Ngày 09/10/2018, trước thềm cuộc họp hàng năm, tổ chức tại Bali, Indonesia, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã công bố báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu (WEO).
Tại báo cáo này, IMF đã điều chỉnh giảm dự báo GDP toàn cầu năm 2018-2019 xuống mức tăng trưởng 3,7%, thấp hơn 0,2% so với dự báo đưa ra hồi tháng 4/2018. Trong số này, IMF giữ nguyên dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2018 ở mức 2,9%, không thay đổi so với dự báo đưa ra hồi tháng 7, nhưng GDP năm 2019 chỉ tăng 2,5%, thấp hơn 0,2% so với dự báo trước, nguyên nhân là do căng thẳng thương mại leo thang; kinh tế khu vực đồng euro được dự báo sẽ tăng 2,0% trong năm nay, giảm 0,2% so với dự báo trước đó. Trong khi đó, IMF nâng dự báo GDP năm 2018 tại Nhật Bản lên 1,1%, tăng 0,1% so với dự báo trước.
IMF hạ dự báo GDP tại các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs). Trong đó, GDP năm 2019 tại Trung Quốc chỉ tăng 6,2%, thấp hơn 0,2% so với dự báo cách đây ba tháng; GDP tại hàng loạt nền kinh tế mới nổi cũng tăng thấp hơn so với dự báo trước đây, lo ngại nhất là tình hình kinh tế tại Argentina, Brazil, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, v.v.
IMF cũng điều chỉnh giảm sâu dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu. Cụ thể là, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 2018 và 2019 chỉ lần lượt tăng 4,2% và 4,0%, thấp hơn dự báo trước đó tới 0,6% và 0,5%.
Dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu (% so năm trước)
|
Thực tế và dự báo |
Thay đổi * |
Thay đổi ** |
||||
|
2017 |
2018 |
2019 |
2018 |
2019 |
2018 |
2019 |
GDP toàn cầu |
3,7 |
3,7 |
3,7 |
-0,2 |
-0,2 |
-0,2 |
-0,2 |
Các nước phát triển |
2,3 |
2,4 |
2,1 |
0,0 |
-0,1 |
-0,1 |
-0,1 |
Mỹ |
2,2 |
2,9 |
2,5 |
0,0 |
-0,2 |
0,0 |
-0,2 |
Khu vực đồng euro |
2,4 |
2,0 |
1,9 |
-0,2 |
0,0 |
-0,4 |
-0,1 |
CHLB Đức |
2,5 |
1,9 |
1,9 |
-0,3 |
-0,2 |
-0,6 |
-0,1 |
CH Pháp |
2,3 |
1,6 |
1,6 |
-0,2 |
-0,1 |
-0,5 |
-0,4 |
Italia |
1,5 |
1,2 |
1,0 |
0,0 |
0,0 |
-0,3 |
-0,1 |
Tây Ban Nha |
3,0 |
2,7 |
2,2 |
-0,1 |
0,0 |
-0,1 |
0,0 |
Nhật Bản |
1,7 |
1,1 |
0,9 |
0,1 |
0,0 |
-0,1 |
0,0 |
VQ Anh |
1,7 |
1,4 |
1,5 |
0,0 |
0,0 |
-0,2 |
0,0 |
Canada |
3,0 |
2,1 |
2,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Những nước phát triển khác *** |
2,8 |
2,8 |
2,5 |
0,0 |
-0,2 |
0,1 |
-0,1 |
Các EMDE |
4,7 |
4,7 |
4,7 |
-0,2 |
-0,4 |
-0,2 |
-0,4 |
Cộng đồng các quốc gia độc lập |
2,1 |
2,3 |
2,4 |
0,0 |
0,2 |
0,1 |
0,3 |
CHLB Nga |
1,5 |
1,7 |
1,8 |
0,0 |
0,3 |
0,0 |
0,3 |
Các EMDE châu Á |
6,5 |
6,5 |
6,3 |
0,0 |
-0,2 |
0,0 |
-0,3 |
Trung Quốc |
6,9 |
6,6 |
6,2 |
0,0 |
-0,2 |
0,0 |
-0,2 |
Ấn Độ |
6,7 |
7,3 |
7,4 |
0,0 |
-0,1 |
-0,1 |
-0,4 |
ASEAN 5 **** |
5,3 |
5,3 |
5,2 |
0,0 |
-0,1 |
0,0 |
-0,2 |
Các EMDE châu Âu |
6,0 |
3,8 |
2,0 |
-0,5 |
-1,6 |
-0,5 |
-1,7 |
Các nước Mỹ Latinh và Caribê |
1,3 |
1,2 |
2,2 |
-0,4 |
-0,4 |
-0,8 |
-0,6 |
Brazil |
1,0 |
1,4 |
2,4 |
-0,4 |
-0,1 |
-0,9 |
-0,1 |
Mêhicô |
2,0 |
2,2 |
2,5 |
-0,1 |
-0,2 |
-0,1 |
-0,5 |
Trung Đông, Bắc Phi ***** |
