VẤN ĐỀ TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN; TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH
VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG KHÁC
I. Vấn đề tín dụng nông nghiệp nông thôn:
1.1. Vấn đề sửa đổi Nghị định 41/2010/NĐ-CP:
1. Quy định khi cho vay tín chấp khách hàng chỉ cần mang giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp để được vay có thể dẫn đến việc các hộ làm giấy khống và vay một lúc nhiều ngân hàng; Thực tế các hộ phản ánh phải nộp lệ phí khi đăng ký giao dịch bảo đảm cho cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm; Trường hợp cấp quyền sử dụng đất ở nhưng không cấp quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất, các hộ đi vay sẽ không được vay mức vốn lớn và khi xử lý tài sản thì ngân hàng không xử lý được vì còn tài sản gắn liền trên đất; Các đối tượng sản xuất nông nghiệp thuộc các phường và thị trấn không được vay vốn; Tăng mức vay 50 triệu đồng đối với các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp lên 100 triệu đồng;... (Cử tri Bắc Giang, Đồng Nai, Gia Lai, Lào Cai, Lâm Đồng)
2. Nâng mức trần cho vay, không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay: đối với hộ gia đình từ 50 triệu lên 100 triệu đồng; đối với hộ sản xuất, kinh doanh từ 200 triệu lên 500 triệu đồng; đối với hợp tác xã, trang trại từ 500 triệu lên 1 tỷ đến 2 tỷ đồng. (Cử tri Lào Cai, Lâm Đồng)
Nhằm tạo điều kiện giúp các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần quan trọng giúp lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển ổn định và đạt được những kết quả to lớn, Ngân hàng Nhà nước đã tham mưu và được Chính phủ ký ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp (Nghị định số 41). Đây là chính sách quan trọng, tháo gỡ cơ bản khó khăn về vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động ban hành nhiều văn bản hướng tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cũng như chỉ đạo các tổ chức tín dụng chủ động tháo gỡ khó khăn, đổi mới quy trình, thủ tục cho vay tập trung nguồn vốn cho vay đối với lĩnh vực này. Nhờ đó, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp ngày càng tăng. Tính đến 31/12/2014, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn ước đạt 758.000 tỷ đồng, tăng khoảng 12,8% so với cuối năm 2013, chiếm khoảng 19,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Nếu so với cuối năm 2009 (năm trước khi có Nghị định 41) thì sau 04 năm thực hiện chính sách dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực này đã tăng gấp 2,4 lần.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị định 41/2010/NĐ-CP cũng bộc lộ một số nội dung không còn phù hợp với tình hình thực tế. Trên cơ sở kiến nghị của cử tri và ý kiến của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp, NHNN đã trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 41, theo đó đã giải đáp được các kiến nghị của cử tri. Cụ thể:
- Về kiến nghị xem lại quy định tại Điều 8, Nghị định 41 liên quan đến việc khi cho vay tín chấp, khách hàng chỉ cần mang giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp vì có thể dẫn tới tình trạng làm giấy khống và vay một lúc nhiều ngân hàng:
Nhằm nâng cao trách nhiệm của người vay đồng thời hạn chế rủi ro phát sinh do khách hàng lợi dụng chính sách để vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng, tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 hướng dẫn Nghị định 41/2010/NĐ-CP, NHNN đã quy định rõ “Các khách hàng được vay không có bảo đảm bằng tài sản quy định tại Khoản 2 Điều này tuân thủ các nguyên tắc, điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành và phải nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khách hàng vay phải được Ủy ban nhân dân cấp xã cấp 01 bản chính (duy nhất) giấy xác nhận khách hàng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp”. Như vậy, việc làm khống giấy xác nhận để vay tại nhiều tổ chức tín dụng là hành vi vi phạm quy định pháp luật, các tổ chức tín dụng sẽ phát hiện được hành vi vi phạm này qua khai thác thông tin về khách hàng từ Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam.
Do vậy, dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 41 tiếp tục giữ quy định việc khách hàng vay vốn không có tài sản bảo đảm phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận cho tổ chức tín dụng.
- Về ý kiến xem xét lại quy định việc các cá nhân, hộ gia đình phải nộp lệ phí khi đăng ký giao dịch bảo đảm để vay vốn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP:
Theo quy định tại Điều 19, Nghị định 41, Bộ Tư pháp được giao là cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo đó, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 69/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 18/5/2011 hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm và phí sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên. Tại Khoản 3.a, Điều 1 Thông tư liên tịch 69 quy định “Các cá nhân, hộ gia đình khi đăng ký giao dịch bảo đảm để vay vốn tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh thì không phải nộp lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn”.
Như vậy, việc thu lệ phí đối với các cá nhân, hộ gia đình của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm là chưa đúng quy định của Thông tư liên tịch 69 nêu trên. Trường hợp cử tri phải nộp lệ phí khi đăng ký giao dịch bảo đảm trong quá trình vay vốn theo Nghị định 41, đề nghị liên hệ Bộ Tư pháp để được hướng dẫn hoàn lại khoản lệ phí đã nộp.
- Về kiến nghị liên quan đến việc các hộ đi vay sẽ không được vay mức vốn lớn và khi xử lý tài sản thì ngân hàng gặp khó khăn với tài sản gắn liền trên đất do việc cấp quyền sử dụng đất ở nhưng không cấp quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất.
Theo quy định tại Nghị định 41, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao là cơ quan chủ trì ban hành quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, theo đó, “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phổ biến, chỉ đạo và thực hiện Thông tư này” và “Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm triển khai việc thực hiện Thông tư này ở địa phương”. Hiện, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đều đã ban hành bộ thủ tục hành chính về “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” và phổ biến đến người dân địa phương.
Vì vậy, để được hướng dẫn chi tiết làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các hộ đi vay liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã/huyện và có thể kiến nghị trực tiếp Sở Tài nguyên và Môi trường để được giải đáp, tháo gỡ khó khăn một cách thỏa đáng. Qua đó, không những giúp các hộ đi vay vay được mức vốn lớn hơn mà còn tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc xử lý tài sản đảm bảo khi phát sinh.
