TỔNG HỢP KIẾN NGHỊ CỬ TRI VẤN ĐỀ THÁO GỠ KHÓ KHĂN
CHO DOANH NGHIỆP, TĂNG CƯỜNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN TOÀN
TIỀN GỬI, XỬ LÝ NỢ XẤU, CHẤT LƯỢNG TIỀN POLYMER,
1. Giải pháp tháo gỡ khó khăn các doanh nghiệp
Kiến nghị ngành Ngân hàng cần có cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận được nguồn vốn vay với mức lãi suất ưu đãi để cải tiến công nghệ máy móc, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm để tăng tính cạnh tranh trên thị trường. (Cử tri TP Hồ Chí Minh)
Trả lời:
1. Trong năm 2016, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận nguồn vốn tín dụng, NHNN đã chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành triển khai nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Cụ thể:
(i) Sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để đảm bảo cân đối vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh.
(ii) Điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND, lãi suất cho vay tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên, góp phần giảm mặt bằng lãi suất hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Từ cuối tháng 4/2016 đến nay, các NHTM Nhà nước và một số NHTM cổ phần đã giảm khoảng 1%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn và điều chỉnh giảm về tối đa 10%/năm lãi suất cho vay trung và dài hạn đối với khách hàng tốt, vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh. Mặt bằng lãi suất cho vay của các TCTD hiện chỉ bằng 40% lãi suất cho vay năm 2011, thấp hơn mức lãi suất cho vay giai đoạn 2005-20061.
(iii) Chỉ đạo, hỗ trợ các TCTD hướng dòng vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên2, trong đó có DNNVV.
(iv) Chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành; đổi mới quy trình cho vay vốn theo hướng giảm bớt phiền hà cho khách hàng, rà soát và hoàn thiện hồ sơ theo hướng tiết giảm tối đa thủ tục, giấy tờ cho doanh nghiệp.
(v) Tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh.
2. Bên cạnh các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp nêu trên, NHNN còn xây dựng, triển khai các chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực mà trong đó có đối tượng thụ hưởng là các DNNVV như: Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ; Chính sách cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Chính sách cho vay đối với chăn nuôi và thủy sản theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012; Chương trình cho vay thí điểm đối với các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ; Chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ; Chính sách cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính phủ.
3. Ngoài ra, để tăng khả năng tiếp cận tài chính của DNNVV, trên cơ sở nhiệm vụ được giao, NHNN đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành chủ quản trong việc triển khai chính sách bảo lãnh tín dụng cho DNNVV thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, hỗ trợ vốn thông qua Quỹ phát triển DNNVV, cũng như xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể:
(i) Ban hành Thông tư số 29/2014/TT-NHNN ngày 09/10/2014 hướng dẫn các ngân hàng thương mại phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong việc thực hiện cơ chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn theo quy định tại Quy chế bảo lãnh ban hành kèm theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg.
(ii) Ban hành Thông tư số 05/2015/TT-NHNN hướng dẫn các TCTD phối hợp với Quỹ bảo lãnh tín dụng trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
(iii) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong xử lý khó khăn vướng mắc, hoàn thiện 02 cơ chế bảo lãnh tín dụng cho DNNVV thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương; hoàn thiện các văn bản hướng dẫn nhằm đưa Quỹ Phát triển DNNVV đi vào hoạt động, tạo thêm 01 kênh hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn.
(iv) Thực hiện Nghị quyết số 89/2015/QH13 ngày 09/6/2015 của Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan (trong đó có NHNN) xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV. Dự thảo Luật đã được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2; trên cơ sở ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, Thường trực Ủy ban Kinh tế đã chủ trì, phối hợp với Cơ quan soạn thảo và các cơ quan liên quan nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật báo cáo Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, dự kiến tiếp tục trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 3.
