QUỐC HỘI KHÓA XIV ỦY BAN KINH TẾ Số: 136 /BC-UBKT14 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2016 |
BÁO CÁO
thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017
Thực hiện phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV và Báo cáo của Chính phủ, tổng hợp ý kiến Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, ý kiến của các thành viên Ủy ban Kinh tế tại Phiên họp toàn thể vào ngày 7/10/2016 và ý kiến tại Phiên họp thứ 4 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Kinh tế thay mặt các cơ quan của Quốc hội báo cáo Quốc hội như sau:
PHẦN I
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI
VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2016
Năm 2016, kinh tế thế giới có nhiều khó khăn khi các nền kinh tế lớn chưa thoát khỏi bất ổn, tốc độ tăng trưởng kinh tế phục hồi chậm1; ngoài những khó khăn nội tại từ trước, kinh tế, xã hội và môi trường trong nước gặp phải những khó khăn, thách thức lớn nhưng nhìn tổng thể tình hình năm 2016 đã có chuyển biến đúng hướng, tăng trưởng kinh tế tuy không đạt kế hoạch nhưng vẫn khá cao so với các nước trong khu vực2; lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức dưới 5%; lãi suất, tỷ giá tương đối ổn định; thu ngân sách vượt dự toán kế hoạch, dự trữ ngoại hối tăng. Sau khi được kiện toàn, Chính phủ đã có thông điệp rõ ràng, phản ứng nhanh trước các vấn đề bức xúc của xã hội, quyết liệt triển khai nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, “cởi trói” cho doanh nghiệp; thu hút đầu tư FDI tăng cả về số dự án, vốn đăng ký và giải ngân3; số doanh nghiệp đăng ký mới, doanh nghiệp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng cao hơn cùng kỳ4; khách du lịch quốc tế tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước5. Các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, việc làm, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm, hỗ trợ kịp thời. Cơ sở vật chất và công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước cải thiện, ngành y tế tiếp tục thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế. Các ngành, các cấp tăng cường kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tội phạm tiếp tục được quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Trật tự an toàn giao thông có chuyển biến, giảm cả về số vụ, số người chết, số người bị thương so với cùng kỳ năm 20156. Các hoạt động đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực, nhiều sự kiện ngoại giao lớn và quan trọng được tổ chức thành công.
1. Đánh giá về thực hiện mục tiêu tổng quát
Đa số ý kiến nhất trí với đánh giá của Chính phủ về việc bảo đảm mục tiêu tổng quát theo Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016. Một số ý kiến cho rằng, việc không đạt chỉ tiêu tăng trưởng sẽ làm giảm số GDP tuyệt đối dự kiến từ 5,1 triệu tỷ đồng xuống khoảng 4,6 triệu tỷ đồng, thậm chí xuống 4,1 triệu tỷ đồng (tăng trưởng ở mức 6,3%) dẫn đến tăng tỷ lệ bội chi và nợ công so với GDP cao hơn mức đề ra, nợ công cao, áp lực trả nợ lớn, cân đối ngân sách nhà nước khó khăn, cơ cấu thu và chi ngân sách chưa hợp lý, nợ xấu chưa được xử lý thực chất. Như vậy, cần đánh giá kỹ hơn về nhận định kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; các nhiệm vụ trọng tâm tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu ngân hàng thương mại và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục được đẩy mạnh.
2. Đánh giá về một số chỉ tiêu chủ yếu
(1) Về chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP):
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) không đạt kế hoạch. Qua theo dõi nhiều năm nhận thấy kinh tế quý IV bao giờ cũng có tốc độ tăng cao nhất trong 4 quý. Vì vậy dự báo tốc độ GDP quý IV tăng cao là hợp lý. Tuy nhiên căn cứ để bảo đảm tăng trưởng cả năm từ 6,3-6,5% như báo cáo của Chính phủ, dự báo những yếu tố tác động để GDP quý IV tăng cao hơn là dư địa chính sách tài khóa, tín dụng (phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch), nông nghiệp tăng trưởng cao hơn, số doanh nghiệp quay lại hoạt động và thành lập mới tăng cao, thu hút vốn FDI tăng và quy luật GDP quý cuối bao giờ cũng tăng cao hơn các quý trước thì hầu hết là chưa chắc chắn, chưa được định lượng cụ thể, thêm vào đó, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung vừa diễn ra gây thiệt hại lớn. Dự báo kết quả ước thực hiện cả năm GDP tăng 6,3-6,5% cũng chỉ là kỳ vọng và sẽ rất khó để đạt được. Ngược lại nếu việc kiểm soát hiệu quả không tốt, việc gia tăng giải ngân tín dụng và ngân sách trong những tháng cuối năm sẽ tạo áp lực lạm phát trong thời gian tới.
Có ý kiến cho rằng, Báo cáo của Chính phủ chủ yếu đề cập đến những nguyên nhân khách quan mà chưa phân tích rõ về những nguyên nhân chủ quan. Nhìn rộng hơn, sự sụt giảm tăng trưởng của nông nghiệp cho thấy những bất cập của một nền nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết, hiệu quả thấp và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Hệ thống doanh nghiệp là động lực phát triển nhưng cả khu vực nhà nước và tư nhân đều yếu về thực lực và sức cạnh tranh, số doanh nghiệp đăng ký nhiều nhưng số doanh nghiệp đang hoạt động chỉ chiếm khoảng 57%7 so với số đăng ký, một số còn lợi dụng chính sách “tiền đăng, hậu kiểm” để thành lập doanh nghiệp trục lợi bất chính. Cơ cấu thị trường tài chính cũng chưa hợp lý, thị trường vốn và thị trường bảo hiểm còn khiêm tốn so với thị trường tiền tệ, chưa tạo kênh thu hút vốn xã hội để đầu tư phát triển dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không dám đầu tư trung và dài hạn cho nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ.
