Nhà bác cấy mấy sào? Đây là mạ gì ạ?... Tôi mở đầu cuộc trò chuyện với một chị nông dân đang giăng ni lông để chặn chuột cắn mạ trên cánh đồng xã Duy Tuyên, (tỉnh Hà Nam) vào mùng 3 Tết vừa qua. Có vẻ đã lâu không ai hỏi chuyện đồng áng nên chị chỉ cười, kể hết những tất bật của nhà nông, chuyện bọn trẻ giờ ra thành phố đi làm hết, việc đồng áng dồn lên vai bố mẹ già…
Cấp bách tái cơ cấu nông nghiệp
Cần có định chế tài chính tập trung các nguồn vốn cho công nghệ cao
An Bình
“Chúng tôi là nông dân”!
Nhà bác cấy mấy sào? Đây là mạ gì ạ?... Tôi mở đầu cuộc trò chuyện với một chị nông dân đang giăng ni lông để chặn chuột cắn mạ trên cánh đồng xã Duy Tuyên, (tỉnh Hà Nam) vào mùng 3 Tết vừa qua. Có vẻ đã lâu không ai hỏi chuyện đồng áng nên chị chỉ cười, kể hết những tất bật của nhà nông, chuyện bọn trẻ giờ ra thành phố đi làm hết, việc đồng áng dồn lên vai bố mẹ già…
Mùng 10 tháng Giêng, tôi trở lại cũng trên cánh đồng đó. Nông dân bắt đầu nhổ mạ để cấy. Một bác nông dân cho biết, ruộng được chia, trong 50 năm; mỗi khẩu được 1,4 sào. “Những khẩu được ăn lương Nhà nước (lương từ ngân sách Nhà nước - PV) không được chia ruộng cháu ạ”. Có xã thực hiện dồn điền đổi thửa, nhưng vẫn có nơi không làm, nhiều hộ phải nhận ruộng thành mấy mảnh nên cũng vất vả trong cấy cày. “Chúng tôi chủ yếu cấy lúa Nàng Hương hoặc Bắc Hương vì Khang Dân cho năng suất cao nhưng giá bán lại rẻ. Chỉ nhà nào nhiều ruộng, hay chăn nuôi mới cấy lúa này…”. Kết thúc cuộc trò chuyện, tôi hỏi: Bác cho biết tên để còn đưa lên báo. Bác cười: Chúng tôi là nông dân. Cô cứ viết như thế. Vì nhà nào cũng vậy, làm ruộng giờ chỉ để không phải ra chợ mua gạo ăn thôi, cô ạ.
Vâng, những người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” lâu nay có dư giả bao giờ. Giá thóc lại đang xuống quá thấp vào khi gặt rộ như mọi lần. Vốn tín dụng từ 19 NH được giao thực hiện chương trình mua tạm trữ chỉ có thể hỗ trợ phần nào. Điệp khúc được mùa mất giá chưa có lời giải. Nguyên nhân từ đâu?.
Một nghiên cứu mới đây của BIDV cho thấy những con số giật mình: 70% dân số đang sống ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng tỷ trọng nông nghiệp hiện chỉ chiếm khoảng 17% GDP của cả nước. Nông nghiệp chiếm 48% nguồn nhân lực, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu chỉ khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nông nghiệp canh tác 80% diện tích tài nguyên đất, nhưng năng suất thấp, hiệu quả không cao, thiếu bền vững do năng lực cạnh tranh kém. Nông dân là lực lượng lao động chính, nhưng thu nhập bình quân 20 triệu đồng/người/năm (trong khi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam hiện khoảng 2.000 USD/người/năm… Các chuyên gia nhận định, Việt Nam đang đi chậm khoảng 20 năm về ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp.