Dự thảo Luật quy định nhiều chính sách hỗ trợ đối với đối tượng DNNVV, trong đó có các chính sách hỗ trợ về tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng, tiếp cận tín dụng từ các Quỹ và các hỗ trợ tài chính khác. Đặc biệt, dự thảo Luật còn quy định về việc hỗ trợ DNNVV theo các chương trình hỗ trợ trọng tâm trong từng thời kỳ, trong đó nhấn mạnh vào hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và tham gia cụm liên kết ngành nhằm thúc đẩy DNNVV đổi mới công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh và sản xuất kinh doanh bền vững.
4. Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên của ngành Ngân hàng đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn nhất là các DNNVV trong việc cải tiến công nghệ máy móc, mở rộng sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh, có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất - kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng với lãi suất hợp lý.
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp, nhất là DNNVV gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý... Ngoài ra, một số doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện vay vốn nhưng chưa có nhu cầu vay vốn do còn gặp khó khăn về thị trường. Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng ngoài những giải pháp từ ngành Ngân hàng, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục triển khai nhiệm vụ và giải pháp về hoạt động ngân hàng để hỗ trợ các doanh nghiệp được vay vốn ngân hàng thuận lợi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng tiếp cận được nguồn vốn vay với mức lãi suất hợp lý; đồng thời, NHNN sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong sửa đổi, hoàn thiện chính sách về bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ vốn thông qua các Quỹ, cũng như khung khổ pháp lý hỗ trợ DNNVV theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm hiện thực hóa các chính sách và tăng khả năng tiếp cận tài chính của đối tượng doanh nghiệp này.
2. Về tăng cường biện pháp bảo đảm an toàn cho người gửi tiền
Thời gian gần đây có nhiều vụ việc làm giả hồ sơ chứng từ để lấy tiền gửi tiết kiệm của người dân tại các ngân hàng. Cử tri đề nghị ngành Ngân hàng cần chấn chỉnh, tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn cho khách hàng không để xảy ra các trường hợp tương tự. (Cử tri TP Hồ Chí Minh)
Trả lời:
Trong thời gian qua đã xảy ra một số vụ việc làm giả hồ sơ chứng từ để lấy tiền gửi tiết kiệm của người dân tại các ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm của khách hàng bị rút khỏi sổ (BIDV chi nhánh Tây Hồ, VIB chi nhánh quận 11, Eximbank Nghệ An, VPBank, SCB...) mặc dù khách hàng không thực hiện các giao dịch rút tiền. Các vụ việc này đã được NHNN chỉ đạo các TCTD phối hợp với các cơ quan pháp luật xác định rõ nguyên nhân và xử lý nghiêm minh đối với tập thể, cá nhân có vi phạm.
Nguyên nhân bước đầu được xác định là do: (i) Khách hàng đã ký giấy trắng (hay còn gọi là ký khống giấy tờ) do tin tưởng nhân viên ngân hàng và sự cả nể của ngân hàng đối với các khách hàng lớn, điều này có thể dẫn đến sai sót, tạo sơ hở cho đối tượng muốn lừa đảo, trục lợi, chiếm đoạt tài sản; (ii) Các ngân chưa tuân thủ nghiêm các quy định về quy trình, thủ tục nhận gửi và rút tiền, thiếu sót và lơ là trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ, nghiệp vụ đối chiếu mẫu dấu, chữ ký của chủ tài khoản còn hạn chế; (iii) Sự vi phạm về đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ, nhân viên ngân hàng, cố tình làm trái quy định để trục lợi cá nhân.