2,2 |
2,4 |
2,7 |
-1,1 |
-1,2 |
-1,0 |
-1,0 |
Arập Xê út |
0,9 |
2,2 |
2,4 |
0,3 |
0,5 |
0,5 |
0,5 |
Khu vực Cận Sahara |
2,7 |
3,1 |
3,8 |
-0,3 |
0,0 |
-0,3 |
0,1 |
Nigeria |
0,8 |
1,9 |
2,3 |
-0,2 |
0,0 |
-0,2 |
0,4 |
CH Nam Phi |
1,3 |
0,8 |
1,4 |
-0,7 |
-0,3 |
-0,7 |
-0,3 |
Liên minh châu Âu |
2,7 |
2,2 |
2,0 |
-0,2 |
-0,1 |
-0,3 |
-0,1 |
Các nước thu nhập thấp |
4,7 |
4,7 |
5,2 |
-0,3 |
-0,1 |
-0,3 |
-0,1 |
Trung Đông và Bắc Phi |
1,8 |
2,0 |
2,5 |
-1,2 |
-1,3 |
-1,2 |
-1,1 |
Thương mại toàn cầu |
5,2 |
4,2 |
4,0 |
-0,6 |
-0,5 |
-0,9 |
-0,7 |
Giá dầu (tính theo USD) |
23,3 |
31,4 |
-0,9 |
-1,6 |
0,9 |
13.4 |
5,6 |
Giá cả hàng hóa khác (USD) |
6,8 |
2,7 |
-0,7 |
-3,3 |
-1,2 |
-2,9 |
-1,2 |
Giá cả tại các nước phát triển |
1,7 |
2,0 |
1,9 |
-0,2 |
-0,3 |
0,0 |
0,0 |
Giá cả tại EMDEs |
4,3 |
5,0 |
5,2 |
0,3 |
0,7 |
0,2 |
0,7 |
Nguồn: IMF tháng 10/2018
(*): Thay đổi so với dự báo tháng 7/2018;
(**): Thay đổi so với dự báo tháng 4/2018;
(***): Không tính các nước G7 và khu vực euro;
(****): Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Land, Việt Nam;
(*****): Kể cả Afganistan và Pakistan
Động thái giảm dự báo GDP toàn cầu bắt nguồn từ tác động tiêu cực của các biện pháp bảo hộ thương mại từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 9 vừa qua, hoạt động kinh tế trầm lắng trong những tháng đầu năm tại một số nước phát triển chủ chốt, triển vọng kinh tế yếu ớt tại một số EMDEs hàng đầu, điều kiện tài chính ngày càng khắt khe khi các nước phát triển rút dần chính sách tiền tệ nới lỏng, căng thẳng địa chính trị và giá dầu tăng cao.
Trong giai đoạn trung hạn, khi chính sách tiền tệ trở lại trạng thái bình thường sau thời gian nới lỏng kéo dài, GDP tại hầu hết các nước phát triển được dự báo sẽ giảm xuống mức tăng trưởng tiềm năng, thấp xa tốc độ tăng trưởng trung bình trong thời kỳ trước khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Về cơ bản, kinh tế các nước mới nổi châu Á được dự báo tiếp tục tăng cao, nhưng giảm thấp tại một số nước đang phát triển và mới nổi, nhất là về GDP bình quân đầu người, bao gồm các nước xuất khẩu hàng hóa do phải tiếp tục củng cố tài khóa sau những thiệt hại do xung đột và chiến tranh gây ra.
Trong ngữ cảnh bất định chính sách leo thang, rủi ro có xu hướng tăng cao trên toàn cầu. Trong số này, một số rủi ro đã được đề cập tại WEO tháng 4/2018, như gia tăng cáo rào cản thương mại và dòng vốn đào thoát khỏi một số nước mới nổi do nền tảng kinh tế yếu ớt và rủi ro chính trị tăng cao. Tốc độ tăng trưởng tiềm năng cũng giảm dần, chủ yếu là do tình hình tài chính tại một số nước ngày càng khó khăn, chi phí thương mại tăng cao, thiếu nỗ lực cải cách trong những năm vừa qua, động lượng tăng trưởng yếu dần. Đáng chú ý, động thái thắt chặt điều kiện tài chính tại các nước phát triển có thể dẫn đến những rối loạn trong việc điều chỉnh danh mục đầu tư, gây áp lực tăng tỷ giá, làm suy giảm dòng vốn vào các nước mới nổi, nhất là những nước có mức độ thương tổn ở mức cao.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 10/2018