- Về kiến nghị cho phép các đối tượng sản xuất nông nghiệp thuộc các phường và thị trấn được vay vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn:
Hiện, NHNN đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 41 (ngày 15/12/2014), trong đó đã bổ sung đối tượng mà cử tri kiến nghị được thụ hưởng chính sách vay vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể Nghị định đã quy định đối tượng được vay vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn gồm 02 nhóm khách hàng, một là khách hàng thuộc địa bàn nông thôn; hai là khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng nằm ngoài khu vực nông thôn.
- Về kiến nghị tăng mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp lên mức 100 triệu đồng để đảm bảo cho các hộ gia đình đầu tư kinh doanh quay vòng, thu hồi vốn.
Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 41 đã sửa đổi mức cho vay không có tài sản bảo đảm được nâng lên gấp từ 1,5 – 2 lần đối với từng đối tượng để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới, theo đó tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình. Ngoài ra, đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, liên hiệp hợp tác xã có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp được áp dụng các mức cho vay không có tài sản bảo đảm cao hơn (từ 500 triệu đồng – 03 tỷ đồng).
3. Tăng mức và thời hạn cho vay đối với nông dân, các hợp tác xã nông nghiệp để đảm bảo có đủ thời gian sử dụng vốn có hiệu quả.(Cử tri TP Hà Nội)
Trên cơ sở tổng kết kết quả thực hiện Nghị định 41, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành và chính quyền địa phương dự thảo và trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 41 (ngày 15/12/2014), trong đó có nội dung về mức cho vay không có tài sản bảo đảm và thời hạn cho vay. Cụ thể:
(i) Mức cho vay không có tài sản bảo đảm được nâng lên gấp từ 1,5 – 2 lần đối với từng đối tượng để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới; Ngoài ra, đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, liên hiệp hợp tác xã có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp được áp dụng các mức cho vay không có tài sản bảo đảm cao hơn (từ 500 triệu đồng – 03 tỷ đồng);
(ii) Quy định về phương thức cho vay lưu vụ để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trong việc sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có tính mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm nhằm tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng đơn giản hóa các thủ tục vay vốn, mở rộng cho vay và khách hàng có thể làm việc với các TCTD để thỏa thuận thời hạn vay vốn phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh.
4. Cải tiến quy trình thủ tục cho vay phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn….(Cử tri Hà Giang)
NHNN đã ban hành nhiều văn bản hướng tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cũng như chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung nguồn vốn, chủ động tháo gỡ khó khăn, đổi mới quy trình, thủ tục cho vay, nâng cao khả năng thẩm định để tăng cường cho vay đối với lĩnh vực này.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, thời gian qua, các tổ chức tín dụng đã có nhiều đổi mới trong việc xây dựng quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay, đặc biệt là đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, để phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn nông thôn, các tổ chức tín dụng đã rà soát và hoàn thiện hồ sơ tín dụng theo hướng tiết giảm tối đa thủ tục, giấy tờ, triển khai các sản phẩm tín dụng với các hình thức đơn giản, phù hợp cho người sản xuất như: cho vay liên vụ, cho vay qua sổ tín dụng, xuống tận địa bàn để cho vay, thu nợ (gốc, lãi) ngay tại địa bàn của người vay thay vì phải đến trụ sở ngân hàng... Ngoài ra, NHNN cũng ban hành các quy định tín dụng đối với một số đối tượng đặc thù với thủ tục cho vay đơn giản hơn như mô hình cho vay liên kết ứng dụng công nghệ cao, chính sách cho vay đối với chăn nuôi, thủy sản, cà phê…
Để tiếp tục tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, trên cơ sở tổng kết kết quả thực hiện Nghị định 41, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành và chính quyền địa phương dự thảo, trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 41 (ngày 15/12/2014), trong đó có vấn đề tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về mặt thủ tục, điều kiện vay vốn, cụ thể là quy định về phương thức cho vay lưu vụ để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trong việc sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có tính mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm nhằm tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng đơn giản hóa các thủ tục vay vốn, mở rộng cho vay.
5. Đề nghị ngành ngân hàng có chính sách ưu đãi hơn cho nông dân được vay vốn dài hạn (5-10 năm), lãi suất ưu đãi, nhất là cho và chăn nuôi bò sữa, tái canh cây cà phê, cây công nghiệp lâu năm… (Cử tri Lâm Đồng, Đồng Nai)
Để hỗ trợ, khơi thông nguồn vốn, góp phần thúc đẩy lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển tương xứng với tiềm năng theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị định số 41), Nghị định này đã tạo ra sự đồng thuận trong nhận thức về vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư tín dụng trong cả hệ thống chính trị và hệ thống ngân hàng. Để triển khai hiệu quả Nghị định này Chính phủ không chỉ giao trách nhiệm cho Ngành ngân hàng mà yêu cầu các Bộ, Ngành và địa phương cùng phối hợp triển khai thực hiện.
Để hỗ trợ người sản xuất, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, trong đó có cho vay chăn nuôi, tái canh cây cà phê…, thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, hướng tín dụng tập trung cho vay, tạo cơ chế đặc thù và đơn giản hóa thủ tục cho vay đối với lĩnh vực này, như: (i) Từ năm 2012 đến nay, nhiều lần điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn1; Yêu cầu các TCTD thường xuyên xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các khoản cho vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành; (ii) Chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh, đa dạng hóa hoạt động tín dụng, áp dụng nhiều phương thức cho vay và mở rộng cho vay đối với hộ nông dân không phải thế chấp tài sản theo quy định tại Nghị định số 41 và hướng dẫn của NHNN; (iii) Tích cực triển khai, áp dụng các chương trình tín dụng nông nghiệp đặc thù2. Riêng chính sách tái canh cây cà phê, NHNN đã chủ động đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận triển khai chương trình cho vay tái canh cà phê khu vực Tây Nguyên thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn3 trên cơ sở quy hoạch tái canh cà phê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hiện nay, NHNN đã xây dựng phương án cho vay tái canh cây cà phê và đang gửi lấy ý kiến các đơn vị liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm sớm triển khai chương trình trong Quý I/2015.
Như vậy, với hàng loạt các chính sách đồng bộ, quyết liệt, những nỗ lực của NHNN trong thời gian qua đã tác động mạnh mẽ, hỗ trợ tích cực cho người nông dân trong hoạt động sản xuất, chăn nuôi, giúp các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực này tiếp cận được nhiều hơn, hiệu quả hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần quan trọng giúp ngành nông nghiệp phát triển ổn định và đạt được những kết quả to lớn, đặc biệt đối với các lĩnh vực chăn nuôi, cà phê… tạo khí thế phấn khởi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trong cả nước4.