Sau khi xác định rõ các nguyên nhân, NHNN đã chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành triển khai các giải pháp đồng bộ như:
(1) Đối với các TCTD: (i) Tăng cường công tác an ninh mạng, hướng dẫn bảo mật đối với khách hàng tránh làm lộ, lọt thông tin của khách hàng; (ii) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định nội bộ về bảo mật, đảm bảo an toàn cho người gửi tiền, trong đó có quy định về nhận gửi tiền và rút tiền của khách hàng; (iii) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong quá trình nhận tiền gửi và rút tiền của khách hàng; (iv) Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp và tuân thủ kỷ luật, kỷ cương cho cán bộ trong toàn hệ thống ngân hàng; (v) Xử lý nghiêm minh đối với tập thể, cá nhân phát hiện có vi phạm liên quan đến quá trình nhận gửi tiền và rút tiền gửi của khách hàng; (vi) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật để tìm ra nguyên nhân dẫn đến bị mất tiền của khách hàng; (vii) Xác định tổn thất để có biện pháp xử lý, khắc phục nhanh chóng nhằm đảm bảo giữ vững lòng tin của khách hàng đối với hệ thống TCTD.
(2) Khuyến cáo khách hàng (người dân): (i) Nâng cao tinh thần cảnh giác, không truy cập các trang web nghi ngờ giả mạo; (ii) Không cung cấp thông tin cá nhân cho tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền (kể cả nhân viên ngân hàng); (iii) Không ký các giấy tờ trắng theo đề nghị của cán bộ ngân hàng; (iv) Trực tiếp gửi tiền tại các điểm giao dịch của TCTD, không thực hiện ủy quyền gửi tiền hay rút tiền gửi cho nhân viên ngân hàng; (v) Tìm hiểu kỹ các thông tin liên quan đến quy trình bảo quản sổ tiết kiệm một cách cẩn thận; thường xuyên kiểm tra số dư tiền gửi; (vi) Kịp thời thông tin cho TCTD nơi gửi tiền và các cơ quan chức năng trong trường hợp nhận được các thông tin đáng ngờ hoặc phát hiện có dấu hiện bị rút tiền từ tài khoản.
(3) Đối với các đơn vị thuộc NHNN: (i) Phối hợp với các cơ quan thông tin, báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người dân và khuyến cáo về những nội dung nêu trên; (ii) Chú trọng thanh tra về việc mở tài khoản, chuyển khoản, gửi và rút tiền tiết kiệm, quản lý sổ trắng, công tác an toàn kho quỹ và xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật nếu phát hiện các tập thể, cá nhân có sai phạm và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết, phòng ngừa. Trường hợp có dấu hiệu cấu thành tội phạm phải kiên quyết chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.
3. Về hạn chế sử dụng tiền mặt để kiểm soát tội phạm rửa tiền và chống tham nhũng
Đề nghị Nhà nước hạn chế sử dụng tiền mặt phổ biến để kiểm soát chặt chẽ tội phạm rửa tiền và góp phần chống tham nhũng. (Cử tri tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
3.1. Để tăng cường công tác quản lý và sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế, thời gian qua, NHNN đã tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định 222/NĐ-CP ngày 31/12/2013 về thanh toán bằng tiền mặt đối với một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó quy định không thanh toán bằng tiền mặt đối với các giao dịch thanh toán của các tổ chức sử dụng vốn nhà nước và tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (trừ một số trường hợp được quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính3 và NHNN4); các giao dịch chứng khoán và giao dịch tài chính của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, NHNN đã chỉ đạo triển khai Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 2453) và đã đạt được nhiều chuyển biến mạnh mẽ, trong đó các phương tiện và dịch vụ thanh toán đã phát triển đa dạng, hiện đại đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán cũng như yêu cầu của nền kinh tế. Nhận thức và thói quen của người dân, doanh nghiệp về TTKDTM có sự chuyển biến mới. Cụ thể:
Tỷ trọng tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần, từ 14,02% năm 2010 còn 11,5% hiện nay. Số lượng và giá trị thanh toán qua ATM có xu hướng tăng nhanh từ 527 triệu giao dịch năm 2013 lên 717 triệu giao dịch năm 2016, tương ứng với số lượng giao dịch tăng từ 994 nghìn tỷ đồng lên 1.809 nghìn tỷ đồng. Số lượng và giá trị thanh toán qua POS cũng có xu hướng tăng mạnh: Số lượng giao dịch từ 24 triệu giao dịch năm 2013 lên 97 triệu giao dịch năm 2016, tương giá trị giao dịch tăng từ 127 nghìn tỷ đồng lên 250 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên, việc sử dụng tiền mặt tại Việt Nam vẫn còn phổ biến trong các giao dịch của người dân. Nhiều giao dịch mua bán bất động sản và những tài sản có giá trị lớn chưa được thực hiện thanh toán qua ngân hàng do một số Luật hiện hành, như: Luật Dân sự, Luật Bất động sản, Luật Nhà ở… vẫn quy định phương thức thanh toán do các bên tự thỏa thuận.
