Ngày 07/3/2017, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo tạm thời về triển vọng kinh tế toàn cầu với nhận định, GDP toàn cầu năm 2018 dự báo tăng 3,5-3,6%, một mức tăng khiêm tốn từ kết quả tăng 3,0% vào năm 2016 và 3,3% trong năm nay, thấp hơn kết quả tăng trưởng trung bình 4%/năm trong hai thập kỷ trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
Trong hai năm 2017-2018, kinh tế toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng nhẹ, chủ yếu nhờ các sáng kiến tài khóa, nhất là tại Trung Quốc và Mỹ, cùng với chính sách nới lỏng tài chính tại khu vực đồng tiền chung euro và nỗ lực tại Canada cũng như một số nước khác. Những chính sách này cần thiết cho việc hỗ trợ nhu cầu tư nhân và thúc đẩy nhu cầu trên toàn cầu, làm cơ sở để thúc đẩy hoạt động kinh tế toàn cầu và giảm dần tình trạng bất bình đẳng.
Theo OECD, các nền kinh tế chủ chốt tiếp tục là động lực tăng trưởng toàn cầu, nhất là những sáng kiến về tài khóa. Về cơ bản, dự báo của OECD không thay đổi so với dự báo đưa ra hồi tháng 11/2016, với một số dấu hiệu tích cực về sự gia tăng các hoạt động kinh tế và nhu cầu chi tiêu trong những tháng gần đây tại các nước phát triển và nhiều nước mới nổi. Tuy nhiên, lãi suất và giá dầu tăng sẽ cản trở những nỗ lực này, mặc dù một số nước mới nổi sẽ hưởng lợi nhờ giá hàng hóa tăng cao. Niềm tin được cải thiện, nhưng thương mại, đầu tư và tiêu dùng thấp xa mức tăng trưởng bền vững.
Dự báo tạm thời về tăng trưởng kinh tế toàn cầu so với năm trước (%)
|
2016 |
2017 |
2018 |
||
|
|
Dự báo |
So với dự báo trước |
Dự báo |
So với dự báo trước |
Toàn cầu |
3,0 |
3,3 |
0,0 |
3,6 |
0,0 |
Mỹ |
1,6 |
2,4 |
0,1 |
2,8 |
-0,2 |
Khu vực đồng euro |
1,7 |
1,6 |
0,0 |
1,6 |
-0,1 |
CHLB Đức |
1,8 |
1,8 |
0,1 |
1,7 |
0,0 |
CH Pháp |
1,1 |
1,4 |
0,1 |
1,4 |
-0,2 |
Italia |
1,0 |
1,0 |
0,1 |
1,0 |
0,0 |
Nhật Bản |
1,0 |
1,2 |
0,2 |
0,8 |
0,0 |
Canada |
1,4 |
2,4 |
0,3 |
2,2 |
-0,1 |
VQ Anh |
1,8 |
1,6 |
0,4 |
1,0 |
0,0 |
Trung Quốc |
6,7 |
6,5 |
0,1 |
6,3 |
0,2 |
Ấn Độ |
7,0 |
7,3 |
-0,3 |
7,7 |
0,0 |
Brazil |
-3,5 |
0,0 |
0,0 |
1,5 |
0,3 |
Các nước G20 |
3,1 |
3,5 |
-0,1 |
3,8 |
0,0 |
Những nước khác |
2,3 |
2,7 |
-0,1 |
3,2 |
0,0 |
Tình trạng thiếu kết nối giữa các thị trường tài chính, bất ổn thị trường tiềm tàng, những thương tổn về tài chính và bất định chính sách có thể kìm hãm xu hướng phục hồi vốn rất mong manh hiện nay. Trong đó, những thay đổi diễn ra vào giữa năm 2016 về chu kỳ lãi suất và sự khác biệt về lãi suất giữa các nền kinh tế chủ chốt làm gia tăng rủi ro về biến động tỷ giá. Những tổn thương vẫn đeo bám một số nước phát triển, do giá nhà ở tăng mạnh. Rủi ro tại các nước mới nổi cũng ở mức cao, bao gồm nợ doanh nghiệp và nợ xấu ngân hàng tăng cao, những tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài.
