Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đặng Ngọc Quỳnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên.
Câu hỏi:
Xin Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết:
- Việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng đối với các tổ chức tín dụng.
- Kết quả quá trình xử lý nợ xấu (nêu rõ việc xử lý những khoản nợ xấu không có đảm bảo vốn vay, những khoản nợ có đảm bảo vốn vay nhưng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn).
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Đặng Ngọc Quỳnh như sau:
1. Việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng đối với các TCTD
Thực hiện chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế1, ngay từ cuối năm 2011, NHNN đã tập trung nghiên cứu, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015. Mục tiêu cơ bản của Đề án tái cơ cấu các TCTD đã xác định: Trong giai đoạn 2011 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính của các TCTD;cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các TCTD; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất 1-2 ngân hàng thương mại có quy mô và trình độ tương đương các ngân hàng trong khu vực.
Đến nay, dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương và sự nỗ lực của toàn ngành Ngân hàng, về cơ bản các mục tiêu đặt ra trên đây đã đạt được, cụ thể như sau:
- Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong hơn 2 năm qua nhưng các TCTD đã nỗ lực cải thiện năng lực tài chính và tăng vốn điều lệ2 để tạo điều kiện mở rộng hoạt động và nâng cao khả năng đối phó với các rủi ro trong hoạt động.
- Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý, nợ xấu đã được kiềm chế và tốc độ tăng nợ xấu đã có xu hướng giảm3. Đây là tín hiệu tích cực phản ánh nỗ lực và hiệu quả của các giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng triển khai trong thời gian qua trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn và áp lực nợ xấu còn lớn.
- Các TCTD đã quan tâm hơn đến đổi mới, nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ và rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp lại mạng lưới.
- Mức độ an toàn của các TCTD đã được cải thiện đáng kể, giảm bớt số lượng TCTD nhỏ, yếu kém4 và hình thành một số NHTM có quy mô lớn hơn, có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, đặc biệt tăng cường được quy mô và vị trí chi phối của các NHTM Nhà nước trong hệ thống ngân hàng.
- Các TCTD tích cực cơ cấu lại hoạt động theo hướng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, thoái vốn đầu tư trong các lĩnh vực rủi ro, hiệu quả thấp; tích cực đổi mới, nâng cao năng lực quản trị, điều hành, quản trị rủi ro, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ theo hướng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; hiện đại hóa công nghệ hỗ trợ cho triển khai quản trị ngân hàng tiên tiến và phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới; củng cố, sáp nhập lại tổ chức bộ máy, mạng lưới phân phối.
- Trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng được nâng cao một bước thông qua việc tăng cường, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, quản lý chặt chẽ việc cấp phép hoạt động và mở rộng mạng lưới của các NHTM.
Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục triển khai tiến trình cơ cấu lại các TCTD theo hướng:
- Tiếp tục đánh giá, phân loại và nhận diện nhóm các TCTD yếu kém, tiềm ẩn nhiều rủi ro trên cơ sở số liệu giám sát, kết quả thanh tra và kiểm toán độc lập để có các biện pháp cơ cấu lại phù hợp, kịp thời.
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra chặt chẽ các TCTD đã được phê duyệt Phương án cơ cấu lại, đảm bảo thực hiện theo đúng lộ trình, mục tiêu và các giải pháp đã được phê duyệt; kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai để hỗ trợ TCTD triển khai cơ cấu lại. Chỉ đạo các TCTD triển khai cơ cấu lại theo đúng mục tiêu, lộ trình đã đề ra; kiên quyết áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để triển khai thành công Đề án cơ cấu lại.
- Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại tài chính của TCTD, tăng quy mô, chất lượng vốn tự có của TCTD.
- Tập trung củng cố, phát triển các hoạt động kinh doanh chính và loại bỏ các lĩnh vực kinh doanh rủi ro, kém hiệu quả; Tiếp tục đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân hàng; Kiểm soát quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý, phù hợp với năng lực quản trị và tài chính của TCTD.
- Xây dựng thể chế hỗ trợ cơ cấu lại, xử lý nợ xấu và hoàn thiện các thiết chế an toàn hoạt động ngân hàng.
- Tập trung đẩy mạnh phối hợp và triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp xử lý nợ xấu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD” ban hành kèm theo Quyết định số 843/QĐ-TTg.
- Tiếp tục tập trung xử lý vấn đề sở hữu chéo, đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Trong đó, tập trung vào các nội dung: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến sở hữu chéo, đầu tư chéo; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về sở hữu vốn điều lệ, việc góp vốn, mua cổ phần, chuyển nhượng cổ phiếu, việc cấp tín dụng cho cổ đông và người có liên quan và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế cho phép NHNN tiếp nhận phần vốn thoái của Doanh nghiệp Nhà nước tại TCTD nhằm hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu các TCTD, đồng thời, góp phần xử lý vấn đề sở hữu chéo của TCTD.
2. Kết quả quá trình xử lý nợ xấu (nêu rõ việc xử lý những khoản nợ xấu không có đảm bảo vốn vay, những khoản nợ xấu có đảm bảo vốn vay nhưng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn).