3.2. Liên quan đến công tác phòng, chống rửa tiền: Việc rửa tiền thường được tội phạm tiến hành qua rất nhiều cách thức như: Vận chuyển tiền mặt qua biên giới; Rửa tiền thông qua các giao dịch thương mại; Mua tài sản có giá trị lớn bằng tiền mặt… Do đó, việc phòng, chống rửa tiền phải được triển khai một cách đồng bộ, trong đó hạn chế sử dụng tiền mặt, không tạo ra môi trường thuận lợi để tội phạm lợi dụng rửa tiền cũng là một trong những giải pháp mà NHNN hướng đến
Để có thể ngăn chặn tội phạm rửa tiền, Việt Nam đã có cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm phòng, chống và trừng trị nghiêm minh loại tội phạm này và đã nỗ lực triển khai ngày càng có hiệu quả các quy định của Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012 và các văn bản hướng dẫn Luật. Theo đó, pháp luật phòng, chống rửa tiền đã quy định giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo từ 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) trở lên. Các sai phạm trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009.
3.3. Việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thực hiện việc thanh toán, chi trả qua hệ thống ngân hàng là một biện pháp hữu hiệu làm minh bạch các nguồn thu nhập của cá nhân, tổ chức và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền cũng như công tác phòng, chống tham nhũng.
Do đó, để tiếp tục tăng cường công tác quản lý tiền mặt và từng bước hạn chế các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế, NHNN đã trình Chính phủ phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016), trong đó, tập trung hoàn thiện các hành lang pháp lý liên quan đến TTKDTM; xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển TTKDTM nhằm tạo lập hành lang pháp lý đầy đủ, tổng thể, đồng bộ, nhất quán, khuyến khích phát triển TTKDTM, đảm bảo an ninh, an toàn cho hoạt động TTKDTM, từng bước phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và thông lệ quốc tế tốt nhất, góp phần giảm thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế. Cụ thể như sau:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung một số điều khoản liên quan đến TTKDTM tại các văn bản Luật hiện hành (như Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Phòng chống rửa tiền); hoặc nghiên cứu, xây dựng một Luật riêng về các hệ thống thanh toán.
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các Nghị định về TTKDTM, thanh toán bằng tiền mặt, các Thông tư hướng dẫn về thanh toán.
- Ban hành các văn bản pháp lý để quản lý, giám sát, vận hành có hiệu quả đối với các loại hình, phương tiện, hệ thống thanh toán mới.
- Ban hành các quy định về hoạt động ủy thác thanh toán, cho phép các tổ chức phi ngân hàng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ thanh toán mới, mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa để thúc đẩy phổ cập tài chính.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về đảm bảo an toàn, bảo mật, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán điện tử, đặc biệt là tội phạm và gian lận trong thanh toán thẻ, ATM, POS, thanh toán qua internet, điện thoại di động, thanh toán phi tiếp xúc và các phương thức thanh toán sử dụng công nghệ cao.
4. Về xử lý nợ xấu
4.1. Cử tri kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành chức năng có liên quan và chính quyền địa phương tăng cường sự phối hợp đồng bộ trong công tác giải quyết nợ xấu; việc xử lý nợ xấu không nên sử dụng ngân sách nhà nước mà nên tuân theo các quy luật về kinh tế. (Cử tri TP Hồ Chí Minh)
- Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành chức năng liên quan và chính quyền địa phương tăng cường sự phối hợp đồng bộ trong công tác giải quyết nợ xấu:
Để tăng cường sự phối hợp của các Bộ, ngành và địa phương trong việc tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015, trong đó có vấn đề xử lý nợ xấu, ngày 13/3/2013 Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành tái cơ cấu hệ thống các TCTD do 01 Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, các thành viên là đại diện lãnh đạo của các Bộ (Công an, Tài chính, Kế hoạch và đầu tư, Thanh tra Chính phủ,...) và UBND Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định số 454/QĐ-TTg). Tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm cũng đã thành lập Ban chỉ đạo để kịp thời chỉ đạo, xử lý, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ hiệu quả quá trình tái cơ cấu các TCTD và xử lý nợ xấu trên địa bàn. Nhờ đó, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực phối hợp với NHNN trong triển khai các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, đặc biệt là tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự, thông tin, truyền thông, định hướng dư luận và bảo đảm an ninh trật tự, an toàn hoạt động của các TCTD... Tuy nhiên, do còn nhiều vướng mắc về khuôn khổ pháp lý nên công tác phối hợp giữa ngành Ngân hàng và các Bộ, ngành đạt hiệu quả chưa cao và đặt ngành Ngân hàng trước các rủi ro pháp lý rất lớn. Trong đó, NHNN và các Bộ, ngành phải mất rất nhiều thời gian để trao đổi, thống nhất quan điểm, thực hiện nhiều thủ tục hành chính, xin ý kiến Chính phủ chấp thuận cho áp dụng các cơ chế đặc thù chưa được pháp luật quy định....
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế và thúc đẩy nhanh hơn quá trình xử lý nợ xấu, trong dự thảo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” đang được NHNN trình Chính Phủ, báo cáo Bộ Chính trị, NHNN đã đề xuất 02 giải pháp quan trọng là: (i) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều tiết toàn bộ các hoạt động liên quan đến cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu; (ii) Thành lập mới Ban Chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống các TCTD do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban, một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Phó Trưởng Ban thường trực, Thống đốc NHNN làm Phó Trưởng Ban và đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành, cơ quan có liên quan làm thành viên với sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, cơ chế hoạt động kịp thời, hiệu quả hơn.
Sau khi Đề án được Bộ Chính trị thông qua, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN và các Bộ, ngành, địa phương sẽ nỗ lực chỉ đạo, triển khai nâng cao hiệu quả công tác phối hợp nhằm xử lý dứt điểm nợ xấu trong giai đoạn 2016-2020.
- Việc xử lý nợ xấu không nên sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) mà nên tuân theo các quy luật về kinh tế:
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy để xử lý nhanh nợ xấu, cần có các điều kiện tiên quyết sau đây: (i) Chính phủ dành nguồn vốn cần thiết cho xử lý nợ xấu; (ii) Khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm hoàn chỉnh, đồng bộ; (iii) Kinh tế vĩ mô ổn định, sản xuất kinh doanh có triển vọng tốt; (iv) Có thị trường tài chính, thị trường mua bán nợ phát triển; (v) Có hệ thống khuyến khích, thu hút nhà đầu tư tham gia vào việc xử lý nợ xấu.
Về cơ bản, Việt Nam chưa đáp ứng được các điều kiện tiên quyết nói trên, trong đó có việc không sử dụng tiền NSNN để xử lý nợ xấu và thị trường mua bán nợ chưa phát triển để có thể xử lý nợ thông qua hình thức mua bán nợ theo giá trị thị trường (theo quy luật kinh tế) nên việc xử lý nợ xấu của Việt Nam trong thời gian qua chưa thể thực hiện nhanh được.