(2) Về chỉ tiêu Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu:
Dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ước tăng 6-7% thấp hơn chỉ tiêu theo kế hoạch (tăng khoảng 10%), thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chững lại về tốc độ, đặc biệt xuất khẩu vào khu vực ASEAN (giảm 10%) và thâm hụt thương mại với Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng (8 tháng là 18,8 tỷ USD8). Cơ cấu sản phẩm công nghiệp xuất khẩu của nước ta chủ yếu là hàng lắp ráp (điện thoại di động), gia công (dệt may, da giày) đều là sản phẩm giá trị gia tăng thấp phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI trên 70%. Trong bối cảnh ngành dệt may đang phải đối mặt với cạnh tranh rất gay gắt, sự cố dừng sản xuất và thu hồi điện thoại di động Galaxy Note 7 của Samsung mới xảy ra, đề nghị báo cáo bổ sung khả năng đạt chỉ tiêu tăng xuất khẩu và nhập siêu như đã dự báo9. Đề nghị đánh giá rõ hơn việc tháo gỡ khó khăn đối với các mặt hàng dư thừa (gạo), tồn kho gần 12 triệu tấn than đá nhưng không tiêu thụ, không xuất khẩu được; cần đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thu mua, xuất khẩu lúa gạo, không để tự cạnh tranh, ép giá lẫn nhau.
(3) Về chỉ tiêu chỉ số giá tiêu dùng (CPI):
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) dự báo cả năm tăng khoảng 4,5-5%. Nhiều ý kiến đề nghị cần phấn đấu kiểm soát lạm phát dưới 4% các năm đầu kỳ kế hoạch theo Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Từ nay đến cuối năm 2016, đề nghị tính toán thời gian, liều lượng điều chỉnh phù hợp đối với giá dịch vụ y tế, giáo dục, theo dõi sát giá xăng dầu thị trường thế giới để kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng phù hợp (kế hoạch là 18%) ... để tránh gây áp lực lên chỉ số CPI.
(4) Về thu, chi ngân sách nhà nước:
Trong điều kiện tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch, ngành tài chính đã có nhiều cố gắng trong quản lý thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, số thu từ dầu thô, thu xuất nhập khẩu không thể đạt dự toán; số thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 57,4% dự toán. Tình trạng trốn thuế, thất thu tương đối lớn, tính đến ngày 31/8/2016, với 74,8 nghìn tỷ đồng nợ đọng thuế trên toàn quốc, trong đó hơn 14,8 nghìn tỷ đồng nợ thuế không có khả năng thu. Đề nghị đánh giá nguyên nhân số thu trung ương đạt thấp, số thu địa phương hầu hết vượt dự toán, số quyết toán cao hơn số dự toán có phải do giao dự toán thấp để được thưởng vượt thu. Có ý kiến đề nghị đánh giá rõ về tác động của sự cố ô nhiễm môi trường đến thu NSNN đối với các tỉnh miền Trung để có biện pháp điều hành ngân sách phù hợp; thu ngân sách từ chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất, bán trụ sở... trên sổ sách thì cao, nhưng trừ đi chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng hoặc dùng ngân sách để thu hồi, đền bù giải tỏa và xây dựng mới thì số thực thu, có thể sử dụng được không nhiều, cần phản ánh đầy đủ trong báo cáo thu chi ngân sách.
Về thu từ dầu thô, Chính phủ ước tính giá dầu thanh toán bình quân 4 tháng cuối năm khoảng 46 - 48 USD là hợp lý, tuy nhiên, trước những bất ổn và diễn biến khó lường của giá dầu trên thế giới, cần thường xuyên cập nhật tình hình để đánh giá thu từ dầu thô sát với thực tế, có giải pháp kịp thời để bù đắp hụt thu, tránh bị động đối với tổng thu cân đối NSNN.
Về thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu, việc xác định số hoàn thuế GTGT năm 2016 là 98 nghìn tỷ đồng theo dự toán là chưa bảo đảm phù hợp với thực tế (trong 8 tháng đầu năm hoàn 93,6 nghìn tỷ đồng). Đề nghị đánh giá bổ sung số chi hoàn thuế trong thực tế để bảo đảm phản ánh sát thực số ước thực hiện thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2016, tránh phát sinh nợ quỹ hoàn thuế.
Về chi NSNN, đến hết tháng 9/2016, tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 54,5% dự toán, trái phiếu Chính phủ giải ngân đạt khoảng 38,8% dự toán là quá thấp. Đề nghị Chính phủ xem xét lại căn cứ, hiệu quả của việc giải ngân vốn đầu tư phát triển cả năm 2016 đạt 102,4% dự toán; đánh giá lại một số khoản chi nhiều năm không đạt dự toán như chi khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo... Một số bộ, ngành, địa phương vẫn còn tình trạng chi không đúng chế độ, không đúng định mức, vượt dự toán được duyệt, sử dụng nguồn dự phòng cho một số nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp bách ngân sách trung ương cấp bổ sung có mục tiêu cho địa phương nhưng thực tế chi không đúng mục tiêu, chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng cao 64,3% trong tổng chi.
(5) Về chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và tỷ lệ lao động qua đào tạo:
Theo ước tính 2 chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và tỷ lệ lao động qua đào tạo đều đạt kế hoạch nhưng nhiều ý kiến cho rằng thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ, chưa kết nối được cung – cầu lao động. Lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn 42%, khu vực lao động phi chính thức còn lớn là nguyên nhân của năng suất lao động xã hội thấp, đời sống của người lao động khó khăn. Người lao động tại các khu công nghiệp thiếu các điều kiện thiết yếu về xã hội là vấn đề đáng báo động. Việc làm cho thanh niên, sinh viên mới ra trường vẫn còn khó khăn, xu hướng lao động có trình độ chuyên môn nhưng lại thiếu việc làm và thất nghiệp cao phản ánh chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu10. Có ý kiến đề nghị cần đánh giá rõ hơn về công tác dạy nghề, chất lượng đào tạo nghề cho nông dân, lao động nông thôn để thấy được hiệu quả thực chất, làm cơ sở xây dựng kế hoạch sắp tới phù hợp hơn11.
