sụt giảm GDP thực tế trong ít nhất hai quý liên tiếp (mà một số nhà kinh tế gọi là "suy thoái kỹ thuật") được nhìn thấy ở một số thời điểm trong suốt các năm 2022 – 2023 và ở 31/72 (chiếm 43%) các nền kinh tế có dự báo dữ liệu hàng quý. Và các nền kinh tế này chiếm hơn 1/3 GDP thế giới. Hơn nữa, dự báo cho tăng trưởng toàn cầu quý 4 cũng đang chỉ ra sự suy yếu đáng kể, chỉ đạt 1,7% vào năm 2022 và lên 2,7% vào năm 2023. IMF điều chỉnh dự báo theo hướng tiêu cực hơn một cách rõ rệt dành cho các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển.
Đối với các nền kinh tế phát triển, dự báo tăng trưởng chậm lại từ mức 5,2% năm 2021 xuống 2,4% trong năm 2022 và chỉ đạt 1,1% vào năm 2023. Hoa Kỳ được dự báo sụt giảm từ 5,7% năm 2021 xuống còn 1,6% năm 2022 và 1,0% vào năm 2023. Khu vực đồng tiền chung euro, tăng trưởng được dự báo đạt 3,1% và 0,5% lần lượt cho 2022 và 2023.
Nhóm các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi ước tính chỉ đạt tăng trưởng 3,7% năm 2022 và 2023. Châu Á mới nổi và đang phát triển có thể chỉ đạt tăng trưởng 4,4% năm 2022 và 4,9% vào năm 2023 (thấp hơn 0,2 và 0,1 điểm phần trăm so với dự báo tháng 7), từ với mức 7,2% năm 2021. Đà giảm sút này phản ánh tốc độ chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc.
Lạm phát và rủi ro với triển vọng toàn cầu
Báo cáo của IMF đánh giá, thế giới đang trong thời kỳ đầy biến động: những thay đổi về kinh tế, địa chính trị và sinh thái đều tác động đến triển vọng toàn cầu. Lạm phát đã tăng lên đa cao, thúc đẩy chính sách tiền tệ thắt chặt nhanh chóng và thắt chặt ngân sách hộ gia đình, cùng với việc rút dần các chính sách hỗ trợ tài chính liên quan đến đại dịch COVID-19. Đồng thời, cuộc chiến đang diễn ra của Nga tại Ukraine và những căng thẳng ở những nơi khác đã làm tăng khả năng xảy ra gián đoạn địa chính trị đáng kể. Mặc dù tác động của đại dịch đã giảm bớt ở hầu hết các quốc gia, những làn sóng kéo dài của nó tiếp tục phá vỡ hoạt động của kinh tế, đặc biệt là ở Trung Quốc. Bên cạnh đó những đợt nắng nóng gay gắt và hạn hán trên khắp Châu Âu, Trung và Nam Á đã mang đến những nguy cơ nền kinh tế tàn phá bởi biến đổi khí hậu toàn cầu.
Lạm phát toàn cầu được dự báo sẽ tăng từ 4,7% vào năm 2021 lên 8,8% vào năm 2022 nhưng giảm xuống 6,5% vào năm 2023 và 4,1 % vào năm 2024. Lạm phát bất ngờ tăng và phổ biến nhất trong các nền kinh tế phát triển, và có sự biến động lớn hơn tại các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển. Tại Hoa Kỳ, mặc dù giá tiêu dùng giảm nhẹ trong tháng 7 và 8, lạm phát vẫn ở mức cao nhất trong 40 năm ở mức 8,3% trong tháng 8 so với cùng kỳ năm trước. Khu vực đồng euro cũng chứng kiến mức lạm phát lên tới 10% trong tháng 9, trong khi tỷ lệ này ở Vương quốc Anh là 9,9%. Các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển ước tính lạm phát đạt 10,1% trong quý II/2022 và đối mặt với đỉnh 11% trong quý III – mức cao nhất kể từ 1999.
Để ứng phó với lạm phát, nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới đã nhanh chóng thắt chặt chính sách tiền tệ. Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tăng lãi suất quỹ liên bang lên 3 điểm phần trăm kể từ đầu năm 2022 và cho biết sẽ tiếp tục tăng. NHTW Anh cũng tăng lãi suất điều hành 2 điểm phần trăm kể từ đầu năm bất chấp tăng trưởng suy yếu. NHTW châu Âu (ECB) tăng lãi suất điều hành thêm 1,25 điểm phần trăm trong năm nay. Lãi suất vì thế đã tăng nhanh và mạnh tại nhiều nền kinh tế, kéo theo chi phí vay tăng lên. Thắt chặt chính sách tiền tệ đi kèm với việc rút lại các chính sách hỗ trợ tài khóa Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại.
