Năm 2012, mặc dù khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn thách thức, nhưng ngành Thông tin và Truyền thông đã tập trung chỉ đạo, chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để từng bước tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, . . . và đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trong lĩnh vực Viễn thông và Công nghệ thông tin (sau đây gọi chung là ICT).
1. Về viễn thông
Hạ tầng mạng lưới viễn thông, internet tiếp tục được đầu tư phát triển mạnh, các mạng cáp quang, trạm thu phát sóng thông tin di động được đưa vào sử dung, vệ tinh Vinasat – 2 đã sẵn sàng cung cấp dịch vụ. Đến tháng 11/2012, tổng băng thông truyền dẫn trong nước đạt 454,5 GB/s và tổng băng thông truyền dẫn quốc tế đạt 340,5 Gb/s. Mức độ phủ cáp quang đến cấp xã/phường trên cả nước đạt trên 95%.
Triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng mạng thông tin di động thế hệ thứ 3 (3G), các doanh nghiệp đã triển khai trên phạm vi toàn quốc 97.013 trạm BTS và 44.100 trạm Node B 3G. Trong 03 năm qua, tổng vốn đầu tư vào mạng lưới 3G đạt 27.779 tỷ đồng. Vùng phủ sóng 3G theo dân số và theo diện tích lãnh thổ của các doanh nghiệp trung bình đạt 212%. Tổng số thuê bao 3G đạt xấp xỉ 20 triệu.
Tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung chuyển VNIX: 130 triệu Gbytes; tổng số tên miền “.vn” đã đăng ký: 332.279, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 172%/năm; tổng số tên miền tiếng Việt đã đăng ký: 824.417, tổng số địa chỉ IPv4 đã cấp: 14.487.040 địa chỉ, số lượng địa chỉ IPv6 quy đổi theo đơn vị/64 đã cấp: 54.951.114.752/64 địa chỉ. Hệ thống mạng IPv6 hoạt động ổn định, sẵn sàng cho các doanh nghiệp kết nối.
Tổng số thuê bao điện thoại được đăng ký và đang hoạt động trên toàn quốc hiện có là 148,5 triệu, trong đó di động chiếm 93,3%. Toàn quốc có trên 31,2 triệu người sử dụng internet, đạt mật độ 35,5%. Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam, Việt Nam đứng thứ 18/20 quốc gia có số người sử dụng internet lớn nhất thế giới, đứng thứ 8 khu vực châu Á và đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á. Tổng số thuê bao internet băng rộng (xDSL) đạt 4,3 triệu thuê bao, đạt mật độ 4,8%.
Mạng lưới và dịch vụ viễn thông, internet trong nước, quốc tế, thông tin hàng hải và truyền báo luôn đảm bảo an toàn, thông tin liên lạc từ Trung ương đến địa phương thông suốt, phục vụ tốt các hoạt động, sự kiện lớn của đất nước cũng như công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.
2. Về Công nghệ Thông tin
Các cơ quan nhà nước đã từng bước xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bước đầu đáp ứng nhu cầu triển khai các ứng dụng CNTT cơ bản, khoảng 90% cán bộ, công chức tại các cơ quan trung ương, trên 60% cán bộ, công chức tại các tỉnh, thành phố đến cấp quận, huyện đã được trang bị máy tính; 100% các Bộ, tỉnh đã có Cổng thông tin điện tử trực tuyến cung cấp thông tin và dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Công nghiệp CNTT tiếp tục phát triển với năng suất và hiệu quả cao. Về mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2012 là 6,98 tỷ USD, tăng 69% so với cùng kỳ năm 2011 (2,85 tỷ USD). Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 11 tháng qua với 1,68 tỷ USD, tăng 81,5%; tiếp theo là EU: 1,38 tỷ USD, tăng 88,9%; Hoa Kỳ: 807 triệu USD, tăng 62,9% và Malaixia: 777 triệu USD, tăng gấp 10,5 lần so với cùng kỳ năm trước.
Về điện thoại các loại và linh kiện: Tổng trị giá xuất khẩu trong 11 tháng là 11,34 tỷ USD (tăng 5,68 tỷ USD, gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2011). Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam trong 11 tháng qua là EU với 5,08 tỷ USD, tăng 1,9 lần và chiếm 44,8% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước; tiếp theo là Tiểu Vương quốc Arập thống nhất: 1,31 tỷ USD, tăng 4,4 lần; Nga: 690 triệu USD, tăng 38,8%; Hồng Kông: 460 triệu USD, giảm 8,2% so với cùng kỳ năm 2011.
Tổng doanh thu công nghiệp phần mềm và dịch vụ, nội dung số duy trì được mức tăng trưởng khá, lần lượt đều vượt mốc 01 tỉ USD.
3. Đánh gía chung
Thị trường viễn thông, internet tiếp tục phát triển trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn. Công tác phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông được đẩy mạnh; Vệ tinh Vinasat-2 được phóng thành công lên quỹ đạo góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Các doanh nghiệp viễn thông từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ và giúp người dân được thụ hưởng các sản phẩm, dịch vụ mới với giá rẻ nhưng chất lượng cao hơn, đồng thời mở rộng phạm vi kinh doanh ra quốc tế. Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước và công tác phòng, chống lụt, bão đảm bảo thông suốt, kịp thời. Cổng thông tin điện tử 1400 tiếp tục phát huy hiệu quả trong việc huy động sức mạnh của toàn dân trong việc thực hiện các chương trình nhân đạo.
- Công tác ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh; ứng cứu sự cố máy tính được các Bộ, ngành đánh giá cao. Theo báo cáo đánh giá Chính phủ điện tử năm 2012 của Liên hiệp quốc, xếp hạng của Việt Nam tăng 7 bậc, xếp thứ 4 Đông Nam Á, thứ 9 Châu Á và thứ 83 thế giới.
- Các doanh nghiệp trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông vẫn giữ được mức phát triển ổn định, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Thực hiện Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án "Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015", Bộ đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tổng công ty Bưu chính Việt Nam từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) về Bộ TTTT và tiếp tục đẩy mạnh chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng đề án tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực Thông tin và Truyền thông, trọng tâm là Tập đoàn VNPT và Tổng Công ty VTC.
Hồng Đăng – Thành Nam
(Cnth theo Thnh)