(6) Về các chỉ tiêu khác, một số ý kiến cho rằng, 2 chỉ tiêu rất quan trọng là tốc độ tăng trưởng và tốc độ tăng xuất khẩu không đạt, GDP tuyệt đối giảm 500 nghìn tỷ đồng, nhưng không ảnh hưởng đến thu ngân sách, 11 chỉ tiêu khác vẫn đạt và vượt kế hoạch là chưa hợp lý. Báo cáo mới phân tích về một số chỉ tiêu, những chỉ tiêu còn lại thì gần như không có phân tích nên không đủ cơ sở để so sánh, đánh giá, đề nghị Chính phủ bổ sung cụ thể, đầy đủ, toàn diện hơn, đặc biệt là các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, môi trường.
3. Đánh giá về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp
Nghị quyết của Quốc hội yêu cầu điều hành linh hoạt, hiệu quả chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác để đạt và vượt các chỉ tiêu. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp về thị trường, tín dụng12, tín dụng tiếp tục tăng trưởng phù hợp với đà phục hồi của nền kinh tế13, việc điều hành cung tiền hợp lý đã tạo điều kiện ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ ổn định tỷ giá trong điều kiện CPI tăng mạnh so với năm 2015. Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu cao và sự yếu kém của một số ngân hàng thương mại, lãi suất trái phiếu Chính phủ tuy giảm nhưng vẫn ở mức khá cao gây khó khăn trong việc hạ mặt bằng lãi suất cho vay. Có ý kiến cho rằng các biện pháp quản lý mang tính hành chính như chính sách trần lãi suất là không phù hợp; lạm phát trở lại là nguy cơ đáng chú ý nhất sau thời gian khá dài duy trì ổn định ở mức thấp khiến cho cơ hội giảm mặt bằng lãi suất càng nhỏ. Dư địa ngân sách ngày một eo hẹp do chi thường xuyên và chi trả lãi, nợ gốc ngày một tăng cao; khoảng cách giữa chi thường xuyên và chi đầu tư ngày càng nới rộng14. Có ý kiến lo ngại tình trạng bội chi ngân sách cao, nợ công tăng nhanh trong giai đoạn trước là một trong các rủi ro lớn cho nền kinh tế, nợ công có khả năng vượt trần là 65% GDP trong năm 2016. Việc tăng giải ngân nguồn vốn vay ODA sẽ làm dự toán chi NSNN bị phá vỡ, thâm hụt ngân sách tăng so với dự toán do Chính phủ thực hiện nhiều giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn vay ODA, đồng thời, hiện còn đang nợ khá lớn các chính sách đã ban hành cùng với việc chưa xử lý khoản vay về cho vay lại đối với một số doanh nghiệp làm cho giá vốn ở thị trường tăng cao.
Chính phủ đã tích cực triển khai đồng bộ quy định của các luật liên quan đến đầu tư kinh doanh và tiếp tục thực hiện hiệu quả các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phấn đấu chỉ số môi trường kinh doanh đạt mức trung bình của nhóm nước hàng đầu trong ASEAN. Sau khi được kiện toàn, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, được xem là “cú đúp” cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 1642/QĐ-TTg về việc thành lập Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn còn đối diện với 5 nhóm vấn đề được coi là trở ngại lớn nhất đó là tiếp cận tài chính, đất đai, chính sách thiếu ổn định, không đủ lao động qua đào tạo, kỷ luật lao động kém và tham nhũng vặt. Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2006-2015 cho thấy các lĩnh vực không được cải thiện hoặc có chiều hướng đi xuống đó là: chi phí không chính thức, tính năng động của chính quyền, tiếp cận đất đai và cạnh tranh bình đẳng. Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu 2016-2017, dù vẫn có xu hướng chung là môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện nhưng nước ta xếp ở vị trí 60 trong số 138 nước, giảm 4 bậc so với năm 201515 cho thấy các nước cũng không ngừng cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia và nước ta cần chuyển động mạnh mẽ hơn nữa mới tăng được xếp hạng cạnh tranh. Có ý kiến đề nghị để bảo đảm môi trường đầu tư - kinh doanh công bằng cần làm rõ sự công khai, minh bạch về cách tính giá các mặt hàng thiết yếu là đầu vào của sản xuất như xăng dầu, điện, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và cách khắc phục hậu quả của việc áp mức thuế nhập khẩu giá xăng dầu không đúng vừa qua.
Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước nhiều ý kiến cho rằng ít có sự chuyển biến; tốc độ cổ phần hoá DNNN quá chậm16 trong đó có nguyên nhân là chưa có sự vào cuộc quyết liệt của một số bộ, ngành, chưa xác định trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp; số lượng doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ còn lớn; hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực Nhà nước giao. Một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng tỷ lệ cổ phần nắm giữ của Nhà nước còn lớn chưa tạo chuyển biến về chất đối với việc huy động vốn từ xã hội cho đầu tư phát triển và quản trị doanh nghiệp. Chậm cổ phần hóa, hoạt động không hiệu quả nhưng chi phí tiền lương vẫn rất cao (chủ yếu cho lãnh đạo doanh nghiệp). Các DNNN chưa tiến hành công khai, minh bạch công bố thông tin theo Nghị định 81/2015/NĐ-CP. Cần đánh giá đầy đủ việc sắp xếp, mua bán, sáp nhập và sử dụng vốn nhà nước không tuân thủ Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (đã có hiệu lực từ năm 2015) tại một số công ty cổ phần Nhà nước nắm vốn chi phối như Mobiphone mua Công ty AVG, sử dụng đất tại các DNNN (Tổng công ty Đường sắt Việt Nam).... Báo cáo cụ thể về hiệu quả công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước và phương án xử lý các dự án đầu tư lãng phí, kém hiệu quả mà dư luận quan tâm17; báo cáo thêm về kết quả hoạt động, xử lý nợ của Vinashin, Vinalines cho đến nay. Đề nghị Chính phủ tổng kết, đánh giá mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước giai đoạn 2005-2015.