Tuy nhiên, sau hơn 4 năm triển khai, Nghị định 41 cũng bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với tình hình thực tế cần sửa đổi, bổ sung. Để tiếp tục hỗ trợ phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trên cơ sở tổng kết kết quả thực hiện Nghị định 41, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành và chính quyền địa phương dự thảo và trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 41 (Tờ trình số 189/TTr-NHNN ngày 15/12/2014), trong đó có nội dung về nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm và kéo dài thời hạn cho vay; Quy định về phương thức cho vay lưu vụ để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trong việc sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có tính mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm nhằm tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng đơn giản hóa các thủ tục vay vốn, mở rộng cho vay và khách hàng có thể làm việc với các TCTD để thỏa thuận thời hạn vay vốn phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh.
6. Đề nghị ngân hàng cho nông dân vay vốn theo chu kỳ trả lãi và vốn là 3 tháng hoặc 6 tháng để nông dân có điều kiện phát triển sản xuất và trả lãi cho ngân hàng, thực tế vừa qua ngân hàng cho nông dân vay vốn không theo chu kỳ dẫn đến nông dân chưa thu hoạch nông sản thì phải trả vốn và lãi cho ngân hàng. (Cử tri An Giang)
Về nguyên tắc chung, quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN quy định thời hạn cho vay do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận căn cứ trên cơ sở chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của TCTD. Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn cũng quy định căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, khả năng hoàn trả vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng để thỏa thuận thời hạn cho vay phù hợp.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong sản xuất và trả nợ ngân hàng, hiện NHNN đang chủ trì, nghiên cứu xây dựng Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn thay thế Nghị định 41 trong đó có quy định phương thức cho vay lưu vụ, đảm bảo phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của hộ nông dân. Theo đó, đối với các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm, TCTD và khách hàng có thể thỏa thuận để khách hàng không phải trả số nợ gốc khi đến hạn, đáp ứng nhu cầu vốn cho vụ sản xuất tiếp theo và đảm bảo không vượt quá thời gian của hai chu kỳ sản xuất liên tiếp.
7. Cử tri đề nghị tăng vốn đầu tư cho vay đối với mô hình sản xuất nông nghiệp siêu thâm canh từ 50 đến 70 triệu đồng/ha, để nông dân phát triển sản xuất đạt hiệu quả cao. (Cử tri Bạc Liêu)
Về mức cho vay, theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của mình để quyết định mức cho vay. Như vậy, trên cơ sở thẩm định và khả năng nguồn vốn của tổ chức tín dụng, nếu dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng đáp ứng đủ điều kiện cho vay theo quy định thì sẽ được xem xét mức cho vay phù hợp chứ không căn cứ vào diện tích canh tác để cho vay.
Sau hơn 04 năm triển khai Nghị định 41, để hỗ trợ các khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 41, trong đó nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm. Cụ thể: mức cho vay không có tài sản bảo đảm được nâng lên gấp từ 1,5 – 2 lần đối với từng đối tượng để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới; ngoài ra, đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, liên hiệp hợp tác xã có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp được áp dụng các mức cho vay không có tài sản bảo đảm cao hơn (từ 500 triệu đồng – 03 tỷ đồng).
8. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành chức năng tăng cường hỗ trợ người nông dân về vay vốn mua máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, mua phân bón vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng. (Cử tri TP Hà Nội)
Để tạo điều kiện cho người nông dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất hợp lý, NHNN thường xuyên ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các TCTD tập trung nguồn vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là cho vay đối với nhu cầu nâng cao quá trình cơ giới hoá và áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp; Chỉ đạo TCTD đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, áp dụng nhiều phương thức cho vay và mở rộng cho vay đối với hộ nông dân không phải thế chấp tài sản theo quy định tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP và hướng dẫn của NHNN. Đồng thời, từ năm 2012 đến nay, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (hiện nay là 7%/năm5); Yêu cầu các TCTD thường xuyên xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các khoản cho vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành.
Sau 4 năm thực hiện Nghị định 41, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổng kết tình hình thực hiện, trên cơ sở đó, đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 41 cho phù hợp với tình hình hiện nay, trong đó có nội dung nâng mức vay và thời hạn cho vay, đáp ứng nhu cầu về vốn của người dân phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn (nội dung dự kiến sửa đổi như đã nêu trên).
Riêng về chính sách hỗ trợ nông dân đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, từ năm 2010, Nhà nước đã có chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất để nông dân mua sắm máy móc, trang thiết bị (Quyết định 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010) và liên tục sửa đổi, bổ sung (Quyết định 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011; Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013) cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn nhằm nâng cao giá trị sản suất nông sản, hạn chế tổn thất sau thu hoạch, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ưu đãi, phục vụ cơ giới hóa, ứng dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tích cực triển khai cho vay chương trình này. Tính đến cuối tháng 12/2014, tổng dư nợ cho vay theo chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp đạt 1.848 tỷ đồng, tăng 28,7% so với cuối năm 2013.
Ngoài ra, NHNN đã chủ động nghiên cứu, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các chương trình, chính sách góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô sản xuất hàng hóa lớn, tăng năng suất, ổn định chất lượng, tạo thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, như: Mô hình cánh đồng mẫu lớn; Mô hình sản xuất áp dụng công nghệ cao; Mô hình liên kết chuỗi sản xuất chế biến-tiêu thụ, xuất khẩu,...các sản phẩm nông nghiệp.
1.2. Tín dụng ngư dân:
Đề nghị có chủ trương giảm lãi suất và tăng thêm thời gian vay dài hơn của các nguồn vốn vay đóng tàu mà ngư dân đã vay trước đây khi chuyển đổi sang đóng tàu công suất lớn. (Cử tri Quảng Bình)
Phát triển kinh tế biển, nâng cao đời sống ngư dân gắn liền với bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo quốc gia là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Để triển khai hiệu quả Nghị quyết 09/NQ-TW ngày 9/2/2007 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hội nghị lần thứ 4 (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Chính phủ và các Bộ, ngành đã có nhiều chính sách thiết thực hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển, nâng cao đời sống, góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo và các chính sách này thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.