Sau khi trầm lắng vào năm 2016, thương mại toàn cầu bắt đầu có dấu hiệu cải thiện, nhất là tại châu Á. Tuy nhiên, tăng trưởng thương mại dường như vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn trước khủng hoảng 2008, một phần là do các chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng tăng chậm lại, thậm chí tăng trưởng âm.
Tại hầu hết các nước trên thế giới, lạm phát cơ bản có xu hướng tăng dần do giá năng lượng phục hồi sau khi Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mở (OPEC) đạt thỏa thuận tháng 11/2016 về cắt giảm sản lượng dầu. Tuy nhiên, lạm phát cơ bản tại các nước phát triển vẫn ở mức thấp và tăng rất chậm do khả năng mở rộng kinh tế vấp phải trở ngại như lương và thu nhập tăng theo. Tại nhiều nước mới nổi, lạm phát có xu hướng giảm nhẹ, do các biện pháp phá giá trước đây không còn phát huy tác dụng và các biện pháp chính sách tiền tệ tỏ ra có hiệu quả. Tuy nhiên, các nước nhập khẩu hàng hóa sẽ phải đối mặt với xu hưởng giá cả tăng dần.
Tại Mỹ, nhu cầu chi tiêu được kỳ vọng sẽ tăng vững trong hai năm tới đây, nhờ chi tiêu của các hộ gia đình tăng cao và sản lượng dầu cùng một số mặt hàng năng lượng khác tăng trở lại. Số người có việc làm tiếp tục tăng, mặc dù không tăng nhanh như trước đây, tiền lương tiếp tục tăng khi thị trường lao động thu hẹp dần. GDP được dự báo tăng 2,4% trong năm 2017 và 2,8% trong năm 2018, chủ yếu nhờ mở rộng tài khóa, nhất là trong năm 2018, mặc dù lãi suất dài hạn sẽ tăng và những tác động tiêu cực do USD tăng vững. Nhìn chung, các biện pháp mở rộng tài khóa và giảm thuế, điều chỉnh hoạt động thương mại sẽ có tác động đáng kể đến kết quả tăng trưởng kinh tế.
Tại khu vực đồng tiền chung euro, GDP dự báo tiếp tục tăng nhẹ như trong thời gian qua, nhờ chính sách tiền tệ mở rộng và một số biện pháp hỗ trợ tài khóa trong những năm tới. Dấu hiệu tích cực là hoạt động đầu tư kinh doanh sẽ cải thiện, nhưng nợ xấu ngân hàng tăng cao và thị trường lao động yếu ớt tại một số nước thành viên sẽ cản trở triển vọng kinh tế. GDP được dự báo tiếp tục tăng vững tại CHLB Đức, nhưng tăng chậm dần tại Pháp và Italia. Tình trạng thất nghiệp giảm dần, nhưng vẫn khá cao (trên 9,0%). Cùng với tỷ lệ thất nghiệp cao tại một số nước thành viên, tình trạng thanh niên thiếu việc làm đang tác động tiêu cực đến nhu cầu hiện nay và triển vọng tăng trưởng kinh tế trong những năm tới. Lạm phát cơ bản tăng dần nhờ giá năng lượng tăng trở lại, nhưng không đủ để thúc đẩy lạm phát lõi một cách bền vững.
Tại hầu hết những nước phát triển khác, GDP được dự báo tiếp tục xu hướng tăng nhẹ như hiện nay. Tại VQ Anh, GDP năm 2016 tăng thấp hơn so với những năm trước đó, mặc dù chi tiêu của các hộ gia đình khá bền vững, nỗ lực của Ngân hàng Trung ương (BoE) và một số biện pháp tài khóa sau khi cử tri Anh bỏ phiếu rời Liên minh châu Âu. Tại VQ Anh, GDP được kỳ vọng tiếp tục tăng nhẹ do lạm phát tăng cao sẽ ảnh hưởng đến thu nhập thực tế, tiêu dùng của các hộ gia đình và hoạt động đầu tư yếu ớt trong bối cảnh khó định đoán về các mối quan hệ thương mại của VQ Anh với các bên đối tác. Tại Nhật Bản, việc điều chỉnh nâng dự báo tăng trưởng kinh tế phần nào phản ánh dấu hiệu tích cực về hoạt động kinh tế gần đây. Sản xuất công nghiệp và xuất khẩu cải thiện, nhờ yên Nhật giảm giá, nhưng tiêu dùng cá nhân vẫn yếu ớt. GDP tại Nhật Bản sẽ tăng 1,2% trong năm nay và tiếp tục tăng trong năm 2018, nhờ các biện pháp nới lỏng tài khóa trong thời gian qua, nhưng triển vọng tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào mức độ mở rộng tiền lương vốn đang tăng thấp hiện nay. Tại Canada, GDP được kỳ vọng tiếp tục tăng nhờ các sáng kiến tài khóa, thị trường xuất khẩu mở rộng và sản xuất hàng hóa phục hồi.