Có ý kiến cho rằng tái cơ cấu các tổ chức tín dụng còn nhiều vướng mắc, hoạt động quản lý rủi ro, quản trị điều hành, tại một số tổ chức tín dụng còn yếu kém. Tình hình thoái vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng vào những ngành, lĩnh vực phi tài chính hoặc những lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro và thoái vốn của tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng vẫn còn chậm. Tín dụng cho bất động sản đã tăng chậm lại nhưng vẫn cần tăng cường kiểm soát rủi ro, bảo đảm sự phát triển bền vững của thị trường. Nợ xấu mới được khoanh vùng chưa được xử lý dứt điểm. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu đến tháng 9/2016 khoảng 2,62% tổng dư nợ. Nếu tính các khoản nợ xấu chuyển sang công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) khoảng 4,8% và các khoản nợ đã cơ cấu lại thì tỷ lệ nợ xấu sẽ lớn hơn nhiều18. Đề nghị báo cáo việc Ngân hàng Nhà nước mua 0 đồng đối với các ngân hàng cổ phần thương mại yếu kém và tình hình giải quyết, xử lý khoản nợ xấu của các ngân hàng đó và các giải pháp xử lý các khoản nợ xấu mà VAMC đã mua lại, việc cơ cấu lại khoản nợ ngân hàng của một số doanh nghiệp lớn trong nước.
Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ tăng cường quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm các vi phạm; xây dựng, triển khai hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm các chương trình mục tiêu về phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhưng thực tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tình trạng khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm nương rẫy cùng với cháy rừng xảy ra ở nhiều nơi đã ảnh hưởng trực tiếp đến độ che phủ rừng19. Một số địa phương còn quá chú trọng tăng trưởng kinh tế, kết quả trước mắt, khai thác, sử dụng tài nguyên quá mức, chưa chú trọng đến tăng trưởng kinh tế gắn với với phát triển bền vững. Tình trạng khai thác khoáng sản, cát, đá sỏi... trái phép chưa được kiểm soát, phá hủy cảnh quan môi trường, gây sạt lở, tạo bức xúc trong xã hội. Việc nhập lậu hàng hóa qua biên giới, nhất là lương thực, thực phẩm, thuốc tây, thuốc lá... chưa được ngăn chặn; việc sản xuất phân bón giả đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và xâm phạm môi trường. Ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng, kênh rạch, sông nội thị ở các thành phố lớn đang “chết” dần vì rác thải; tập kết, xử lý rác thải tại một số địa phương chưa tốt, kém hiệu quả gây bức xúc trong dư luận xã hội20. Nguy cơ gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường của các cơ sở công nghiệp là nghiêm trọng, gây hậu quả lớn, kéo dài. Việc xử lý bước đầu sự cố ô nhiễm môi trường biển tại miền Trung hết sức quan trọng, góp phần ổn định tư tưởng, tâm lý và đời sống người dân khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp. Thời gian qua, Chính phủ đã có một số giải pháp, biện pháp để xử lý, tháo gỡ khó khăn cho người dân21, tuy nhiên, việc triển khai còn chậm, các địa phương vẫn chưa chủ động đánh giá và có biện pháp tạm thời khắc phục hậu quả của sự cố đến hoạt động kinh tế - xã hội, môi trường, sức khỏe người dân trước khi có giải pháp đồng bộ của Chính phủ; việc xử lý các sai phạm của tổ chức, người có thẩm quyền liên quan và doanh nghiệp còn chậm, gây bức xúc trong nhân dân.
Về việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực nền hành chính công và cải cách hành chính, một số ý kiến cho rằng, kết quả đạt được là chưa rõ ràng do chuyển động chưa thực sự lan toả ở bộ máy thực thi công vụ22. Sự chủ động và công tác phối hợp của các bộ, ngành chưa cao, dù đã có phân công nhiệm vụ cho từng cơ quan nhưng vẫn phải thành lập Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo và vẫn có những vấn đề chậm được giải quyết; việc cải cách mối quan hệ giữa cơ quan công quyền với doanh nghiệp và người dân khi thực hiện các thủ tục hành chính chưa thực sự tốt. Đề nghị xem lại nhận định “đã hoàn thành cơ bản cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” vì thực tế tại một số địa phương chưa đạt việc này.
Hoạt động tư pháp đạt nhiều kết quả tích cực, một số vụ án còn tồn đọng đã được giải quyết dứt điểm, các vụ trọng án khám phá nhanh được nhân dân đồng tình ủng hộ; một số vụ án về tham nhũng, tài chính - ngân hàng, buôn lậu, ma túy, trong đó có vụ việc có giá trị lớn về tài sản được cơ quan chức năng khẩn trương điều tra, khám phá. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị Chính phủ cần đánh giá rõ hơn về tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những tác động đến thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tình trạng tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và chưa bị đẩy lùi; việc phát hiện và xử lý tội phạm tham nhũng có xu hướng ngày càng giảm. Để xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong các lĩnh vực như vệ sinh an toàn thực phẩm, buôn bán ma túy, tham nhũng, lãng phí, cháy nổ... là do công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều yếu kém, sơ hở, tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Đã xảy ra nhiều vụ án giết người nghiêm trọng, giết nhiều người (cả người già và trẻ em), phần lớn kẻ phạm tội nghiện ma túy, thiếu giáo dục, thiếu việc làm... cùng với tệ nạn ma túy, còn nhiều tệ nạn khác diễn ra trong xã hội là những nguyên nhân nảy sinh tội phạm như mại dâm, số đề, tín dụng đen, cho vay nặng lãi, chơi hụi, bán hàng đa cấp, kinh doanh tiền ảo... đã làm nhiều gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn, làm xói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục. Việc quy trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm người đứng đầu chưa nghiêm, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực, tại một số địa phương còn hạn chế; thực thi pháp luật của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở còn có biểu hiện lạm quyền khi thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, gây bất bình trong dư luận xã hội.
An toàn vệ sinh thực phẩm được quan tâm, sâu sát hơn nhưng ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng chưa cao, việc tuân thủ các quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh chưa nghiêm. Việc kiểm tra chất lượng hàng hóa còn hạn chế, hoạt động kiểm nghiệm, đánh giá, chứng nhận chất lượng sản phẩm hàng hóa cho tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước chưa phổ biến; một số thông tin quảng cáo thể hiện không rõ ràng nội dung khuyến cáo đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực y tế như thuốc, thực phẩm chức năng; không phù hợp với thuần phong, mỹ tục, quảng cáo quá mức có thể gây ra nguy cơ đối với sức khoẻ và tính mạng con người, gây thiệt hại về kinh tế cho người tiêu dùng.