Nhằm tạo bước đột phá cho ngành thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ nói riêng, ngày 07/07/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định 67/2014/NĐ-CP với mục tiêu hình thành mới đội tàu công suất lớn, hiện đại đủ sức vươn khơi xa. Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kịp thời ban hành Thông tư 22/2014/TT-NHNN hướng dẫn các ngân hàng thương mại triển khai cho vay; đồng thời tổ chức các hội nghị của ngành tại các địa phương nhằm hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác thủy sản xa bờ đạt hiệu quả cao, thực sự đi vào cuộc sống.
Trước khi Nghị định 67/2014/NĐ-CP ra đời, ngư nghiệp là một bộ phận cấu thành trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, do đó là lĩnh vực ưu tiên và được hưởng các chính sách ưu đãi chung cho nông nghiệp, nông thôn như: (i) Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn6; (ii) Được hưởng lãi suất cho vay ưu tiên7; (iii) Được áp dụng các quy định tại Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 về chính sách tín dụng hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp8; (iv) Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 về một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân; trong đó có hỗ trợ chi phí tiền dầu, bảo hiểm cho ngư dân có tàu tham gia khai thác thủy sản, hỗ trợ thay máy mới đối với tàu có Công suất từ 40 CV trở lên; (v) Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 và Quyết định số 38/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa nhằm giảm bớt khó khăn trong quá trình khai thác hải sản trên biển nói chung và hoạt động khai thác xa bờ nói riêng.
Tuy nhiên, Nghị định 67 và các văn bản hướng dẫn thực hiện9 đều có hiệu lực áp dụng từ ngày 25/8/2014 và các văn bản này không có quy định liên quan đến việc các khoản vay của tổ chức, cá nhân đã phát sinh trước ngày hiệu lực của các văn bản. Ngoài ra, chủ tàu đóng mới, nâng cấp tàu phải nằm trong danh sách được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Vì vậy, những ngư dân đã ký hợp đồng trước ngày Nghị định 67 có hiệu lực sẽ không thuộc đối tượng được hưởng chính sách tín dụng theo quy định tại Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
1.3. Vấn đề tín dụng đối với cây cao su:
1- Đề nghị Chính phủ có chính sách (gói tín dụng hỗ trợ) vay vốn với lãi suất ưu đãi (lãi suất 0%) cho các công ty cao su, để tạm trữ sản phẩm cao su từ 6 tháng đến 1 năm, nhằm tháo gỡ khó khăn cho các công ty cao su trong tình hình giá mủ cao su bán ra thấp hơn giá thành sản xuất như hiện nay (Cử tri Gia Lai)
NHNN đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm giúp người nông dân dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Trong đó, ngành cao su là một lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp và được hưởng các chính sách ưu đãi chung đối với nông nghiệp, nông thôn, cụ thể:
- Giảm lãi suất cho vay: Từ năm 2012 đến nay, để giảm thiểu chi phí vay vốn, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; Yêu cầu các TCTD xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay (kể cả các khoản cho vay cũ) về mức lãi suất cho vay hiện hành. Đến nay, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm chỉ bằng 40% lãi suất vào nửa cuối năm 2011 và thấp hơn mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006.
- NHNN đã chủ động nghiên cứu, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các chương trình, chính sách góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô sản xuất hàng hóa lớn, tăng năng suất, ổn định chất lượng, tạo thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, như: Mô hình cánh đồng mẫu lớn; Mô hình sản xuất áp dụng công nghệ cao; Mô hình liên kết chuỗi sản xuất chế biến-tiêu thụ, xuất khẩu,...các sản phẩm nông nghiệp.
Việc cho vay thu mua tạm trữ cao su do nhiều bộ, ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, NHNN…) phối hợp, có ý kiến trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định. Về phía NHNN, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, thời gian tới, NHNN sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận nguồn vốn, vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất, phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và ngành cao su nói riêng.
2- Đề nghị có chủ trương cho các ngân hàng thương mại giãn, hoãn, gia hạn, khoanh nợ vay đối với các công ty cao su và các hộ nông dân trồng cao su tiểu điền nhằm tháo gỡ khó khăn cho các hộ nông dân, công ty cao su, tạo điều kiện để các hộ chăm sóc vườn cây đúng quy trình kỹ thuật, tránh tình trạng chặt bỏ cao su như thời gian vừa qua, như hỗ trợ lãi suất cho vay (cấp bù phần chênh lệch lãi suất) các khoản vốn vay đã vay. (Cử tri Gia Lai)
-Về việc giãn, hoãn, gia hạn các khoản vay đối với các công ty và hộ dân trồng cao su tiểu điền: Nhằm kịp thời nắm bắt khó khăn, vướng mắc của từng khách hàng để có giải pháp tháo gỡ thiết thực, phù hợp, bên cạnh việc chỉ đạo các TCTD chủ động, tích cực thực hiện đồng bộ các giải pháp, NHNN đã phối hợp với Lãnh đạo các tỉnh/thành phố triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp trên toàn quốc, tổ chức các hội nghị đối thoại trực tiếp với các doanh nghiệp, hộ dân; qua đó giúp người dân, doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện tại, các TCTD đang triển khai các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, không thu lãi quá hạn, ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau giúp khách hàng có thời gian vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất; tăng hạn mức cho vay, cho vay mới lãi suất thấp trên cơ sở đánh giá dự án, phương án kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo thu hồi được nợ của khách hàng,… Vì vậy, NHNN đề nghị các hộ dân, công ty trồng cao su tiểu điền làm việc trực tiếp với các tổ chức tín dụng, chính quyền địa phương để được xem xét xử lý khoản vay theo quy định.
-Về việc khoanh nợ đối với các công ty và hộ dân trồng cao su tiểu điền: Việc khoanh nợ thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ và theo quy định chỉ thực hiện đối với một số lĩnh vực nhất định nhưng cũng hạn chế sử dụng phương pháp này trong thực tế. Hiện nay, Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn có quy định việc khoanh nợ đối với các khoản vay nông nghiệp nông thôn bị rủi ro do thiên tai, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng. Theo đó, trên cơ sở báo cáo của cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Chính phủ có thể xem xét cho phép tổ chức tín dụng được khoanh nợ không tính lãi đối với các hộ dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ khi Nghị định 41 có hiệu lực đến nay, các TCTD chưa phải thực hiện khoanh nợ do thiên tai, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng theo chỉ đạo của Chính phủ.
