Ngày 9/6 vừa qua, Bộ trưởng tài chính các nước thuộc khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu đã nhóm họp để thông qua gói cứu trợ trị giá 100 tỷ euro (tương đương 125 tỷ đôla Mỹ) nhằm giải cứu hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha. Như vậy, tiếp theo Hy Lạp, Tây Ban Nha là nền kinh tế lớn nhất trong khối Eurozone cần cứu trợ quốc tế. Điểm khác biệt ở đây là khủng hoảng tại nước này bắt nguồn từ khủng hoảng nợ ở khu vực tư nhân, mà chủ yếu là cho vay trong ngành xây dựng và bất động sản, thay vì khủng hoảng nợ công như ở Hy Lạp.
Nguồn gốc của câu chuyện “bong bóng bất động sản” ở Tây Ban Nha
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm lộ những yếu kém trong cấu trúc nền kinh tế Tây Ban Nha. Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào cầu nội địa, mà chủ yếu từ hoạt động xây dựng và bất động sản đã được chứng minh là một thất bại. Tăng trưởng dựa trên bất động sản cùng với việc mở rộng tín dụng nhanh chóng là nguyên nhân gây mất cân đối nền kinh tế.
Ở giai đoạn đầu, khi nhu cầu nhà đất tăng cao, nguồn cung không kịp đáp ứng đã đẩy giá cả bất động sản ở Tây Ban Nha tăng vọt. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác đẩy giá nhà đất tăng với mức độ chóng mặt là do việc đầu cơ kéo dài cùng với kỳ vọng giá nhà đất tăng trong tương lai của người dân. Chính vòng luẩn quẩn này đã tạo ra bong bóng địa ốc bùng nổ tại Tây Ban Nha. Theo số liệu của NHTW Tây Ban Nha, giá nhà ở trung bình đã tăng 115% trong giai đoạn 1997-2007, so với mức 40% ở khu vực EU trong cùng thời kỳ.
Nguồn: NHTW Tây Ban Nha
Có thể giải thích việc bùng nổ ngành địa ốc Tây Ban Nha trong thập niên vừa qua bởi hai nguyên nhân. Một là, lãi suất tham chiếu (reference rate) do Ngân hàng Trung Ương Âu Châu áp dụng từ năm 2001 được duy trì ở mức thấp. Hai là, mô hình tăng trưởng dựa trên hoạt động xây dựng và phát triển bất động sản được Chính phủ Tây Ban Nha đánh giá cao do mô hình này có nhiều những ưu điểm như: i) làm giảm thất nghiệp do đây là các hoạt động kinh tế cần nhiều lao động, ii) làm tăng giá trị của nhà đất – rất được các cử tri trung dung (median voter) – những người sở hữu nhiều bất động sản ủng hộ; iii) tạo ra nguồn thu lớn từ thuế. Do đó, chính phủ Tây Ban Nha đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển ngành xây dựng và bất động sản thay vì các kênh đầu tư khác.
Như đã nói ở trên, ngay sau khi Tây Ban Nha ra nhập khu vực đồng tiền chung Châu âu, cầu địa ốc tại nước này tăng mạnh do lãi suất cho vay mua nhà giảm, lãi suất tham chiếu cho các khoản vay này giảm từ 9,6% năm 1997 xuống 3,3% năm 2007. Bên cạnh đó, số lượng người nhập cư ồ ạt (khoảng 4,5 triệu người trong giai đoạn 1997-2007) cũng khiến cầu nhà đất tăng. Cầu tăng tất yếu kéo theo cung tăng, đầu tư bất động sản đã tăng từ mức 4,7% GDP năm 1997 lên mức 9,7% GDP năm 2007. Các ngân hàng cũng tận dụng thời cơ, mở rộng tín dụng mua nhà. Từ 1997 đến 2007, dư nợ cho vay mua nhà tại Tây Ban Nha tăng từ 28,4% GDP lên 102,9% GDP, khiến nợ của các hộ gia đình tăng từ 52,7% lên 132,1% thu nhập khả dụng trong cùng thời kỳ.
Vậy, đâu là điểm khác biệt của khủng hoảng tại Tây Ban Nha?
Như vậy, khác với Hy Lạp, trong trung hạn, vấn đề lớn nhất đối với nền kinh tế Tây Ban Nha không phải là nợ công mà là nợ của khu vực tư nhân. Theo thống kê, tới cuối năm 2010, nợ công Tây ban Nha chỉ khoảng 60,1% GDP, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của khối là 85% GDP. Trong khi đó nợ của khu vực tư nhân là 224% GDP (gấp 3,5 lần nợ công), trong đó các khoản nợ của các hộ gia đình là 902 tỷ euro, xấp xỉ 85% GDP và của các doanh nghiệp tư nhân là 1477 tỷ euro, tương đương 139% GDP.