Y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh được quan tâm hơn; mạng lưới vệ tinh được mở rộng, xu hướng chuyển tuyến giảm rõ rệt ở một số bệnh viện. Tuy nhiên, vẫn còn có sự chênh lệch lớn về chất lượng dịch vụ y tế và các chỉ số về sức khỏe của người dân giữa các vùng miền; việc phân bổ nguồn nhân lực y tế chưa hợp lý, thiếu về số lượng, không đồng đều về chất lượng giữa các vùng, các tuyến. Công nghiệp dược phẩm phát triển chậm; tỷ lệ sử dụng kháng sinh còn cao, nguy cơ kháng thuốc chống vi trùng đang gia tăng. Việc mở thông tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đã tạo điều kiện cho người có thẻ BHYT tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, tuy nhiên tình trạng trục lợi quỹ bảo hiểm y tế xảy ra ở nhiều cơ sở khám chữa bệnh, ở các địa phương, đặc biệt là các cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập. Đề nghị Chính phủ khẩn trương kiểm tra, thanh tra, chấn chỉnh tránh nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm y tế.
Công tác quản lý, tổ chức lễ hội được tăng cường, đi vào chiều sâu, kết hợp quảng bá, phát triển du lịch. Thể thao thành tích cao có nhiều dấu ấn, vượt mục tiêu đề ra. Đổi mới giáo dục, đào tạo theo Nghị quyết của Quốc hội đã được thực hiện tích cực, việc tiếp tục đổi mới kỳ thi trung học phổ thông quốc gia được phối hợp tổ chức chặt chẽ, tiết kiệm chi phí cho xã hội. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng đổi mới giáo dục và đào tạo còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn hiện nay, cụ thể là chưa thực sự có chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực ngành kỹ thuật, đào tạo đội ngũ kỹ sư kỹ thuật, công nghệ; chưa tăng mạnh các môn học chuyên ngành, đào tạo chuyên môn chưa gắn với tăng thực hành, vừa học vừa nghiên cứu, vẫn thiếu vắng sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ công nghệ với cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần đề cao công tác phổ biến, tuyên truyền, tránh việc thông tin chưa chuẩn xác về những thay đổi trong giáo dục như chương trình thí điểm dạy ngoại ngữ vừa qua. Một số địa phương dừng thực hiện mô hình trường học mới VNEN, mô hình tự quản lớp học, thay đổi cách thi tại các kỳ thi quốc gia gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý xã hội23.
Ùn tắc giao thông, ngập úng tại một số thành phố lớn chưa có nhiều chuyển biến. Đề nghị đánh giá sự phù hợp của việc tiếp tục cấp phép cho xây dựng hàng loạt nhà cao tầng trong khu vực các quận trung tâm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong kết nối tổng thể với các hạ tầng xã hội khác như bệnh viện, trường học, cung cấp nước sinh hoạt, xử lý rác thải sinh hoạt, ùn tắc giao thông, phòng chống ngập lụt, kết nối cảnh quan, kiến trúc với khu vực đô thị xung quanh...
Về xây dựng nông thôn mới, một số ý kiến cho rằng bước đầu đạt một số kết quả, một số mô hình, điển hình về hợp tác sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật có hiệu quả. Tuy nhiên, cần chú ý đến tính đồng đều giữa các tỉnh (có những địa phương có số xã đạt chuẩn nhiều, nhưng không ít địa phương rất khó khăn, chỉ có vài xã đạt) và tính bền vững của những xã đạt chuẩn để tiếp tục duy trì và nâng cao hơn thu nhập, chất lượng sống người dân. Đề nghị báo cáo rõ hướng xử lý nợ đọng xây dựng nông thôn mới; khó khăn, vướng mắc của việc thực hiện tích tụ ruộng đất hình thành cánh đồng lớn sản xuất tập trung; việc thu hút doanh nghiệp, phát triển hợp tác xã kiểu mới, hình thành các liên kết kinh tế bền vững trong sản xuất nông nghiệp.
Quốc phòng, an ninh cơ bản ổn định, các lực lượng chức năng chủ động nắm bắt, xử lý kịp thời các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tuy nhiên xảy ra một số vụ mất an toàn trong bay huấn luyện và bay tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. An ninh trật tự vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố diễn biến phức tạp; hoạt động đòi ly khai, tự trị tuy đã giảm nhưng vẫn xuất hiện tình trạng cá nhân, tổ chức, hệ phái tôn giáo bên ngoài tăng cường hoạt động hỗ trợ, bồi dưỡng, tăng cường tuyên truyền kích động, lôi kéo bằng nhiều hình thức. Buôn bán, vận chuyển ma túy diễn biến phức tạp, hành vi manh động, sẵn sàng chống trả quyết liệt khi bị phát hiện. Tình hình cháy nổ diễn biến phức tạp, nhất là đối với các nhà cao tầng, chợ và trung tâm thương mại. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, cản trở sự phát triển, gây bức xúc trong dư luận, đề nghị Báo cáo cần đề cập đậm nét hơn về kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và cần sớm điều tra, xét xử thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước. Quy trình bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ bộc lộ những lỗ hổng, cần được rà soát, khắc phục kịp thời.
Quan hệ quốc tế tiếp tục được mở rộng, có quan hệ ngoại giao với 170 quốc gia. Ngành ngoại giao đã góp phần vào việc giải quyết những vấn đề còn tồn tại liên quan đến biên giới lãnh thổ trên biển và trên đất liền, từng bước xây dựng đường biên giới giữa nước ta với các nước láng giềng thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, cần tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao phục vụ kinh tế để công tác này thực sự trở thành nhiệm vụ trọng tâm và mang lại hiệu quả lớn hơn, nhằm góp phần vào mở rộng thị trường, gia tăng hợp tác viện trợ, đầu tư, nhất là đón đầu làn sóng đầu tư mới; hỗ trợ đắc lực cho các địa phương, các doanh nghiệp trong hợp tác với các đối tác nước ngoài.