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng phát sinh do các nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời gian qua, những khó khăn kinh tế trong và ngoài nước đã làm nợ xấu tăng mạnh. Xác định việc xử lý nợ xấu của các TCTD là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng đến năm 2015, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các TCTD, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống đến năm 2020, NHNN đã chủ động xây dựng và trình Bộ Chính trị, Chính phủ phê duyệt Đề án ”Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án ”Thành lập Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam”. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt 02 Đề án nêu trên, ngành Ngân hàng đã tổ chức triển khai quyết liệt, khẩn trương các giải pháp để kiểm soát và đẩy lùi nợ xấu.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động chỉ đạo toàn ngành Ngân hàng phát huy nội lực để triển khai quyết liệt các giải pháp tự xử lý nợ xấu, gồm: Cơ cấu lại nợ, tích cực thu nợ, xử lý tài sản bảo đảm; bán nợ; sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ; tiết giảm chi phí, hạn chế tăng lương, thưởng, thù lao, chia cổ tức, lợi nhuận để tập trung trích lập dự phòng rủi ro;... Về phía hệ thống các TCTD, các TCTD đã tích cực xử lý một khối lượng lớn nợ xấu thông qua các hình thức: (i) Khách hàng tự trả nợ; (ii) TCTD nhận tài sản bảo đảm thay cho nghĩa vụ trả nợ; (iii) Bán, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; (iv) Sử dụng dự phòng rủi ro; (v) Chuyển nợ xấu thành vốn góp; (vi) Cơ cấu lại nợ; (vii) Bên thứ 3 trả nợ; (viii) Bán nợ cho VAMC.
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu, nợ xấu đã được kiềm chế và có xu hướng giảm. Nợ xấu của toàn hệ thống tăng gần như liên tục trong 10 tháng đầu năm 2013 nhưng đã giảm mạnh trong tháng 12/2013 nhờ các TCTD tích cực xử lý bằng dự phòng và bán nợ cho VAMC. Đến cuối tháng 12/2013, tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống là 116,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 3,61% tổng dư nợ tín dụng.
Do những khó khăn của nền kinh tế và biện pháp thắt chặt các điều kiện cơ cấu lại nợ theo Thông tư số 09/2014/TT-NHNN, nợ xấu những tháng đầu năm 2014 có xu hướng tăng trở lại trong khi dư nợ tín dụng giảm nên tỷ lệ nợ xấu nội bảng trên tổng dư nợ tín dụng tăng lên mức 4,03% (cuối tháng 4/2014), tăng 12,8% so với cuối năm 2013. Tuy nhiên, so với cùng kỳ các năm trước đây, tốc độ tăng của nợ xấu đã có xu hướng giảm dần (4 tháng đầu năm 2011, 2012 và 2013 tăng lần lượt là 31,8%, 36,2% và 15,8%) cho thấy nợ xấu tiếp tục được kiềm chế.
Theo số liệu do các TCTD báo cáo đến cuối tháng 4/2014, tổng các khoản nợ xấu được xử lý trong 4 tháng đầu năm 2014 đạt 16.727 tỷ đồng, (trong khi tổng nợ xấu được xử lý năm 2013 là 97,7 nghìn tỷ đồng, năm 2012 là 69 nghìn tỷ đồng); đến cuối tháng 3/2014, tổng số dư các khoản nợ được giữ nguyên nhóm nợ (thực hiện theo Quyết định 780/QĐ-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN) là 312,9 nghìn tỷ đồng, giảm 13,1% so với tháng 12/2013.
Như vậy, sau nhiều năm tăng liên tiếp với tốc độ khá lớn, tốc độ tăng của nợ xấu toàn hệ thống TCTD đã bắt đầu giảm, đây là tín hiệu tích cực thể hiện sự nỗ lực của ngành ngân hàng nói chung, từng TCTD nói riêng trong việc hạn chế và xử lý nợ xấu. Nợ xấu giảm chủ yếu do các TCTD xử lý mạnh bằng dự phòng rủi ro và bán nợ cho VAMC. Đây là tín hiệu tích cực phản ánh nỗ lực và hiệu quả của các giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng triển khai trong thời gian qua trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn và áp lực nợ xấu còn lớn.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đặng Ngọc Quỳnh. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Nhờ đó, các cơ chế, chính sách về tiền tệ, ngân hàng đã phát huy hiệu quả cao hơn, có sức lan tỏa rộng lớn hơn, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.
1 “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Ba lĩnh vực trọng tâm được xác định bao gồm tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu hệ thống tài chính-ngân hàng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước”. (Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tháng 1/2011)
2 Đến cuối năm 2013 vốn điều lệ của toàn hệ thống là 423,98 nghìn tỷ đồng, tăng 31,8 nghìn tỷ đồng (8,12%) so với cuối năm 2012. Đến cuối tháng 4/2014, vốn điều lệ toàn hệ thống đạt 430,43 nghìn tỷ đồng, tăng 0,98% so với cuối năm 2013.
3 Đến cuối tháng 4/2014, tổng nợ xấu của toàn hệ thống là 131,39 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,03% tổng dư nợ, tăng 12,8% so với cuối năm 2013. So với cùng kỳ các năm trước đây, tốc độ tăng của nợ xấu đã có xu hướng giảm dần (4 tháng đầu năm 2011, 2012 và 2013 tăng lần lượt là 31,8%, 36,2% và 15,8%).
4 Đến nay, số lượng TCTD giảm đi 7 tổ chức (05 NHTM cổ phần và 02 TCTD phi ngân hàng) thông qua sáp nhập, hợp nhất, giải thể; thu hồi giấy phép 02 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 3 chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được chuyển đổi hình thức; Quỹ tín dụng nhân dân được chuyển đổi thành Ngân hàng Hợp tác xã.