Bên cạnh chính sách tiền tệ, dịch COVID-19 tái bùng phát tại Trung Quốc đi cùng với đó là các đợt phong tỏa, hạn chế di chuyển như một phần của chiến lược zero-COVID của chính quyền đã cản trở hoạt động kinh tế trong nước cũng như làm tăng mức độ căng thẳng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với đó là leo thang cuộc chiến của Nga tại Ukraine và việc cắt giảm nguồn cung khí đốt đến châu Âu ngày càng trầm trọng đã làm khuếch đại những căng thẳng hiện có ở thị trường hàng hóa toàn cầu, thúc đẩy giá khí đốt tự nhiên cao hơn một lần nữa.
Nhìn chung, rủi ro đối với triển vọng vẫn lớn bất thường và theo hướng tiêu cực. Chính sách tiền tệ có thể tính toán sai lập trường đúng đắn để giảm lạm phát. Đường lối chính sách tại các nền kinh tế lớn nhất có thể tiếp tục phân hóa, dẫn đến đồng đô la Mỹ tiếp tục tăng giá và căng thẳng trong các quan hệ xuyên biên giới.
Thêm nhiều các cú sốc giá năng lượng hơn và thực phẩm có thể khiến lạm phát kéo dài hơn. Sự thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu có thể kích hoạt và mở rộng khó khăn về nợ tại các thị trường mới nổi. Việc Nga ngừng cung cấp khí đốt có thể giảm tăng trưởng tại châu Âu. Nguy cơ tái bùng phát dịch COVID-19 hoặc các mối đe dọa sức khỏe toàn cầu mới có thể khiến tăng trưởng càng thu hẹp hơn nữa. Khủng hoảng bất động sản tại Trung Quốc ngày càng xấu đi và có thể lan sang lĩnh vực ngân hàng trong nước đồng thời tác động nặng nề đến tăng trưởng của nền kinh tế, kéo theo các hiệu ứng xuyên biên giới tiêu cực. Bên cạnh đó, sự chia rẽ địa chính trị có thể cản trở dòng vốn và thương mại, tiếp tục gây trở ngại cho hợp tác chính sách khí hậu toàn cầu. Theo IMF, cán cân rủi ro nghiêng hẳn về phía giảm, với khoảng 25% cơ hội của một năm tới tăng trưởng toàn cầu giảm xuống dưới 2,0 %.
Các ưu tiên chính sách
Để tránh những rủi ro này cần bắt đầu bằng chính sách tiền tệ để duy trì sự ổn định giá cả. Thắt chặt tiền tệ chủ động và tích cực là rất quan trọng để tránh biến động kỳ vọng lạm phát của các hộ gia đình và doanh nghiệp dựa trên kỳ vọng về tiền lương và giá cả theo kinh nghiệm lạm phát của họ gần đây.
Ưu tiên của chính sách tài khóa là bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương thông qua hỗ trợ ngắn hạn để giảm bớt gánh nặng của cuộc khủng hoảng về chi phí sinh hoạt trên toàn cầu. Nhưng lập trường chung cần duy trì đủ chặt chẽ để giữ chính sách tiền tệ đúng mục tiêu.
Giải quyết vấn đề căng thẳng nợ công do tăng trưởng thấp hơn và chi phí đi vay cao hơn đòi hỏi một sự cải thiện có ý nghĩa trong các khuôn khổ về nợ. Với việc thắt chặt các điều kiện tài chính, chính sách an toàn vĩ mô vẫn cần đề phòng các rủi ro hệ thống. Tăng cường tái cơ cấu mạnh mẽ để cải thiện năng suất và năng lực nền kinh tế sẽ giảm bớt các căng thẳng về nguồn cung và qua đó hỗ trợ chính sách tiền tệ chống lạm phát.
Các chính sách đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng xanh sẽ mang lại hiệu quả dài hạn cho an ninh năng lượng và giảm chi phí biến đổi khí hậu đang diễn ra. Cuối cùng, hợp tác đa phương thành công sẽ ngăn chặn sự chia rẽ đang có nguy cơ đảo ngược các thành quả từ quá trình 30 năm hội nhập kinh tế.
HN (theo IMF)