PHẦN II
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017
1. Dự báo tình hình, mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu
Về bối cảnh thế giới, cần dự báo đầy đủ hơn tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ảnh hưởng của sự suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, quá trình bầu cử ở Mỹ và sự kiện Brexit đối với kinh tế Việt Nam. Về bối cảnh trong nước, đánh giá rõ hơn các yếu tố: (i) Việc chuẩn bị các điều kiện và năng lực hội nhập cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở trình độ cao đối với Việt Nam; (ii) Các thách thức đối với quá trình phát triển do việc chậm đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế; (iii) Tác động trung và dài hạn của tình hình thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, (iv) Khả năng giảm lợi thế cạnh tranh về lao động do những thuận lợi của thời kỳ "cơ cấu dân số vàng” của Việt Nam sẽ không còn duy trì lâu dài và chính sách điều chỉnh tăng lương tối thiểu. Bên cạnh đó, theo dõi và có biện pháp ứng phó kịp thời với tác động xấu của thiên tai, lũ lụt, bảo đảm cuộc sống người dân và ổn định sản xuất sau lũ lụt.
Về mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu, nhiều ý kiến đề nghị kế hoạch năm 2017 cần căn cứ vào Kế hoạch 5 năm 2016-2020 để tính toán, phân chia về chỉ tiêu. Một số ý kiến đề nghị không cần đề ra mục tiêu tổng quát cho từng năm vì hiện đã có mục tiêu tổng quát cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, bổ sung thêm một số chỉ tiêu về chất lượng như tăng trưởng xanh (phản ánh tăng trưởng gắn kết với bảo vệ, phục hồi môi trường), tiêu dùng cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ (phản ánh mức sống người dân), tăng năng suất lao động xã hội.
Đa số ý kiến thành viên Ủy ban Kinh tế nhất trí không đưa ra mục tiêu tổng quát cho từng năm nhưng phải có mục tiêu cụ thể để thực hiện tốt mục tiêu tổng thể của 5 năm. Về các chỉ tiêu chủ yếu, Ủy ban Kinh tế cho rằng, có chỉ tiêu khó có thể tính toán sự thay đổi hàng năm, do đó cần cân nhắc tính toán thận trọng, khoa học, bảo đảm tính thống nhất, ổn định của các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm với hệ thống chỉ tiêu đã xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Tuy nhiên đề nghị Chính phủ xem xét, công bố một số chỉ tiêu khác để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành.
Trong số 13 chỉ tiêu chủ yếu do Chính phủ trình, đề nghị như sau:
(1) Cần báo cáo rõ cơ sở xây dựng, tính khả thi của các chỉ tiêu tăng trưởng GDP (6,7%), tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội (31% GDP), tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu (6-7%), tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu (khoảng 3,5%) để bảo đảm phản ánh đúng tình hình Việt Nam.
Năm 2016, GDP ước thực hiện đạt 6,3-6,5% trong khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước 32,5% GDP trong khi kế hoạch năm 2017 GDP tăng 6,7% và tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến là 31% GDP. Trong bối cảnh việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn chậm so với yêu cầu và vai trò của yếu tố vốn đối với tăng trưởng vẫn ở mức đáng kể, việc giảm tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP (1,5%) trong khi các nguồn lực tăng trưởng khác (chất lượng lao động, khoa học công nghệ) chưa thể thay đổi đột biến sẽ khó đạt được mức tăng trưởng GDP năm 2017 cao hơn năm 2016 với mức chênh lệch từ 0,2-0,4% như dự kiến.
Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa kế hoạch năm 2017 (6,07-6,69%) thấp hơn so với số liệu ước thực hiện năm 2016 (6,7%), GDP kế hoạch năm 2017 (6,7%) dự kiến cao hơn ước thực hiện năm 2016 (6,3 - 6,5%) là chưa thực sự thuyết phục trong khi xu hướng tăng các yếu tố tiêu dùng, đầu tư của tư nhân chưa rõ ràng, chi tiêu của Chính phủ bị hạn chế do vấn đề bội chi NSNN, nợ công tác động. Theo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020, xuất khẩu tăng 10%/năm, năm 2016 đã không đạt kế hoạch, năm 2017 cần tranh thủ thuận lợi từ các FTA để tăng trưởng xuất khẩu.
Tỷ lệ nhập siêu so với giá trị xuất khẩu hàng hóa trong kế hoạch năm 2017 là 3,5% (cao hơn chỉ tiêu 3,3% trong kế hoạch năm 2016) trong khi tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa kế hoạch năm 2017 chỉ là 6,07-6,69% (thấp hơn chỉ tiêu 10% trong kế hoạch năm 2016) chưa phù hợp với thực trạng của kinh tế Việt Nam thời gian qua là hoạt động xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu các yếu tố đầu vào.
(2) Chính phủ đề nghị sử dụng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân so với cùng kỳ năm trước làm thước đo lạm phát của nền kinh tế và đã sử dụng cách tiếp cận này trong Tờ trình về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2017 theo đó "tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%”. Nhiều ý kiến cho rằng việc tiếp cận chỉ tiêu CPI theo thông lệ quốc tế là phù hợp, đúng quy định của Luật thống kê năm 2015, tuy nhiên cần báo cáo đầy đủ về mục tiêu đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 và năm 2016 theo cách tiếp cận cũ và cách tiếp cận mới để đối chiếu, đánh giá giữa mục tiêu và kết quả thực hiện, trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Có ý kiến đề nghị không nên đề cập chỉ tiêu tốc độ tăng CPI trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm vì Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đã quy định mục tiêu trung hạn, việc điều hành hàng năm của Chính phủ sẽ căn cứ vào mục tiêu này. Đa số ý kiến thành viên Ủy ban Kinh tế cho rằng việc thay đổi như đề xuất là cách tiếp cận mới, cần được tiếp tục nghiên cứu, việc đặt ra chỉ tiêu CPI trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 cũng như các năm trước là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 "Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”.
(3) Đề nghị làm rõ cơ sở của chỉ tiêu Tỷ suất tiêu hao năng lượng trên 1 đơn vị GDP giảm 1,5% (năm 2016 cũng giảm 1,5%), đây là mức cận trên trong khoảng chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 (bình quân 1-1,5%/năm).
(4) Đề nghị rà soát, bảo đảm tính xác thực của chỉ tiêu Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường (ước thực hiện năm 2016 là 86%, kế hoạch năm 2017 là 87%) phản ánh đúng thực trạng về các vi phạm xả thải ra môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong thời gian qua.
Về cân đối lớn của nền kinh tế:
+ Đối với cân đối lao động và việc làm: đề nghị làm rõ tính hợp lý của việc giảm 1% tỉ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 0,5% tỉ lệu lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng trong khi sự thay đổi của các số liệu ước tính năm 2016 so với năm 2015 là khá cao (lần lượt giảm 2% và tăng 1,7%), mặt khác lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản được dự báo sẽ tiếp tục còn nhiều khó khăn do tác động của xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường gây ra, việc chuyển đổi công việc cho lao động trong lĩnh vực này cần được quan tâm. Ngoài ra, đề nghị nêu rõ nguyên nhân đặt chỉ tiêu số người đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng năm 2017 giảm 12,3% so với ước thực hiện năm 2016 trong khi thời gian vừa qua Chính phủ đã ký một số hiệp định với các nước về xuất khẩu lao động.
+ Đối với cân đối thu, chi ngân sách nhà nước: chi thường xuyên chiếm 64,3% tổng chi NSNN năm 2017 và sẽ áp dụng định mức phân bổ mới giai đoạn 2017-2020 theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua tại phiên họp tháng 9/2016, do đó cần rà soát để bảo đảm khoản chi thường xuyên theo đúng định mức, tiết kiệm chi thường xuyên một cách triệt để.
+ Đối với cân đối vốn đầu tư phát triển: đề nghị rà soát vốn đầu tư phát triển để bảo đảm nguồn lực cần thiết cho mục tiêu tăng trưởng cao năm 2017, nhất là vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp kế hoạch năm 2017 chỉ tăng 14,2% so với thực hiện năm 2016 (trong khi ước thực hiện năm 2016 tăng 18,5% so với thực hiện năm 2015) và trong bối cảnh nhiều giải pháp để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp đang được triển khai cuối năm 2016 được kỳ vọng phát huy tác dụng trong năm 2017.
2. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội năm 2017
Báo cáo của Chính phủ nêu nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau (kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, đào tạo, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…). Tuy nhiên, đề nghị bám sát Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Đề án đổi mới mô hình tăng trưởng, Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020; có Chương trình triển khai hành động thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của 5 năm và xác định rõ trong năm 2017 sẽ làm được những gì. Đề nghị tập trung một số giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
(1) Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, khắc phục độ trễ quá dài giữa thời gian ban hành chính sách và thực tế triển khai; loại bỏ rào cản, điều kiện đầu tư kinh doanh bất hợp lý, rà soát cắt giảm thực sự các chi phí không hợp lý do quy định và thực thi pháp luật gây ra cho doanh nghiệp và người dân. Xử lý nghiêm các trường hợp chây ì trong việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh mà Quốc hội, Chính phủ đã đề ra. Đẩy mạnh sắp xếp lại khu vực sự nghiệp công để cung ứng dịch vụ công chất lượng, phục vụ chuyên nghiệp hơn; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế tinh gọn, hiệu quả; đánh giá thực chất kết quả Đề án xác định vị trí việc làm.
(2) Thực hiện nghiêm quy định về dự toán thu, chi, quản lý ngân sách nhà nước theo Hiến pháp, Luật ngân sách nhà nước năm 2015; quản lý chặt chẽ, chống thất thoát, lãng phí các dự án đầu tư công theo Luật đầu tư công và Kế hoạch đầu tư công trung hạn, Kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020. Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư cho các dự án, công trình; quản lý chặt chẽ việc chuyển nguồn. Quản lý chặt chẽ nợ công, đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công, giám sát chặt việc bảo lãnh của Chính phủ, cơ chế cho vay lại, bảo đảm sử dụng hiệu quả vốn vay; bảo đảm nguồn vốn, kiểm soát nợ xây dựng cơ bản của hai Chương trình mục tiêu quốc gia. Nghiên cứu bổ sung chương trình phát triển nhà ở xã hội vào danh mục các chương trình mục tiêu ưu tiên sử dụng vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết số 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28/8/2015, bao quát phạm vi hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng khác nhau, nhất là người có công với cách mạng24. Ngăn chặn trốn lậu thuế, xử lý nợ đọng tiền thuế; đưa ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh toán, dịch vụ, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt; tăng cường thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, quản lý chặt chẽ tài sản công. Cắt giảm các khoản chi thường xuyên kém hiệu quả, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong tiết kiệm chi thường xuyên ở mức tiết kiệm cao hơn so với năm 2016; thực hiện Luật ngân sách nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tự bảo đảm về kinh phí và rà soát, nâng cao hiệu quả sử dụng khoản hỗ trợ ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho các tổ chức hội25.
(3) Tiếp tục triển khai tái cơ cấu các ngân hàng thương mại và các giải pháp xử lý nợ xấu đã được bán cho VAMC, tăng cường công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước và các biện pháp để hạn chế phát sinh các khoản nợ xấu mới; tập trung tháo gỡ khó khăn về giao dịch tài sản bảo đảm, hình thành thị trường mua bán nợ. Chính sách tiền tệ cần tập trung điều hành theo hướng ổn định lạm phát cơ bản; điều hành tỷ giá ở mức hợp lý. Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, định hướng chính sách tín dụng tập trung cho lĩnh vực sản xuất, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất phù hợp để phát triển doanh nghiệp.