Tập trung nguồn vốn tạo mô hình mới
Thực tế, trong những năm gần đây, ngành NH đã rất chú trọng đến vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, đặc biệt ứng dụng công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp. Thống đốc NHNN đã yêu cầu các TCTD phải dành ít nhất 20% tổng dư nợ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn; phải có chương trình tín dụng lãi suất thấp cho 5 lĩnh vực ưu tiên, trong đó ưu tiên hàng đầu là nông nghiệp, nông thôn, sản xuất ứng dụng công nghệ cao…
Từ chỉ đạo trên, năm 2014, tín dụng cho tam nông đã tăng gần 10% so với năm 2013. NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cùng các TCTD trên địa bàn, nhất là các tỉnh “vựa lúa” đã tích cực cho vay mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”. Với sự hỗ trợ của NH, nhiều mô hình sản xuất lớn, sản xuất theo chuỗi được triển khai, phần nào hạn chế rủi ro, tăng được năng suất, chất lượng cho sản xuất nông nghiệp. Nhưng thực tế cũng cho thấy, nếu chỉ có ngành NH “đổ vốn” cho nông nghiệp thì chưa thể giải quyết dứt điểm vấn đề được mùa mất giá.
Giới chuyên gia cho rằng, một trong những nút thắt chính làm cho ngành nông nghiệp chưa phát huy được lợi thế là việc ứng dụng khoa học công nghệ cao còn chậm, yếu, dẫn đến giá trị gia tăng trong nông nghiệp rất thấp. Trong khi đó, tới đây khi Việt Nam thực thi hàng loạt hiệp định tự do thương mại – đầu tư đã ký kết sẽ khiến hàng hóa nói chung và nông sản nói riêng từ nước ngoài có cơ hội đổ vào ồ ạt, gây sức ép cạnh tranh lớn cho sản xuất trong nước.
Muốn sản xuất quy mô lớn, đưa tiến bộ công nghệ cao vào sản xuất, chế biến cần vốn đầu tư lớn. Tuy nhiên, hiện vốn tín dụng từ NH vẫn là một nguồn lực cơ bản và chủ lực cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu. Bên cạnh đó, vốn đầu tư của các định chế tài chính nước ngoài như các dự án Tài chính nông thôn I,II,III với tổng giá trị rút vốn khoảng 548 triệu USD mà BIDV làm đầu mối triển khai nhiều năm qua, được WB đánh giá tốt nhất trên toàn cầu về ứng dụng và cải thiện nâng cao mức sống cho người dân và hỗ trợ phát triển nông nghiệp. Đến nay, đây là nguồn vốn nước ngoài lớn nhất cho nông nghiệp, nông thôn. Nhìn chung, việc thu hút vốn nước ngoài cho lĩnh vực nông nghiệp vẫn khá hạn chế.
Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT BIDV cho rằng, để tăng thêm nguồn lực vốn đầu tư cho tam nông thì cần xã hội hóa Quỹ khuyến khích đổi mới nông nghiệp. “BIDV mong muốn đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Bước đầu, BIDV sẽ tham gia đóng góp 100 tỷ đồng cho Quỹ này”, ông Hà cho biết thêm. Và từ chủ trương của Chính phủ, chỉ đạo của NHNN và kết quả những nghiên cứu, khảo sát, BIDV đã trình Chính phủ Đề án hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất với tổng vốn triển khai khoảng 284 triệu USD.
Nhưng để tiếp tục huy động được nguồn vốn lớn cho tam nông thì cần phải xây dựng được cơ chế, chính sách đặc thù. Đặc biệt, dòng tài chính sử dụng cho đầu tư ứng dụng công nghệ cao vào tam nông cần phải có định chế tài chính trung gian để chuyển tải dòng vốn này đến bà con nông dân. Hiện chúng ta có nhiều chương trình khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, nhưng cách ứng dụng của nông dân không nhất quán, chưa tạo được động lực lan tỏa trong cả nước và thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với vốn cho phát triển ứng dụng công nghệ cao phải chú trọng khâu chuyển giao ứng dụng công nghệ theo các hình thức khác nhau, tránh tình trạng manh mún như hiện nay.
Chủ trương xây dựng các vùng chuyên canh đã có, đã triển khai, nhưng chưa nhiều. Và để nông sản của Việt Nam giữ, mở rộng được thị trường xuất khẩu thì việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất, chế biến phải gắn với đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của thế giới, đặc biệt những thị trường nhập khẩu lớn sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam…