Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội Phạm Hồng Phong, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hậu Giang đối với hoạt động ngân hàng.
Về ý kiến chất vấn của Đại biểu nêu tại phiếu chất vấn ngày 17/11/2017 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời như sau:
1. Về việc VAMC thu giữ tài sản bảo đảm của Công ty cổ phần Sài gòn One Tower
Ngày 27/12/2013, VAMC ký Hợp đồng mua nợ 1119/2015/MBN.VAMC2-MSB giữa VAMC với Ngân hàng TMCP Hàng hải (MSB) và Hợp đồng mua nợ số 1188/2015/MBN.VAMC2-DAB giữa VAMC với Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB). Theo đó, VAMC thực hiện mua toàn bộ khoản nợ của các khách hàng vay bao gồm: Công ty cổ phần Sài Gòn One Tower (trước đây là Công ty Cổ phần Địa Ốc Sài Gòn M&C); Công ty cổ phần Đầu tư Liên Phát; Công ty cổ phần TVĐT và XD Minh Quân; Công ty Superdeck M&C. Tổng dư nợ của nhóm khách hàng trên đến thời điểm 16/07/2017 là: 7.113 tỷ đồng (trong đó nợ gốc 4.993 tỷ đồng, nợ lãi 2.120 tỷ đồng).
Tài sản bảo đảm của các khoản nợ nêu trên là Công trình cao ốc phức hợp và quyền khai thác công trình thuộc Dự án đầu tư Cao ốc phức hợp Sài Gòn M&C tại địa chỉ 34 Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh do Công ty Cổ phần Địa ốc Sài Gòn M&C là chủ đầu tư theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 01A/11/SGMC/BĐ ngày 23 và 25/6/2011 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 01A/11/SGMC/BĐ ngày 31/01/2013.
Do nhóm khách hàng nêu trên đã vi phạm Hợp đồng tín dụng, trong giai đoạn từ 2016 đến tháng 7/2017, VAMC và các TCTD cho vay (MSB, DAB) đã nhiều lần làm việc, có công văn đôn đốc yêu cầu khách hàng trả nợ và thực hiện đúng các cam kết trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản, nhưng các khách hàng trên vẫn không thực hiện và không có phương án trả nợ khả thi. Để xử lý thu hồi nợ, VAMC, MSB và DAB đã thống nhất lựa chọn biện pháp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Do hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm được ký kết trước thời điểm Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực (trước 01/01/2017), nên việc thu giữ tài sản bảo đảm của VAMC được thực hiện theo quy định chuyển tiếp tại điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015 và các quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm. Cụ thể:
- Điểm a Khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về xử lý chuyển tiếp như sau: “Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này. Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11”.
- Khoản 1, 2 Điều 63 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định về thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý như sau:
“1. Bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản theo thông báo của người này; nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản thì người xử lý tài sản có quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều này để xử lý hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản có trách nhiệm:a) Thông báo trước cho người giữ tài sản về việc áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm trong một thời hạn hợp lý. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do, thời gian thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên;b) Không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm. …”.
- Khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm quy định:
“1. Trước thời điểm thu giữ tài sản bảo đảm ít nhất bảy (07) ngày làm việc, người xử lý tài sản bảo đảm có quyền gửi văn bản thông báo về việc thu giữ tài sản bảo đảm đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm. Văn bản thông báo về việc thu giữ tài sản được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện kèm theo một (01) bản sao hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản thỏa thuận về việc xử lý tài sản bảo đảm đã được các bên giao kết hợp pháp. Văn bản của người xử lý tài sản bảo đảm phải nêu rõ lý do xử lý, thời gian, địa điểm xử lý, kế hoạch thu giữ tài sản và tài sản dự định thu giữ.…”.
Căn cứ các quy định nêu trên, ngày 17/07/2017, VAMC đã gửi Thông báo số 805/VAMC-BB&XLN về việc thu giữ tài sản bảo đảm cho Công ty cổ phần Sài Gòn One Tower để xử lý, thu hồi nợ. Ngày 18/7/2017, VAMC đã gửi thông báo thu giữ cho UBND cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản nêu trên. Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục thông báo, ngày 21/8/2017, VAMC đã thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm của Công ty cổphần Sài Gòn One Tower tại 34 Tôn Đức Thắng, Quận 1, TPHCM với sự tham gia của Đại diện Công an, UBND Phường Nguyễn Thái Bình, đại diện các TCTD và đại diện chủ tài sản. Việc thu giữ tài sản bảo đảm diễn ra thuận lợi và nhận được sự hợp tác có thiện chí từ bên bảo đảm là Công ty cổ phần Sài Gòn One Tower. Biên bản thu giữ tài sản có đầy đủ chữ ký xác nhận của các bên liên quan và chủ tài sản.
Như vậy,VAMC đã thực hiện thông báo cho người giữ tài sản bảo đảm và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm trước khi thu giữ. Việc thu giữ tài sản của CTCP Sài Gòn One Tower được thực hiện đúng quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN và các quy định pháp luật có liên quan.
2. Giải pháp thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu.
Ngay khi Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD được Quốc hội thông qua, NHNN đã tích cực, chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện. Trong đó, NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 19/7/2017 về triển khai thực hiện Nghị quyết số 42; Ban hành Chỉ thị số 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 về việc thực hiện Nghị quyết 42 và Quyết định 1058 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020.
Ngày 21/7/2017, NHNN đã tổ chức Hội nghị toàn ngành để quán triệt và triển khai Nghị quyết 42 và Quyết định 1058, trong đó, NHNN đã yêu cầu các TCTD xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu và kế hoạch xử lý nợ xấu trình NHNN phê duyệt. Sau khi đánh giá, thẩm định phương án, kế hoạch của các TCTD, NHNN đã kịp thời chỉ đạo từng TCTD chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện nhằm bảo đảm khắc phục, xử lý triệt để những tồn tại, hạn chế và thực hiện đúng mục tiêu, lộ trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu đã nêu tại Quyết định 1058 và Nghị quyết 42.
Qua đánh giá bước đầu tình hình nợ xấu và xử lý nợ xấu đã có bước chuyển biến tích cực. Từ 15/8/2017 đến 30/9/2017 (sau hơn 1 tháng triển khai Nghị quyết 42), tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 được xử lý khoảng 14,3 nghìn tỷ đồng. Trong đó: khách hàng trả nợ 6.380 tỷ đồng; bán, phát mại TSBĐ 778,6 tỷ đồng; bán cho VAMC theo giá thị trường 8,2 tỷ đồng; xử lý bằng khả năng tài chính của TCTD 5.040 tỷ đồng và hình thức khác 2.078 tỷ đồng. Như vậy, các TCTD đã vận dụng các quy định tại Nghị quyết 42 và các văn bản pháp quy hiện hành để tự xử lý 99,94% số nợ xấu và số nợ xấu bán cho VAMC chỉ chiếm 0,06%. Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai Nghị quyết 42 cũng còn một số khó khăn nhất định:
- Thứ nhất, đối với việc thu giữ tài sản: các TCTD vẫn đang gặp khó khăn do khách hàng không hợp tác/ sự phản kháng của Bên bảo đảm/Bên vay trong việc bàn giao tài sản; các cơ quan chức năng một số nơi chưa phối hợp chặt chẽ.
- Thứ hai, đối với quá trình tố tụng, thi hành án: Vừa qua Tòa án nhân tối cao đã có công văn số 152/TANDTC-PC ngày 19/7/2017 hướng dẫn tòa án các cấp giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, vẫn cần có hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng các thủ tục tố tụng rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án; việc xử lý vụ án, xử lý tài sản thường mất nhiều thời gian, đặc biệt khi các vụ án có nhiều tính tiết phát sinh mới hoặc một trong các bên tuyên bố phá sản,… Do đó, các TCTD khó dự báo được kế hoạch, tiến độ xử lý các khoản nợ xấu để đưa vào Phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu.
- Thứ ba, đối với điều kiện TSBĐ được xử lý phải không là tài sản tranh chấp: hiện nay chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi xử lý tài sản theo Nghị quyết số 42/2017/QH14.
- Thứ tư, đối với việc xử lý TSBĐ tại TCTD: Nợ xấu cho vay trong lĩnh vực bất động sản khó xử lý do việc trả nợ phụ thuộc vào việc xử lý TSBĐ, tuy nhiên việc xử lý TSBĐ tại TCTD hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào tình hình kinh tế, thị trường bất động sản...
- Thứ năm, đối với việc xử lý các khoản vay liên quan đến vụ án, đang trong quá trình điều tra: Một số khoản vay/Khách hàng của TCTD có liên quan đến các vụ án và đang trong quá trình điều tra, xét xử nên việc xử lý TSBĐ/khoản nợ cần phải được có sự chấp thuận của Cơ quan Công an các cấp.
Để đảm bảo việc triển khai có hiệu quả, NHNN sẽ tiếp tục phối hợp các Bộ, ban, ngành các cấp tập trung quán triệt, ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và tiếp tục hỗ trợ tối đa cho TCTD, tổ chức mua bán xử lý nợ xấu trong quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết 42, cụ thể:
7. Các cơ quan truyền thông: Tiếp tục hỗ trợ truyền thông trên phương tiện thông tin đại chúng để cả khách nợ và các bên liên quan trong công tác xử lý nợ có ý thức và chủ động thực hiện.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan chỉ đạo triển khai quyết liệt, có hiệu quả các giải pháp nêu tại Đề án 1058 và Nghị quyết 42 nhằm đạt được mục tiêu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ xấu đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại yếu kém được Chính phủ phê duyệt xử lý theo phương án riêng).
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Phạm Hồng Phong. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động ngân hàng.