-Về đề xuất hỗ trợ lãi suất cho vay (cấp bù phần chênh lệch lãi suất) các khoản vốn vay đã vay về trồng sao su tiểu điền: Hiện nay, các chính sách hỗ trợ lãi suất chủ yếu chỉ áp dụng đối với các khoản vay mới. Tuy nhiên, thời gian qua, thực hiện chủ trương của Chính phủ về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, trên cơ sở diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát và thị trường tiền tệ, NHNN đã có nhiều giải pháp điều hành nhằm giảm mạnh và liên tục mặt bằng lãi suất thị trường, đặc biệt là việc giảm dần lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhờ đó, mức lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất khác khoảng 2%/năm, hiện trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực này ở mức khoảng 6-7%/năm, thậm chí một số TCTD cho vay các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả với mức lãi suất chỉ 5-6%/năm, qua đó đã giúp giảm đáng kể chi phí vốn vay cho doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vay vốn để trồng cao su.
II. Vấn đề tín dụng chính sách:
1. Đề nghị xem xét sửa đổi, bổ sung Thông từ số 06/2009/TT-NHNN ngày 09/4/2009 về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất đối với các vùng thuộc Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho 23 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết 30a. (Cử tri Lào Cai)
Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, Ngân hàng Nhà nước đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ liên quan ban hành Thông tư 06/2009/TT-NHNN ngày 09/4/2009 về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất trên các địa bàn huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 30a, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được giao là cơ quan thường trực các chương trình giảm nghèo, chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan tổ chức thực hiện, theo dõi, đánh giá hiệu quả của chương trình, đồng thời, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì xây dựng Quyết định số 293/QĐ-TTg.
Vì vậy, đối với kiến nghị bổ sung các huyện thuộc Quyết định số 293/QĐ-TTg được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP sẽ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, xử lý để có tham mưu, đề xuất Chính phủ xem xét, quyết định. Về phía NHNN, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xử lý các vấn đề liên quan khi có yêu cầu.
2. Để thực hiện tiêu chí điện sinh hoạt của xã nông thôn mới, cử tri kiến nghị ngành ngân hàng quân tâm xem xét, nâng mức cho vay kéo điện, vì mức cho vay hiện tại không đảm bảo để người dân kéo được điện. (Cử tri Vĩnh Long)
Thực hiện Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, trong thời gian vừa qua, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho hộ nghèo vay vốn để giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt về sửa chữa nhà ở, nước sạch, điện thắp sáng và học tập. Mức cho vay tối đa đối với điện thắp sáng hiện nay là 1.5 triệu đồng/hộ.
Trong điều kiện Ngân sách Nhà nước đang gặp khó khăn như hiện nay, việc cân đối để đảm bảo nguồn vốn cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội là sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. Rất mong cử tri chia sẻ khó khăn chung của đất nước. Đối với kiến nghị nâng mức cho vay kéo điện của cử tri Vĩnh Long, Ngân hàng Chính sách xã hội xin tiếp thu và sẽ nghiên cứu, xem xét điều chỉnh phù hợp với nguyện vọng của cử tri.
3. Đề nghị Chính phủ xem xét cho xử lý xóa nợ đối với các khoản vay đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài do người lao động bị mất việc làm, phải về nước trước thời hạn, nhưng không có thu nhập và hiện nay gia đình không có khả năng trả nợ, không thể thu hồi được nợ. (Cử tri Yên Bái)
Xuất khẩu lao động là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua, Nhà nước luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi, có nhiều chính sách hỗ trợ để công dân Việt Nam có đủ điều kiện và tự nguyện đi làm việc tại nước ngoài, trong đó có chính sách về vốn. Để đi xuất khẩu lao động, người lao động có nhu cầu vay vốn có thể vay tại các tổ chức tín dụng theo quy chế cho vay hiện hành hoặc vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội nếu khách hàng vay thuộc đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật10. Trường hợp người vay vốn đi xuất khẩu lao động gặp rủi ro ngoài ý muốn
dẫn đến khó khăn về tài chính chưa trả nợ đúng hạn hay không thể trả được do nguyên nhân khách quan, sẽ được xem xét, xử lý theo quy định hiện hành. Cụ thể:
(1) Đối với khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ được xử lý theo Quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội11:
+ Khi khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan do biến động chính trị, kinh tế - xã hội ở khu vực, quốc tế và nước nhận lao động của Việt Nam, tùy theo mức độ thiệt hại về vốn và tài sản sẽ được xem xét gia hạn nợ hoặc khoanh nợ (theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư 161/2010/TT-BTC và khoản 1, khoản 2 Điều 6 Quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội).
+ Nếu người lao động bị mất năng lực hành vi dân sự; bị tai nạn nghề nghiệp; mắc bệnh tâm thần, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không nơi nương tựa; chết; mất tích; không còn tài sản để trả nợ có thể được xem xét xóa nợ (theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 161/2010/TT-BTC và khoản 3 Điều 6 Quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội).
(2) Đối với khách hàng vay vốn tại các tổ chức tín dụng: Theo quy định pháp luật hiện hành, tổ chức tín dụng được xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, gia hạn trả nợ lãi, miễn, giảm lãi khi khách hàng gặp khó khăn về tài chính hoặc bị tổn thất về tài sản liên quan đến vốn vay. Do đó, tùy mức độ thiệt hại về vốn và tài sản của khách hàng do nguyên nhân khách quan, tổ chức tín dụng sẽ xem xét, xử lý theo quy định của từng tổ chức tín dụng.
Do vậy, đề nghị khách hàng vay vốn đi xuất khẩu lao động tại Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng, khi gặp rủi ro do các nguyên nhân khách quan, liên hệ với Ngân hàng Chính sách xã hội và tổ chức tín dụng nơi cho vay để được hướng dẫn giải quyết theo quy định.
III. Các chương trình tín dụng khác:
3.1. Vấn đề gói cho vay nhà ở xã hội 30.000 nghìn tỷ:
1. Đề nghị có giải pháp khắc phục vướng mắc vấn đề thủ tục để người dân có thu nhập thấp được hưởng gói hỗ trợ mua nhà ở xã hội; ổn định lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở 3%/năm đối với khách hàng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội với thời gian cho vay là 15 năm; Kéo dài thời hạn thực hiện giải ngân gói tín dụng 30.000 tỷ đồng lên đến 60 tháng (thay vì 30 tháng như quy định hiện nay) kể từ ngày Thông tư 11/2013/TT-NHNN có hiệu lực thi hành.
2. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân gói tín dụng cho vay hỗ trợ nhà ở theo hướng: (i) Điều chỉnh vốn đối ứng theo quy định về vốn chủ sở hữu của Luật kinh doanh bất động sản. Cho phép doanh nghiệp được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai của dự án đi vay để làm vốn đối ứng. (ii) Đa số các doanh nghiệp có dự án chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội đều gặp khó khăn về tài chính. Vì vậy, việc xem xét các điều kiện về các khoản nợ cũ khi doanh nghiệp vay vốn mới để triển khai nhà ở xã hội sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy, kiến nghị cho phép các doanh nghiệp này nếu có phương án tính toán hiệu quả, đảm bảo thu hồi được nợ thì không xem xét các điều kiện về các khoản nợ cũ khi vay vốn mới để triển khai dự án nhà ở xã hội theo văn bản số 7558/NHNN-TD ngày 14/10/2013 của NHNN được áp dụng với thời hạn theo gói tín dụng 30.000 tỷ đồng. (Cử tri TP.Hồ Chí Minh)
-Về ổn định lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở 3%/năm, thời gian cho vay là 15 năm: Ngày 21/8/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết 61/NQ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ. Theo đó, thời gian hỗ trợ đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân khi vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở thương mại tại các dự án nhà ở đã được nâng từ 10 năm lên 15 năm. Hiện nay, NHNN đã ban hành Thông tư 32/2014/TT-NHNN ngày 18/11/2014 hướng dẫn thi hành Nghị quyết 61/NQ-CP theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Riêng về mức lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 11/2013/TT-NHNN thì “Định kỳ vào tháng 12 hàng năm, NHNN xác định và công bố lại mức lãi suất áp dụng cho năm tiếp theo, bằng khoảng 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng trên thị trường nhưng không vượt quá 6%/năm”. Ngày 2/11/2014, căn cứ diễn biến mặt bằng lãi suất cho vay, NHNN đã ban hành Quyết định số 21/QĐ-NHNN điều chỉnh giảm lãi suất cho vay từ 6%/năm xuống còn 5%/năm. Như vậy, hiện nay lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay hộ nghèo (7,2%/năm), điều này thể hiện sự chia sẻ, cố gắng của ngành ngân hàng trong việc hỗ trợ những đối tượng đang gặp khó khăn về nhà ở.
- Về kéo dài thời hạn thực hiện giải ngân gói tín dụng 30.000 tỷ đồng lên đến 60 tháng: Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP (gói tín dụng 30.000 tỷ đồng) là một trong những giải pháp của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường trong điều kiện kinh tế nước ta năm 2012 vẫn chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới làm cho tổng cầu giảm thấp, tồn kho tăng cao. Đến nay, sau hơn một năm triển khai thực hiện, chương trình cơ bản đã đạt được những mục tiêu đặt ra ban đầu như tạo cơ hội cho người có thu nhập thấp có thể mua được nhà ở, tác động đến một phân khúc của thị trường bất động sản, qua đó tạo tác động lan tỏa đến các lĩnh vực khác như xi măng, sắt thép,…, giúp cho thị trường ấm dần lên. Đến nay đã có trên 9.000 khách hàng cá nhân được vay vốn mua nhà và 34 dự án của 31 doanh nghiệp được tiếp cận gói tín dụng hỗ trợ nhà ở. Như vậy, chương trình hỗ trợ nhà ở là một giải pháp mang tính tình thế được Chính phủ sử dụng trong một giai đoạn nhất định nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường bất động sản và theo quy định thời gian giải ngân của chương trình vẫn còn gần hai năm; NHNN xét thấy thời gian của gói 30.000 tỷ đồng là phù hợp.
- Về việc cho phép doanh nghiệp được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai của dự án đi vay để làm vốn đối ứng: NHNN đã phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 01/201/TTLT/NHNN-BXD-BTP-BTNMT ngày 25/04/2014 về hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Theo đó, Thông tư đã quy định các tổ chức, cá nhân được dùng nhà ở hình thành trong tương lai để thế chấp vay vốn tại các tổ chức tín dụng, tháo gỡ khó khăn vướng mắc về thủ tục thế chấp, công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm. Đây là công cụ pháp lý quan trọng góp phần tạo điệu kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ngân hàng, khơi thông nguồn vốn cho thị trường bất động sản.
- Về việc cho phép các doanh nghiệp có dự án chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội được vay vốn mới mà không cần xem xét các điều kiện về các khoản nợ cũ theo văn bản số 7558/NHNN-TD ngày 14/10/2013 của NHNN: Trong thời gian từ 2012 - 2013, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất đình trệ, tổng cầu giảm thấp, các doanh nghiệp khó có khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Trước tình hình đó, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP (năm 2011), Nghị quyết số 13/NQ-CP (năm 2012), Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP (năm 2013) của Chính phủ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, hỗ trợ thị trường, NHNN đã thực hiện một loạt các biện pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất cho doanh nghiệp như: Chỉ đạo các TCTD thực hiện Quyết định 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 về cơ cấu lại nợ cho khách hàng; Khuyến khích các TCTD đưa lãi suất các khoản vay cũ về mức dưới 13%; Chỉ đạo các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay liên quan đến điều kiện và thủ tục tín dụng theo Công văn số 7558/NHNN-TD ngày 14/10/2013 của NHNN (có hiệu lực thi hành đến hết 31/12/2013)... Những giải pháp này đã giúp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thời gian qua. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, vì vậy NHNN tiếp tục ban hành Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 (thay thế Chỉ thị số 04/CT-NHNN ngày 17/9/2013, Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 và Thông tư số 12/2013/TT-NHNN ngày 27/5/2013,) tiếp tục cho phép các TCTD được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được cơ cấu lại nợ, tiếp cận nguồn vốn tín dụng mới để vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất, kinh doanh.
