Ngày 14/6/2018, Quỹ Tiền tệ quốc tế ( IMF) công bố báo cáo nghiên cứu của các chuyên gia về tình hình kinh tế Mỹ, làm cơ sở để Lãnh đạo IMF thao luận và ra quyết định. Đây là báo cáo sơ bộ, được hình thành dựa trên kết quả điều tra hàng năm về tình hình kinh tế các nước thành viên IMF.
Về tình hình kinh tế vĩ mô, kinh tế Mỹ tiếp tục tăng vững trong ngắn hạn, tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp đang giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối những năm 1960 và GDP được kỳ vọng tiếp tục tăng tốc, nhờ các biện pháp kích thích tài khóa, đầu tư tư nhân phục hồi và điều kiện tài chính thuận lợi. Ngoài ra, môi trường quốc tế thuận lợi cũng là yếu tố hỗ trợ tích cực, hoạt động kinh tế sôi động tại hầu hết các quốc gia và khu vực trên thế giới. Năm 2019 được kỳ vọng sẽ đánh dấu giai đoạn kinh tế Mỹ phục hồi dài nhất trong lịch sử. Trái với triển vọng tích cực trong ngắn hạn, kinh tế Mỹ đang đối mặt với hàng loạt rủi ro tiềm ẩn trong giai đoạn trung hạn (xem bảng dưới đây).
Các chỉ số kinh tế chủ chốt: Thực tế và kỳ vọng
|
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
GDP thực tế (% so năm trước) |
2,3 |
2,9 |
2,7 |
1,9 |
1,7 |
1,5 |
1,4 |
GDP tiềm năng (% so năm trước) |
0,3 |
1,2 |
1,9 |
1,9 |
1,8 |
1,5 |
1,2 |
Tỷ lệ thất nghiệp (cuối năm) |
4,1 |
3,5 |
3,5 |
3,4 |
3,5 |
3,7 |
3,8 |
Cán cân vãng lai (% so GDP) |
-2,4 |
-3,0 |
-3,2 |
-3,6 |
-3,4 |
-3,2 |
-3,0 |
Lãi suất chính sách (cuối năm) |
1,2 |
2,6 |
3,6 |
3,4 |
2,9 |
2,9 |
2,9 |
Lợi suất TPKB 10 năm (cuối năm) |
2,4 |
3,2 |
3,7 |
3,8 |
3,6 |
3,6 |
3,7 |
Lạm phát cơ bản hàng năm (quý 4) |
1,7 |
2,8 |
2,4 |
2,0 |
1,9 |
1,9 |
2,0 |
Lạm phát lõi hàng năm (quý 4) |
1,5 |
2,0 |
2,3 |
2,2 |
2,0 |
2,0 |
2,0 |
Thâm hụt ngân sách (% GDP) |
-3,5 |
-4,1 |
-4,6 |
-4,5 |
-4,7 |
-5,0 |
-4,8 |
Nợ công liên bang (% GDP) |
76,5 |
76,9 |
77,2 |
78,5 |
80,5 |
82,5 |
84,6 |
Nguồn: Phòng Phân tích kinh tế Mỹ, Phòng Thống kê lao động, Phân tích Haver, ước tính của chuyên gia IMF
Theo kỳ vọng, tỷ lệ thất nghiệp và thị trường sản phẩm thu hẹp sẽ là yếu tố tăng lương và lạm phát.Sau một thập kỷ dao động dưới 2%, lạm phát lõi được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ và vượt ngưỡng mục tiêu 2% vào giữa năm nay. Cho tới nay, thu nhập lương tăng tỷ lệ thuận với năng suất lao động. Nhờ đó, chi phí lao động dường như đã ổn định trong hai năm qua. Trong vài tháng tới, lương và chi phí lao động sẽ tăng nhẹ. Trong ngắn hạn, sự tham gia của lực lượng lao động được kỳ vọng sẽ ổn định, nhờ đà tăng trưởng theo chu kỳ sẽ bù đắp xu hướng già hóa dân số.
Về chính sách tài khóa, chính sách cắt giảm thuế và mở rộng chi tiêu công được kỳ vọng sẽ hỗ trợ GDP với mức tăng thêm dồn tích khoảng 1,5% vào năm 2020, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 3,5%. Tuy nhiên, thay đổi về chính sách thuế được kỳ vọng sẽ chỉ tác động nhẹ đến nguồn cung, do những thay đổi này chỉ khuyến khích tăng giá cổ phiếu và qua đó hỗ trợ tiềm năng tăng trưởng. Theo dự báo, tăng trưởng tiềm năng sẽ trở về xu hướng dài hạn 1¾% vào năm 2021.
Chính sách giảm thuế và mở rộng chi tiêu công sẽ khiến thâm hụt ngân sách vượt tỷ lệ 4,5% GDP vào năm 2019, tăng gần 2 lần so với ba năm trước. Đây là giai đoạn mở rộng chính sách tài khóa theo chu kỳ dài nhất kể từ chính quyền của Tổng thống Johnson trong những năm 1960, góp phần thúc đẩy kinh tế Mỹ và nhiều đối tác thương mại trong ngắn hạn. Tuy nhiên, chính sách này sẽ làm gia tăng rủi ro đối với nền kinh tế Mỹ và GDP toàn cầu. Thâm hụt ngân sách liên bang tăng cao sẽ trầm trọng thêm gánh nặng nợ công, tỷ lệ nợ công sẽ vượt 90% GDP vào năm 2024.
Như vậy, cải cách thuế sẽ chỉ tác động hạn chế đến GDP tiềm năng, thậm chí làm gia tăng áp lực lạm phát, khi nền kinh tế tiếp tục đạt trạng thái toàn dụng lao động. Lạm phát tăng cao sẽ buộc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) phải đẩy nhanh lộ trình và quy mô tăng lãi suất, có thể dẫn đến những chao đảo trên thị trường chứng khoán Mỹ, điều kiện tài chính khắt khe hơn, làm tăng lợi suất rủi ro và những rủi ro kỳ hạn khác, gây áp lực tăng đòn bẩy nợ doanh nghiệp và hộ gia đình.
Chính sách tài khóa tại Mỹ cũng tạo ra những rủi ro đối ngược trầm trọng tại nhiều nước khác, nhất là những nước phụ thuộc nặng nề vào nợ dưới dạng USD. Điều này cũng có thể dẫn đến xu hướng đảo chiều các dòng vốn, nhất là tại các nước mới nổi, tăng thêm áp lực lên USD và trầm trọng thêm tình trạng mất cân đối trên toàn cầu.
Những chính sách hiện hành sẽ là yếu tố hình thành các biện pháp củng cố tài khóa, bắt đầu từ năm 2020, khi chu kỳ thắt chặt tiền tệ (tăng lãi suất) theo chu kỳ đạt tới mức kỷ lục. Dự báo của các chuyên gia IMF cho thấy, GDP sẽ giảm tốc xuống mức tăng trưởng khoảng 1,5% trong giai đoạn trung hạn, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tiềm năng. Tuy nhiên, xu hướng hội tụ của GDP thực tế và GDP tiềm năng có thể được coi là hiện tượng không bình thường trong lịch sử Mỹ, và dự báo này có vẻ lạc quan quá mức. Trong khi đó, đà tăng GDP có thể giảm mạnh, dẫn đến thời kỳ suy thoái do chính sách gây ra, tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu.
Trong năm 2017, vị thế quốc tế của Mỹ giảm nhẹ so với nền tảng trung hạn và chính sách cần thiết, USD tăng cao và đang được định giá quá mức. Do kinh tế Mỹ đã ở giai đoạn toàn dụng lao động, các biện pháp tài khóa hỗ trợ nhu cầu tại Mỹ có thể sẽ làm tăng nhập khẩu, thâm hụt vãng lai sẽ tăng dần lên tỷ lệ 3,5% GDP vào năm 2019-2020, gây áp lực tăng giá USD, và trầm trọng thêm vị thế đầu tư quốc tế. Thâm hụt vãng lai tại Mỹ tăng cao cũng sẽ làm tăng thặng dư vãng lai tại những nền kinh tế lớn khác trên thế giới, tình trạng mất cân đối toàn cầu sẽ tăng cao.
Tuy nhiên, kế hoạch mở rộng chi tiêu liên bang được cho là cần thiết đối với nền kinh tế Mỹ. Trong đó, các chương trình chi tiêu hạ tầng sẽ tạo thêm nguồn vốn đầu tư và củng cố nguồn cung, góp phần thúc đẩy GDP và nâng cao mức sống trong giai đoạn trung hạn. Chi tiêu hạ tầng là một bộ phận trong chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng ưu tiên các dự án cụ thể hơn là phân bổ tự động. Tuy nhiên, động thái mở rộng chi tiêu công cho lĩnh vực hạ tầng thường làm tăng tổng mức chi tiêu, cho phép giảm dần thâm hụt ngân sách liên bang và gánh nặng nợ công trong vài năm tới đây. Cụ thể là, thặng dư tài khóa liên bang sẽ tăng dần lên ngưỡng 1,5% GDP, góp phần giảm dần tỷ lệ nợ công, và tạo thêm dư địa chính sách tài khóa để cải thiện thu nhập xã hội, nhất là đối với những gia đình thu nhập thấp và trung bình, khuyến khích đầu tư phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trung hạn.
Trong bối cảnh chính sách tài khóa mở rộng, Fed sẽ phải tăng dần các mức lãi suất chính sách nhằm đạt được mục tiêu dài hạn là kiềm chế lạm phát, cho dù cần tiếp tục tăng lãi suất chính sách và duy trì các mức lãi suất trên mặt bằng lãi suất tự nhiên dài hạn thêm một thời gian. Điều này phù hợp với kỳ vọng của các quan chức Fed, với mức tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2018-2019 thấp hơn so với dự báo của các chuyên gia IMF.
Trong ngắn hạn, tăng trưởng cao tại Mỹ và lãi suất chính sách tăng dần được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích toàn cầu, nhất là Canada và Mêhicô, mặc dù vẫn gây áp lực đòn bẩy doanh nghiệp và hộ gia đình (tại Mỹ và những nước khác), và những nước có nợ công ở mức cao.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 6/2018