Tại Trung Quốc, GDP được dự báo tiếp tục xu hướng tăng chậm dần xuống 6,3% vào năm 2018 khi quốc gia này phải điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế sang phát triển dịch vụ và tiêu dùng trong nước, hạn chế đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp nặng, giảm dần tình trạng đóng băng nhà đất với mức tăng trưởng tín dụng phù hợp. Nhu cầu sẽ được cải thiện nhờ chính sách tài khóa mở rộng, kể cả thông qua các ngân hàng chính sách, qua đó sẽ hỗ trợ đầu tư và thương mại tư nhân. Lạm phát sản xuất tăng nhanh, nhưng chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục ở mức thấp.
Tại một số nước xuất khẩu hàng hóa khác như Brazil, CHLB Nga, giá hàng hóa tăng cao và lạm phát giảm dần đang giúp quốc gia này thoát khỏi suy thoái trầm trọng trong những năm gần đây, mặc dù nguy cơ thiếu hụt nguồn cung trong giai đoạn ngắn hạn sẽ cản trở tác động tích cực của xu hướng dầu tăng giá tại các nước xuất khẩu. Trong hai năm tới, kinh tế Ấn Độ được kỳ vọng tiếp tục tăng cao, nhờ thực hiện các biện pháp tái cơ cấu và tiền lương của công chức tăng cao.
Tuy nhiên, những thương tổn về tài chính và rủi ro chính sách có thể sẽ cản trở xu hướng phục hồi vốn rất khiêm tốn hiện nay, chủ yếu do thiếu kết nối, bất ổn và tổn thương tài chính và bất định chính sách. Mặc dù những chỉ số tài chính chủ chốt có dấu hiệu cải thiện so với năm trước, căng thẳng tài chính vẫn tiếp tục tăng. Mặc dù chưa thể lượng hóa được những thiệt hại về vật chất, nhưng rủi ro này có thể xảy ra. Trong đó, những cú sốc lớn với tác động qua lại lẫn nhau sẽ gây biến dạng xu hướng phục hồi kinh tế.
Một biểu hiện rõ ràng trên các thị trường tài chính là tình trạng thiếu kết nối giữa đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế (được phản ánh trong giá trị thị trường) với dự báo tăng trưởng kinh tế thực. Tại nhiều nước phát triển, giá cổ phiếu tiếp tục tăng cao trong sáu tháng qua, mặc dù lãi suất danh nghĩa tăng đáng kể. Tuy nhiên, những kỳ vọng về tăng trưởng thu nhập trong thời gian này của các doanh nghiệp tại Mỹ và khu vực euro dường như không tăng. Giá cổ phiếu tăng cao cho thấy, cảm nhận thị trường tương phản với tăng trưởng tiêu dùng và đầu tư yếu ớt, thậm chí thấp hơn nhiều so với kết quả phục hồi trong thời gian qua, năng suất lao động tăng chậm và bất bình đẳng tiếp tục kéo dài.
Giữa năm 2016, những thay đổi trở lại về chu kỳ lãi suất làm gia tăng rủi ro và bất ổn trên thị trường tài chính. Trong những tháng gần đây, lãi suất dài hạn có xu hướng gia tăng trên toàn cầu, mặc dù vẫn ở mức thấp trong lịch sử kinh tế thế giới. Nhờ các biện pháp tài chính và tiền tệ về tái cân bằng nhu cầu, một số mức lãi suất đã giảm về trạng thái bình thường. Tuy nhiên, phản ứng của thị trường tài chính về xu hướng tăng lãi suất sau thời gian dài mở rộng tiền tệ và lợi nhuận thấp có thể không suôn sẻ như hiện nay.
Trong thời gian gần đây, xu hướng tăng lãi suất liên quan với sự vận động đáng kể của tỷ giá hối đoái, do USD tăng giá quá nhanh so với euro và yên Nhật, và nhiều đồng tiền của các nước mới nổi đối mặt với áp lực thị trường. Kỳ vọng thị trường tài chính cho thấy, sự khác biệt rất lớn về lãi suất ngắn hạn giữa các nước phát triển sẽ tiếp tục mở rộng trong những năm tới. Điều này làm gia tăng rủi ro về những căng thẳng và bất ổn trên thị trường tài chính, rõ nhất là tỷ giá, có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bất ổn tài chính.
Phần lớn những tổn thương tài chính hình thành từ sự tin tưởng quá mức vào chính sách tiền tệ trong những năm gần đây, dẫn đến xu hướng kéo dài thời kỳ lãi suất thấp, làm tăng gánh nặng nợ nần tại một số nước, đẩy giá cả tăng theo và làn sóng theo đuổi lợi nhuận. Trong những năm gần đây, giá nhà ở tại một số nước phát triển tăng nhanh, bao gồm Australia, Canada, Thụy Điển, VQ Anh. Kinh nghiệm quá khứ cho thấy, giá nhà ở tăng nhanh có thể dẫn đến xu hướng kinh tế tăng chậm. Giá thuê nhà tại một số nước đang đứng ở mức cao, và vượt mức giá dài hạn tại nhiều nước khác.
Kể từ sau khủng hoảng tài chính, trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành tăng khá cao, phần nào phản ánh xu hướng lãi suất thấp và hạn chế vay vốn ngân hàng, nhưng kết quả xếp hạng trái phiếu của các doanh nghiệp phi tài chính cũng giảm theo. Tuy nhiên, lượng trái phiếu do doanh nghiệp phát hành tại Mỹ và khu vực đồng tiền chung euro đã giảm xuống mức thấp hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng.
Phần lớn tổn thương tài chính bắt nguồn từ các nước mới nổi, mặc dù nguyên nhân khác nhau. Trong đó, tín dụng tư nhân tăng nhanh và nợ nần tăng cao là rủi ro chính tại một số nước, nhất là Trung Quốc, mà nguyên nhân là do điều kiện tiếp cận tài chính thuận lợi trong bối cảnh lãi suất thấp trên toàn cầu. Do nợ nần tăng cao, nhất là nợ doanh nghiệp phi tài chính, các nước có thể phải tăng lãi suất hoặc kiềm chế nhu cầu. Tương tự, một sự thay đổi về chu kỳ tín dụng cũng làm tăng nợ xấu ngân hàng, nhất là tại Ấn Độ và CHLB Nga, dẫn đến phân bổ sai nguồn vốn và gây áp lực lên hệ thống ngân hàng. Tại Trung Quốc, nợ xấu tăng cao phản ánh xu hướng vay mượn của khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Nhiều nước mới nổi cũng bị tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài và thiếu cân xứng về tiền tệ. Những thay đổi nhanh chóng về tỷ giá hối đoái, đồng bản tệ mất giá có thể gây ra những căng thẳng tài chính tại những nước vay nợ nước ngoài ở mức cao hoặc những nước thiếu cân xứng giữa nợ dưới dạng ngoại tệ và thu xuất khẩu. Trong số này, Brazil, Indonesia, CHLB Nga và Thổ Nhĩ Kỳ là những quốc gia có những khoản nợ dưới dạng USD vượt quá khoản thu USD từ xuất khẩu hàng năm.
Tại nhiều nước, xu hướng bất định chính sách trong tương lai và định hướng chính trị tăng cao. Trong năm 2016, bất định chính sách gia tăng đáng kể trên phạm vi toàn cầu, thậm chí tăng nhanh tại nhiều nước. Tổng quát hơn, tình trạng suy giảm lòng tin của cử tri vào hệ thống chính trị tại nhiều nước có thể gây khó khăn cho các chính phủ trong việc theo đuổi và duy trì chương trình chính sách cần thiết để đạt mức tăng trưởng bền vững hơn.
Trên toàn cầu, xu hướng bất định về định hướng chính sách thương mại trong tương lai cũng gia tăng đáng kể, một phần là do thiếu sự hỗ trợ của chính phủ đối với hoạt động thương mại tại các nước phát triển và những chênh lệch về kết quả hoạt động giữa các ngành, khu vực và người lao động.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: OECD tháng 3/2017