Để xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu, bên cạnh giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành địa phương như đã nêu ở điểm 1, NHNN đã đề xuất thêm giải pháp “sử dụng NSNN để xử lý nợ xấu có nguồn gốc từ NSNN” và “phát triển thị trường mua bán nợ để thúc đẩy xử lý nợ xấu theo quy luật kinh tế” trong dự thảo Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020. Cụ thể:
(1) Sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý các khoản nợ xấu có nguồn gốc từ NSNN như: nợ liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản có nguồn gốc từ NSNN Trung ương, địa phương; nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước; nợ xấu cho vay theo các chương trình dự án, chỉ định của Chính phủ…
(2) Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về mua bán nợ, khung pháp lý cho hình thành, phát triển và quản lý thị trường mua bán nợ, trong đó cho phép người không cư trú (nhà đầu tư nước ngoài) được mua nợ xấu của các TCTD, VAMC. Sửa đổi khuôn khổ pháp lý về định giá, thẩm định giá để đảm bảo các tổ chức có chức năng định giá, thẩm định giá và các tổ chức, cá nhân có cơ sở xác định được giá trị thị trường của các khoản nợ, làm cơ sở để mua bán nợ theo giá trị thị trường. Sửa đổi khuôn khổ pháp lý về giao dịch bảo đảm để đảm bảo quyền được thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm. Quy định trách nhiệm của cơ quan công an và chính quyền địa phương các cấp trong việc hỗ trợ bên nhận bảo đảm thực thi quyền hợp pháp của mình nhằm tạo động lực khuyến khích nhà đầu tư tham gia mua, bán nợ của TCTD. Đồng thời, tăng vốn điều lệ cho VAMC để công ty này có đủ năng lực tài chính triển khai có hiệu quả việc mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường.
4.2. Cử tri đề nghị Nhà nước quan tâm trao “quyền đòi nợ” cho công ty VAMC vì hiện nay việc xử lý nợ của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. (Cử tri tỉnh Phú Yên)
Hiện tại, việc mua bán nợ của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thực hiện theo quy định tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 và Nghị định 18/2016/NĐ-CP ngày 18/3/2016 (sau đây gọi là Nghị định 53) và các văn bản hướng dẫn của NHNN, Bộ Tư pháp.
Nghị định 53 đã quy định cụ thể các quyền của VAMC với tư cách là chủ nợ, như: VAMC được thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm, các biện pháp cơ cấu lại nợ xấu, hỗ trợ khách hàng vay, xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu mà VAMC đã mua...
Như vậy, về cơ bản, khuôn khổ pháp lý về quyền đòi nợ của VAMC đã được thiết lập bước đầu. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn và thực hiện quyền chủ nợ của mình, VAMC vẫn còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Trong đó, nguyên nhân chính là do khuôn khổ pháp lý chung về quyền chủ nợ còn nhiều bất cập (như chưa đầy đủ các quy định pháp luật, quy định pháp luật mâu thuẫn, không phù hợp). Các vướng mắc này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả và tiến độ xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng.
NHNN đã có nhiều báo cáo tổng kết, tờ trình Thủ tướng Chính phủ, tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và công văn gửi các Bộ, ngành liên quan cũng như tổ chức họp, làm việc trực tiếp về các khó khăn, vướng mắc của VAMC, trong đó có vấn đề thực hiện quyền đòi nợ, đồng thời đưa ra các kiến nghị, đề xuất để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho VAMC5. Tuy nhiên, các vướng mắc của VAMC vẫn chưa được xử lý do nhiều nội dung, đặc biệt là quyền đòi nợ, để xử lý được cần phải ban hành Luật điều chỉnh riêng về vấn đề này.
Trên cơ sở những vấn đề phát sinh trong thực tiễn triển khai nêu trên, thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII, Nghị quyết số 23/2016/QH14 ngày 07/11/2016 của Quốc hội, Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 01/01/2017, NHNN đang xây dựng dự thảo Luật cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các nội dung cần thiết để xử lý các khó khăn, vướng mắc của VAMC trong quá trình xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm, nhằm giúp VAMC thực hiện tốt hơn quyền chủ nợ của mình, qua đó hỗ trợ hệ thống ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu, tạo điều kiện phát triển an toàn bền vững cho hệ thống ngân hàng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Hiện tại, NHNN đã gửi Bộ Tư pháp hồ sơ dự án Luật cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu để tiến hành thẩm định theo quy định. Dự kiến dự án Luật sẽ được Quốc hội cho ý kiến và xem xét thông qua trong năm 2017. Khi Luật được thông qua sẽ giải quyết được vấn đề cử tri kiến nghị.
5. Về nâng cao chất lượng tiền polymer
Đề nghị Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu cải tiến chất liệu tiền giấy Việt Nam. Hiện nay, do được làm bằng chất liệu polymer nên khi cũ hình ảnh trên tờ tiền rất dễ bị mờ, biến dạng. (Cử tri TP Hồ Chí Minh)
Trả lời:
Trong quá trình lưu thông, chất lượng đồng tiền sẽ giảm dần theo thời gian sử dụng vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với tiền giấy (tiền cotton), chủ yếu là do lấm bẩn; nhàu nát; sờn, rách. Đối với tiền polymer, chủ yếu là do mực in bị mòn trong quá trình sử dụng, dẫn đến phai màu, mất một phần hình ảnh, hoa văn trên đồng tiền.
Quá trình theo dõi chất lượng đồng tiền trong lưu thông của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tiền polymer bền hơn, sạch hơn và có khả năng chống giả cao hơn tiền cotton trước đây, góp phần bảo vệ tốt hơn lợi ích của nhân dân và an ninh tiền tệ quốc gia. Nhìn chung, chất lượng đồng tiền trong lưu thông hiện nay đáp ứng yêu cầu của công chúng trong thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, bởi nhiều lý do khách quan, chủ quan khác nhau mà trong thực tế vẫn còn những đồng tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông chưa được luân chuyển qua hệ thống ngân hàng để giữ lại, tiêu hủy.
Là cơ quan phát hành tiền, Ngân hàng Nhà nước luôn nghiên cứu, cập nhật những phát triển mới của khoa học công nghệ (nhất là công nghệ vật liệu in tiền mới) để nâng cao chất lượng đồng tiền và sẽ có đề xuất phù hợp trong khâu in ấn và phát hành khi cần thiết, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đồng tiền trong lưu thông. Đồng thời, hiện nay Ngân hàng Nhà nước đã và đang tiếp tục tăng cường công tác tuyển chọn, phân loại tiền, thu hút mạnh các loại tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại và tích cực đưa tiền mới để thay thế những đồng tiền đã không còn đủ tiêu chuẩn lưu thông.
1 Hiện lãi suất cho vay của các TCTD phổ biến ở mức 6-9%/năm đối với cho vay ngắn hạn, 9-11%/năm đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mức 6-7%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất thông thường khác từ 1-2%/năm; các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi được vay ngắn hạn với lãi suất thấp chỉ từ 4-5%/năm.
2 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghiệp hỗ trợ.
3 Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 Quy định quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước;
4 Thông tư số 33/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định một số trường hợp được thanh toán bằng tiền mặt của các tổ chức sử dụng vốn nhà nước.
5 Báo cáo 88a/BC-NHNN ngày 30/9/2014, Tờ trình 150a/TTr-NHNN ngày 30/9/2014, Tờ trình 227/TTr-CP ngày 19/5/2015, Tờ trình 59/TTr-NHNN ngày 29/5/2015, Tờ trình 119/TTr-NHNN ngày 10/8/2016, Tờ trình 150/TTr-NHNN ngày 30/9/2016…