Ngoài ra, thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 21/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; NHNN đã ban hành văn bản số 5342/NHNN-TTGSNH ngày 24/7/2014 yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay nhằm tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, đơn giản hóa thủ tục cho vay, cơ cấu lại các khoản vay vốn có lãi suất cao trước đây, đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các doanh nghiệp có dự án chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội nếu có phương án triển khai hiệu quả, khả thi đề nghị đến làm việc trực tiếp với các ngân hàng được giao triển khai chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ để được hỗ trợ theo quy định của pháp luật hiện hành.
3. Dự án xây dựng nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp được Bộ xây dựng cho phép và cấp tín dụng trong gói 30.000 tỷ đồng hỗ trợ xây dựng nhà ở xã hội của Chính phủ. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp phải bỏ vốn đối ứng tối thiểu 40% là quá nhiều, trong khi thời hạn cho vay đối với doanh nghiệp để đầu tư chỉ 5 năm là quá ngắn. Đề nghị Nhà nước nghiên cứu có có các giải pháp hỗ trợ tích cực về nguồn vốn và kỳ hạn vay vốn dài hạn cho các dự án đầu tư mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng như: xây dựng ký túc xá cho công nhân và nhà ở xã hội cho người lao động tại các khu công nghiệp,... (Cử tri Nam Định)
- Về ý kiến: Các doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho công nhân phải bỏ vốn đối ứng tối thiểu 40% là quá nhiều và thời hạn cho vay đối với doanh nghiệp để đầu tư chỉ 5 năm là quá ngắn, gây rất nhiều khó khăn, áp lực về tài chính cho các doanh nghiệp:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về chính sách xây dựng nhà xã hội, trong đó có các doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, NHNN đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ gói tín dụng 30.000 tỷ đồng cũng như đẩy nhanh tốc độ giải ngân, trong đó có các dự án nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp.
Về mức đối ứng của doanh nghiệp: Theo các quy định hiện hành12, mức vốn tối thiểu tham gia vào dự án, phương án vay của đối tượng khách hàng doanh nghiệp là 30% tổng mức đầu tư dự án, phương án vay. Các dự án xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang nhà ở xã hội thường có tổng mức đầu tư rất lớn. Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo việc thực hiện dự án, doanh nghiệp cần có khả năng tài chính tốt. Mặc khác, nguồn vốn ưu đãi dành cho các doanh nghiệp chỉ chiếm 30% tổng nguồn vốn của chương trình (9.000 tỷ đồng), trong khi đến nay Bộ Xây dựng đã 8 lần công bố danh mục các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang nhà ở xã hội được tham gia vay vốn theo chương trình này với tổng cộng 106 dự án, tổng mức đầu tư 36.050 tỷ đồng. Do đó, để nhiều dự án được tham gia chương trình hơn thì quy định mức cho vay tối đa đối với khách hàng doanh nghiệp bằng 70% tổng mức đầu tư của dự án là phù hợp.
Về thời hạn cho vay: Do thời gian xây dựng các dự án nhà ở thường kéo dài từ 2-3 năm và trong quá trình xây dựng, chủ đầu tư có thể bán các căn hộ cho người mua và thu tiền theo tiến độ. Vì vậy, thời hạn cho vay tối đa 5 năm là phù hợp với thời gian thu hồi vốn của các dự án xây dựng nhà ở. Trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn khó khăn và có rất nhiều nội dung quan trọng cần được quan tâm, đầu tư thì việc ưu tiên dành nguồn vốn đáng kể cho các dự án nhà ở xã hội là nỗ lực lớn của Nhà nước. Rất mong cử tri cảm thông và chia sẻ.
4. Có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các dự án nhà ở công nhân. (Cử tri TP.Hồ Chí Minh, Nam Định)
Hiện nay, đối với các dự án nhà ở cho công nhân đã có chính sách ưu đãi đầu tư như sau:
- Các dự án nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp thuê thuộc danh mục được vay vốn tín dụng đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Do vậy, chủ đầu tư các dự án nhà ở cho công nhân khu công nghiệp thuê cần liên hệ với Ngân hàng Phát triển Việt Nam để được xem xét vay vốn theo quy định.
- Ngày 07/1/2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, trong đó có nội dung dành 30.000 tỷ đồng thông qua tái cấp vốn để cho vay hỗ trợ nhà ở đối với một số đối tượng. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 11/2013/TT-NHNN ngày 15/5/2014 và Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 07/2013/TT-BXD ngày 15/5/2014 hướng dẫn cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP. Ngày 31/10/2013, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư 18/2013/TT-BXD sửa đổi, bổ sung Thông tư 07/2013/TT-BXD, theo đó, bổ sung đối tượng được vay vốn chương trình 30.000 tỷ đồng trong đó có đối tượng là chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội, dự án nhà ở công nhân khu công nghiệp.
Ngày 21/8/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 61/NQ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 02/NQ-CP bổ sung một số đối tượng trong đó có đối tượng được vay vốn là hộ gia đình, cá nhân tham gia cải tạo hoặc đầu tư xây dựng mới nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đối tượng là công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp (cả bên trong và bên ngoài khu công nghiệp) của tất cả các ngành, nghề thuộc các thành phần kinh tế. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 32/2014/TT-NHNN ngày 18/11/2014 hướng dẫn Nghị quyết 61/NQ-CP nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong cho vay hỗ trợ nhà ở theo chương trình tín dụng 30.000 tỷ đồng.
Như vậy, các chủ đầu tư là các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân đầu tư cải tạo, xây dựng nhà ở để bán/cho thuê/cho thuê mua đối với công nhân được hưởng chính sách cho vay hỗ trợ nhà ở theo chương trình tín dụng 30.000 tỷ theo quy định.
3.2. Vấn đề tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Đề nghị quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa về cơ chế chính sách vay vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển (Cử tri Tiền Giang, Trà Vinh) và được Quỹ Đầu tư phát triển bảo lãnh vay khi không đủ tài sản thế chấp (Cử tri Trà Vinh)
- Về kiến nghị tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn vay:
Nhận thức tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong việc tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giúp hình thành thị trường cạnh tranh hiệu quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu tiên để phát triển khối doanh nghiệp này13. Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, thời gian qua, NHNN đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho DNNVV phát triển sản xuất kinh doanh. Cụ thể:
+ NHNN luôn xác định DNNVV là một trong 05 lĩnh vực ưu tiên và chỉ đạo các TCTD tập trung vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên này, đồng thời, trên cơ sở diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát và thị trường tiền tệ, NHNN đã điều chỉnh giảm mạnh trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên từ 15%/năm xuống 7%/năm.
+ Tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng để duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh như: (i) Cơ cấu lại nợ và giảm lãi suất các khoản vay cũ; (ii) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; (iii) Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu; (iv) Tổ chức đối thoại và triển khai chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp nhằm tạo cầu nối giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng; (v) Linh hoạt chấp thuận cho một số TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cho vay bằng ngoại tệ đối với một số DNNVV để thực hiện các phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa thuộc lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; (vi) Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất, kinh doanh;... (vii) Hướng dẫn TCTD trong phối hợp thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với DNNVV.
+ Kịp thời ban hành các quy định tín dụng đối với một số đối tượng đặc thù với thủ tục cho vay đơn giản hơn nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí hoạt động cho vay, hỗ trợ khách hàng vay vốn đầu tư, sản xuất - kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm như: Chính sách tín dụng hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; Tín dụng kinh doanh xuất khẩu gạo; Chính sách cho vay đối với chăn nuôi, thủy sản, cà phê; Cho vay theo mô hình liên kết, áp dụng công nghệ cao, chuỗi giá trị chăn nuôi – chế biến – xuất khẩu;...
Bên cạnh đó, các TCTD cũng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về chính sách tín dụng đối với DNNVV và đã triển khai các gói sản phẩm vay vốn ưu đãi riêng cho các DNNVV bằng cả VND và USD như gói hỗ trợ “Chương trình cho vay ngắn hạn VND, USD lãi suất cạnh tranh năm 2014 đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ, siêu nhỏ” của Ngân hàng TMCP Ngoại thương; “Gói tín dụng MB chung sức cùng DNNVV” của Ngân hàng TMCP Quân đội...
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các DNNVV. Tính đến cuối năm 2014, dư nợ tín dụng của toàn hệ thống các TCTD đối với DNNVV là 923.455 tỷ đồng, tăng 6,1% so với cuối năm 2013, chiếm khoảng 25% dư nợ toàn nền kinh tế.
Tuy nhiên, để chính sách hỗ trợ vốn đối cho các DNNVV thực sự có hiệu quả, ngoài những giải pháp từ phía NHNN và các TCTD, bản thân doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, quản lý tài chính, khả năng trả nợ, xây dựng phương án, dự án sử dụng vốn vay hiệu quả, tạo niềm tin đối với TCTD yên tâm cấp tín dụng.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục bám sát Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội để tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát; tiếp tục rà soát cơ chế cho vay để xem xét chỉnh sửa hoặc bổ sung những quy định về chính sách tín dụng đối với DNNVV để phù hợp hơn với tình hình mới. Đồng thời, tiếp tục triển khai nhiệm vụ và giải pháp về hoạt động ngân hàng để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hiệu quả được vay vốn ngân hàng thuận lợi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Về ý kiến cho doanh nghiệp được Quỹ Đầu tư phát triển bảo lãnh vay khi không đủ tài sản thế chấp:
Theo quy định hiện hành14, Bộ Tài chính được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao là cơ quan chủ trì giao thực hiện hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Vì vậy, đối với kiến nghị của cử tri về tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho DNNVV được vay vốn từ Quỹ khi không đủ tài sản thế chấp sẽ do Bộ Tài chính chủ trì tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Về phía NHNN, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận nguồn vốn phát triển sản xuất kinh doanh.
1 Hiện nay lãi suất cho vay là 7%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất thông thường khác từ 1-2%/năm; thậm chí các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi còn được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
2 Chương trình cho vay thí điểm theo các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp; Cho vay đối với chăn nuôi và thủy sản theo Quyết định số 1149/QĐ-TTg ngày 8/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
3 Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho mục đích tái canh cây cà phê tại khu vực Tây Nguyên với lãi suất cho vay thấp hơn 1-2%/năm lãi suất cho vay trung, dài hạn thông thường của ngân hàng.
4 Tính đến 31/12/2014, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn ước đạt 758.000 tỷ đồng, tăng khoảng 12,8% so với cuối năm 2013, chiếm khoảng 19,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế và tăng gấp 2,4 lần so với cuối năm 2009 (năm trước khi có Nghị định 41).
5 Thấp hơn lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất thông thường khác từ 1-2%/năm; thậm chí các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi còn được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
6 Ngư dân khi vay vốn tại các TCTD để đóng tàu, mua ngư lưới cụ, trang thiết bị phục vụ đánh bắt hải sản và bảo quản, chế biến được vay tối đa 50 triệu đồng không cần tài sản bảo đảm đối với các cá nhân, hộ dân sản xuất ngư nghiệp; 200 triệu đồng đối với hộ sản xuất, kinh doanh phục vụ nông nghiệp nông thôn; 500 triệu đồng đối với hợp tác xã.
7 Hiện mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam cho lĩnh vực này là 7%/năm.
8 Theo đó, ngư dân vay vốn để mua sắm các loại máy, thiết bị, ngư lưới cụ phục vụ đánh bắt xa bờ được Ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% lãi suất trong 2 năm đầu, 50% lãi suất từ năm thứ 3 trở đi. Đối với các dự án đầu tư chế biến thủy sản (thiết bị làm lạnh, cấp đông, tái đông; sản xuất nước đá, đá vảy; thiết bị hấp sấy...) được vay vốn theo lãi suất tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.
9 Gồm Thông tư số 22/2014/TT-NHNN ngày 15/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thông tư số 114/2014/TT-BTC ngày 20/8/2014 của Bộ Tài chính.
10 Căn cứ vào Quyết định 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 về phê duyệt đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020; Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; Quyết định 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13/4/2004 về việc cho vay đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
11 Quy định tại Quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội ban hành tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20/10/2010 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội.
12 Quy định tại Thông tư 11/2013/TT-NHNN ngày 15/5/2013 và Thông tư 32/2014/TT- NHNN ngày 18/11/2014 của NHNN.
13Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV; Quyết định số 1231/QĐ-TTg ngày 07/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015; Quyết định 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tường Chính phủ về ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV.
14 Hiện nay, Quỹ đầu tư phát triển địa phương hoạt động theo quy định tại Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2014 và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013; ngoài ra, còn được giao hoặc nhận ủy thác quản lý vốn và thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại các TCTD theo quy định tại Quyết định 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ.