Trong tháng 6/2017, tạp chí “Tài chính & Phát triển” của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã đăng tải kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế về triển vọng phát triển thiên niên kỷ. Tại công trình nghiên cứu này, các chuyên gia nhận định, dòng vốn vào các nước đang phát triển và mới nổi bắt đầu xu hướng giảm tốc từ năm 2010.
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi giảm mạnh, nhất là trong năm 2010 với mức suy giảm tới 10%. Sau đó, hoạt động đầu tư có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn giảm 3,5% trong năm 2016. Trong ba năm qua, hoạt động đầu tư của khu vực nhà nước và tư nhân vẫn chưa bằng 50% tốc độ tăng trưởng trung bình trong thời kỳ trước khủng hoảng. Ngoài ra, những yếu kém trong hoạt động đầu tư ngày càng mở rộng. Trong năm 2016, hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi thấp hơn tốc độ tăng trưởng dài hạn tới trên 60%, phần lớn các nước ghi nhận xu hướng trì trệ này từ ¼ thế kỷ qua, rõ nét nhất là xung quanh năm 2009, khi kinh tế toàn cầu bị suy thoái trầm trọng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm các nước đang mới nổi hàng đầu BRICS (bao gồm: Brazil, CHLB Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, CH Nam Phi) và các nước xuất khẩu hàng hóa chứng kiến tốc độ suy giảm sâu nhất. Cụ thể là, hoạt đầu đầu tư tại các nước BRICS giảm khoảng 13% trong năm 2010 và giảm 4% trong năm 2016, các nước xuất khẩu không thuộc BRICS giảm tới 7% trong năm 2010 và giảm 0,1% trong năm 2016. Trong số này, Trung Quốc chiếm tới 1/3 mức suy giảm này, tương đương với mức suy giảm của Brazil và CHLB Nga cộng lại. Hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi giảm mạnh tương phản với xu hướng phục hồi nhẹ tại các nước phát triển với tốc độ tăng trung bình hàng năm 2,1% trong giai đoạn 2010-2015, không chênh lệch nhiều so với thời kỳ trước khủng hoảng.
Xu hướng suy giảm trên đây bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Đó là, những yếu tố bù đắp điều kiện tài chính ban đầu (bao gồm: chi phí vay vốn giảm kỷ lục, thanh khoản thị trường tăng mạnh, tín dụng dành cho khu vực kinh tế tư nhân tại một số nước tăng cao). Tuy nhiên, từ cuối năm 2016, nhiều trở ngại đã xói mòn lợi ích của chi phí tài chính thấp, như hoạt động kinh tế trầm lắng, triển vọng tăng trưởng yếu ớt, thương mại giảm sâu do giá cả hàng hóa lao dốc, dòng vốn chao đảo và giảm dần, nợ tư nhân tăng cao, khó khăn kinh tế dẫn đến xu hướng bất động chính sách tại một số nước.
Trái với tình hình tại các nước phát triển, xu hướng suy giảm đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi chỉ tác động một phần đến tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trung hạn. Đối với các nước xuất khẩu dầu, các cú sốc về thương mại có ảnh hưởng rất lớn. Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư giảm dần tại các nước nhập khẩu hàng hóa, cũng như gánh nặng nợ tư nhân và rủi ro chính trị tại nhiều nước đang phát triển và mới nổi đóng vai trò lớn hơn. Tại các nước xuất khẩu dầu, giá dầu bắt đầu giảm từ năm 2014, khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp giảm mạnh, chiếm trên 50% mức suy giảm đầu tư. Trái lại, giá hàng hóa giảm thấp đã góp phần giảm nhẹ gánh nặng nợ nần tại một số nước nhập khẩu hàng hóa, qua đó khuyến khích các dòng vốn đầu tư. Tuy nhiên, tại một số nước xuất khẩu hàng hóa phi năng lượng, nợ tư nhân ở mức cao đã cản trở hoạt động đầu tư. Theo ước tính, rủi ro chính trị gia tăng có thể khiến hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi giảm khoảng 10%.
Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, bao gồm bất ổn trên thị trường tài chính và bất định chính sách kinh tế vĩ mô. Cụ thể là, bất định chính sách trong nước sẽ cản trở đầu tư trong nước, trong khi cản trở lớn hơn bắt nguồn từ những bất ổn trên thị trường tài chính toàn cầu và bất định chính sách (như tại các nước đang phát triển và mới nổi thuộc Liên minh châu Âu).
Trong quá trình nghiên cứu, các chuyên gia đã đánh giá một số tác động tiêu cực từ các nền kinh tế chủ chốt. Trong 7 năm qua, tăng trưởng kinh tế thấp tại Mỹ và khu vực euro đã nhiều lần gây thất vọng cho thị trường và các nhà đầu tư. Những nền kinh tế này có quy mô rất lớn và hội nhập sâu vào thị trường tài chính toàn cầu, nên khi GDP tăng chậm, triển vọng kinh tế tại các nước đang phát triển và mới nổi bị ảnh hưởng rất lớn. Nếu GDP tại Mỹ và khu vực euro giảm khoảng 1%, GDP trong năm tiếp theo tại các nước đang phát triển và mới nổi sẽ giảm khoảng 0,8%, giảm khoảng 1,3% tại khu vực euro. Trong đó, hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi giảm tới 2,1%.
Các chuyên gia cũng tính toán tác động lan truyền từ Trung Quốc, khi quốc gia này đang nỗ lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng và GDP tăng chậm dần sẽ gây tổn thương rất lớn cho các nước đang phát triển và mới nổi, nhất là những nước có mối quan hệ thương mại và đầu tư lớn. Theo đó, nếu GDP tại Trung Quốc giảm 1%, GDP trong năm đó tại các nước nhập khẩu thuộc nhóm các nước đang phát triển và mới nổi sẽ giảm 0,5%, và tại những nước xuất khẩu hàng hóa sẽ giảm 1%.
Về tác động đến triển vọng tăng trưởng, xu hướng suy giảm đầu tư sau thời kỳ khủng hoảng có thể gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Do tích lũy tư bản giảm, hoạt động đầu tư trầm lắng kéo dài có thể sẽ cản trở tốc độ tăng trưởng tiềm năng tại các nước đang phát triển và mới nổi. Cùng với xu hướng suy giảm tích lũy tư bản, tăng trưởng đầu tư yếu ớt liên quan đến yếu tố năng suất tổng thể. Trong đó, một phần tăng trưởng kinh tế không thể tiếp tục dựa vào việc tăng vốn và lao động, mà sẽ dựa trên những thay đổi về công nghệ và hiệu quả. Vì thế, nguồn vốn đầu tư trở nên cần thiết cho việc tiếp nhận những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Trong nhóm các nước đang phát triển và mới nổi, năng suất tăng chậm chủ yếu diễn ra tại các nước xuất khẩu hàng hóa, và tại những nước có tốc độ tăng trưởng đầu tư thấp nhất. Tốc độ tăng năng suất chậm cũng phản ánh tình trạng năng suất lao động tăng chậm - yếu tố cơ bản dẫn dắt tốc độ tăng lương thực tế và thu nhập của các hộ gia đình.
Nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nước đang phát triển và mới nổi không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư gia tăng, nhiều nước không được trang bị đầy đủ nguồn vốn để theo kịp xu hướng đô thị hóa và nhu cầu thay đổi về lao động. Đầu tư cũng cần thiết cho nỗ lực giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên (tại các nước xuất khẩu hàng hóa) và của một số khu vực kinh tế không tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại (tại một số nước nhập khẩu hàng hóa), chuyển sang mô hình tăng trưởng bền vững hơn.
Các chuyên gia khuyến nghị, các nhà tạo lập chính sách có thể thúc đẩy đầu tư một cách trực tiếp thông qua hoạt động đầu tư công, hoặc gián tiếp thông qua việc khuyến khích đầu tư tư nhân, kể cả đầu tư trực tiếp nước ngoài, và tiến hành các biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh. Trong đó, việc tăng cường đầu tư công vào các công trình hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực sẽ góp phần thúc đẩy nhu cầu trong giai đoạn ngắn hạn và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, đồng thời cần cải thiện môi trường đầu tư và thương mại tư nhân. Đầu tư công cũng sẽ góp phần thu hẹp chênh lệch về thu nhập và là yếu tố quan trọng khuyến khích đầu tư tư nhân.
Về biện pháp gián tiếp, chính sách kinh tế vĩ mô có thể sẽ khuyến khích các hoạt động đầu tư hiệu quả. Trong đó, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hiệu quả sẽ góp phần chặn đà suy giảm tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng cao sẽ khuyến khích đầu tư tư nhân. Mặc dù những chính sách này chỉ mang lại hiệu quả hạn chế, nhưng cần thiết trong trường hợp chính phủ thiếu nguồn lực để thúc đẩy chi tiêu hay để giảm thuế, hoặc trong trường hợp tăng trưởng yếu ớt do phải điều chỉnh do nguồn thu từ xuất khẩu hàng hóa bị suy giảm triền miên.
Để đảm bảo tăng trưởng đầu tư bền vững, những chính sách như trên cần được tiến hành thông qua cải cách cơ cấu, qua đó sẽ khuyến khích đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài trực tiếp. Các biện pháp cải cách này bao gồm nới lỏng các rào cản về thương mại và đầu tư, phối hợp cải cách quản trị và khu vực tài chính, góp phần cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn vốn.
Hoàng Thế Thoả
Nguồn: IMF tháng 6/2017