Biều đồ 1: Nợ ròng theo khu vực ở Tây Ban Nha (%GDP)
Nguồn: NHTW Tây Ban Nha
Một điểm khác biệt nữa cần nói đến ở đây, trong khi nhiều nước, như Italia, Bỉ và Nhật Bản, ngân hàng huy động chủ yếu từ nguồn tiết kiệm trong nước, Tây Ban Nha lại đã sử dụng thị trường liên ngân hàng, như là một nguồn huy động chính để tài trợ cho tín dụng bất động sản. Đồng thời thông qua việc phát hành thương phiếu, trái phiếu có đảm bảo (covered bonds) và các công cụ nợ dài hạn khác huy động vốn từ nguồn tiền tiết kiệm nước ngoài khiến nợ nước ngoài của Tây Ban Nha tăng cao. Đến cuối năm 2010, tổng nợ nước ngoài của Tây Ban Nhà đã lên tới 1740 tỷ euro, tương đương 164% GDP.
Biểu đồ 2: Nợ nước ngoài theo khu vực (%GDP)
Nguồn: NHTW Tây Ban Nha
Đâu là những rủi ro tiềm ẩn
Cho tới cuối năm 2010, tín dụng tập trung vào ngành xây dựng và các hoạt động bất động sản đã lên tới mức 60% tổng dư nợ tín dụng cho khu vực tư nhân. Riêng tín dụng cho ngành xây dựng và bất động sản đã chiếm 20% danh mục cho vay đối với khu vực tư nhân, trong khi cho vay mua nhà chiếm 39%. Điều này chứng tỏ xây dựng và bất động sản tại Tây Ban Nha phụ thuộc khá nhiều vào nguồn vốn ngân hàng. Điều này dẫn tới nguy cơ đổ vỡ của các ngân hàng một khi vỡ bong bóng nhà đất.
Nguồn: NHTW Tây Ban Nha
Và đúng như dự đoán, đến cuối năm 2010, khả năng thanh toán của toàn bộ hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha thuộc nhóm thấp nhất trong khối EURO với tỷ suất khả năng thanh toán (solvency ratio) ở mức 11,9%, thấp hơn 2% so với trung bình của cả khối. Tỷ lệ vốn cấp 1/vốn chủ sở hữu của toàn bộ hệ thống là 9,6%, thấp hơn mức trung bình của khối là 13%. Như đã trình bày ở trên, việc tập trung rủi ro cao vào lĩnh vực xây dựng – bất động sản là cực kỳ đáng lo ngại khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao khiến qui mô bất động sản tịch biên có trong tay ngân hàng tăng. Đến cuối năm 2010, tỷ lệ nợ xấu cho vay trong lĩnh vực bất động sản và xây dựng là ở Tây Ban Nha lần lượt là 14% và 11%.
Khi khủng hoảng lan sang lĩnh vực ngân hàng điều đáng lo ngại đối với các nhà hoạch định chính sách đứng trên quan điểm kinh tế, là việc các ngân hàng không có khả năng thực hiện chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế. Khi khủng hoảng trở nên căng thẳng cũng là lúc tín dụng bị thu hẹp nhanh chóng, tăng trưởng tín dụng âm do khủng hoảng kéo dài. Tín dụng dành cho doanh nghiệp là loại tín dụng bị thu hẹp nhiều nhất. Cho tới cuối năm 2009, tăng trưởng tín dụng dành cho doanh nghiệp ở nước này bắt đầu âm và giảm xuống tới -4,2% giữa năm 2010. Điều này càng làm gia tăng quan ngại về việc khủng hoảng kinh tế sẽ còn kéo dài ở Tây Ban Nha.
Mặc dù Việt Nam và Tây Ban Nha là những nền kinh tế có trình độ phát triển rất khác nhau, tuy nhiên xem xét trường hợp của Tây Ban Nha giúp chúng ta có cái nhìn so sánh, ngẫm nghĩ cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn tái cơ cấu. Cũng giống như Tây Ban Nha, hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian vừa qua cũng gặp một số vấn đề về thanh khoản đặc biệt là tình hình nợ xấu gia đang gia tăng trên toàn hệ thống (lên tới 10%) đang là một vấn đề “nóng” đòi hỏi Chính phủ phải có những giải pháp cấp bách để tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Việc các ngân hàng cho vay đầu tư bất động sản quá nhiều dẫn tới nguy cơ nợ xấu một khi bong bóng bất động sản vỡ. Hậu quả tất yếu hoạt động tín dụng bị thu hẹp khiến sản xuất bị đình trệ, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, ngân hàng lại gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn vay, ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng, tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế nói chung. Đây là cái vòng luẩn quẩn mà chúng ta đã đang và tiếp tục phải chứng kiến cho dù ở bất kỳ đâu và trong giai đoạn phát triển nào.
--------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
- Javier Suarez, “The Spanish crisis: Background and policy challenges”, Tháng 12/2010
- Francisco Carballo-Cruz, “Causes and consequences of the Spanish crisis: Why the recovery is taken so long?”, Tháng 9/2011
- Eloisa Ortega và Juan Penalosa, “The Spanish economic crisis: key factors and growth challenges in the euro area”, 2012.
Ths. Đỗ Thị Bích Hồng
Ths. Nguyễn Hoài Nam