(4) Chú trọng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ gắn với khai thác tiềm năng du lịch, khai thác tiềm năng kinh tế biển. Mọi phương án khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế ở vùng ven biển đều phải được cân nhắc trên cơ sở luận cứ khoa học. Kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện chính sách hỗ trợ tại các vùng bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường biển; có chính sách dài hạn phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng bị ảnh hưởng. Đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng tài nguyên nước phù hợp tình hình mới; tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng trong quản lý, sử dụng tài nguyên. Xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tăng cường giám sát xả thải, bảo đảm đúng quy định về công nghệ và bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển công nghiệp; chỉ đạo kiểm tra, rà soát các dự án kinh tế có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nhất là các nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất thép; xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm môi trường. Chính phủ cần ban hành Nghị quyết để xử lý triệt để các vấn đề liên quan đến Fomorsa, ổn định đời sống, bảo đảm kinh tế- xã hội của 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng.
(5) Triển khai quyết liệt, giao trách nhiệm cho các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân và người đứng đầu doanh nghiệp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn theo hướng để doanh nghiệp tìm được nhà đầu tư tiềm năng tốt giúp doanh nghiệp tiếp tục phát triển; đấu giá công khai tài sản nhà nước, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý vốn nhà nước, cổ tức tại các doanh nghiệp, sớm đề xuất mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý thích hợp, đảm bảo công tác cổ phần hóa hiệu quả.
(6) Đề xuất các định hướng, giải pháp cụ thể phát triển công nghiệp của Việt Nam, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp theo hướng giảm mạnh tỷ trọng gia công, lắp ráp. Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý và kỹ thuật để triển khai các chương trình khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020. Tăng cường hiệu quả hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng lực của trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp cần xem là cuộc cách mạng toàn diện, sâu rộng, sớm tái cơ cấu ngay trong từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, tập trung triển khai tại các địa phương đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn. Tổng kết cơ chế, chính sách giải quyết vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất từ mô hình cổ phần ở Đồng bằng Sông Cửu Long, mô hình người dân đóng góp quyền sử dụng đất và đóng góp sức lao động vào quá trình sản xuất theo quy trình canh tác của doanh nghiệp, cách thức tập trung ruộng đất ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng… Có mục tiêu cụ thể, lộ trình thực hiện để hình thành các vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp, tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao; nghiên cứu, đề xuất chính sách của Nhà nước để hỗ trợ, khuyến khích đối với các doanh nghiệp tham gia hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao.
(7) Cải cách toàn diện các quy định về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như bãi bỏ các quy định không cần thiết, giảm đối tượng quản lý chuyên ngành, giảm hồ sơ thủ tục, chi phí trong thực hiện các thủ tục hành chính liên quan, chuyển mạnh sang hậu kiểm và thực hiện quản lý trên cơ sở đánh giá và kiểm soát rủi ro. Tiến hành mạnh mẽ hơn các giải pháp phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, kém chất lượng. Kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu, chú trọng các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng.
(8) Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, bố trí đủ nguồn lực để triển khai các chính sách dân tộc đã được phê duyệt như: chính sách đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030; quyết định phê duyệt một số chỉ tiêu thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ đối với đồng bào dân tộc thiểu số gắn với mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2015, Chương trình 135… Rà soát, đề xuất chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2020; có chính sách giảm nghèo đặc thù nhằm giải quyết những nhu cầu bức thiết nhất của đồng bào dân tộc thiểu số như nhu cầu đất sản xuất, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt, định canh định cư… Một số chính sách hiệu quả thấp (chính sách thu hút cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đến công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, cấp không thu tiền các loại báo, tạp chí… cần được rà soát, dừng thực hiện để tập trung nguồn lực cho các nội dung hiệu quả hơn.
(9) Chú trọng giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình và xã hội. Thay đổi hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo cả ở phổ thông và đại học, giảm tải nội dung kiến thức phổ thông, tăng mạnh các nội dung thực hành, rèn luyện thể chất, vui chơi giải trí lành mạnh, tích cực thúc đẩy gắn kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ công nghệ với cộng đồng doanh nghiệp. Phân luồng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu việc làm trong xã hội; có chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực ngành kỹ thuật, đào tạo đội ngũ kỹ sư kỹ thuật, công nghệ. Chấn chỉnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn dân tộc thiểu số hiệu quả hiện còn rất hạn chế. Có giải pháp đào tạo ngoại ngữ, nâng cao tay nghề và tác phong làm việc cho người lao động trước sự dịch chuyển lao động nội khối ASEAN. Tạo sự chuyển biến trên thực tế vấn đề bảo đảm an toàn lao động.
(10) Tăng cường thanh tra an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo đảm tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất và lưu hành sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn chất lượng đã công bố hoặc đã được chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy. Nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở, các hoạt động y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt chú trọng đến công tác phòng bệnh, phòng chống dịch, dân số, sức khỏe sinh sản, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương. Mở rộng độ bao phủ, nâng cao tỷ lệ bảo hiểm y tế toàn dân theo Nghị quyết của Quốc hội, tin học hóa trong quản lý, giám định, thanh toán bảo hiểm y tế… nhằm bảo đảm nguồn lực bền vững cho công tác y tế.
(11) Tiếp tục triển khai các giải pháp bảo đảm quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kinh tế trên các địa bàn chiến lược, trọng tâm là Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; đặc biệt coi trọng an toàn thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước. Tăng cường các đợt cao điểm đấu tranh trấn áp tội phạm tạo chuyển biến tích cực, kiềm chế sự gia tăng tội phạm và vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực. Khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát hoạt động tư pháp theo các Nghị quyết của Quốc hội. Tổng kiểm tra các quyết định xử lý hành chính trên phạm vi cả nước, đánh giá cụ thể thực trạng “hành chính hóa” các vụ việc có tính chất hình sự và có giải pháp khắc phục, báo cáo Quốc hội vào năm 2017. Xử lý hiệu quả các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện Hiệp định TPP, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu, cũng như quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, lợi ích quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế. Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và cơ quan nhà nước, các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại.
Trên đây là Báo cáo thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, Ủy ban Kinh tế xin thay mặt Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, cho ý kiến./.
Nơi nhận: - Các vị ĐBQH; - Thường trực HĐDT, các UB của QH; - Lưu: HC, KT; - E-pas: 74792 |
TM. ỦY BAN KINH TẾ CHỦ NHIỆM (Đã ký) Vũ Hồng Thanh |