Trong báo cáo cập nhật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) về triển vọng kinh tế toàn cầu, các chuyên gia đã đưa ra những thách thức đối với chính sách tiền tệ tại các nước mới nổi trong bối cảnh các nước phát triển bình thường hóa chính sách tài chính - tiền tệ sau thời gian dài nới lỏng chưa có tiền lệ trong lịch sử.
Báo cáo nêu rõ, sau nhiều năm chao đảo mạnh, giá cả tại nhiều nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) đã nhanh chóng ổn định trở lại, và những cú sốc lạm phát ngắn hạn là cơ hội thuận lợi để các ngân hàng trung ương (NHTW) cắt giảm lãi suất, góp phần chống suy thoái kinh tế. Hiện nay, các nước phát triển đang rút dần chính sách tiền tệ nới lỏng, nỗ lực của các nước mới nổi (EMEs) trong việc đẩy lùi áp lực lạm phát là phép thử mới và là vấn đề cấp thiết để có thể chèo lái nền kinh tế trước những thay đổi về điều kiện tài chính toàn cầu.
Trong quá trình phân tích, các chuyên gia đã nghiên cứu các dữ liệu thống kê về lạm phát cơ bản tại 90 nước trong nhóm EMDEs, sau đó tập trung vào 19 quốc gia (đã có sẵn dữ liệu chi tiết về lạm phát và đóng góp 80% GDP trong nhóm các EMDEs), đại diện cho chiều hướng lạm phát tại phần lớn các EMDEs. Các chuyên gia đã chia các EMDEs thành ba nhóm: Châu Á; Mỹ Latinh; các nước châu Âu, Trung Đông và châu Phi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, xu hướng đồng quy tại ba nhóm này từ mức lạm phát cao với nhiều khác biệt trong những đầu thập kỷ 1990 xuống mức lạm phát thấp vào giữa những năm 2000, sau đó diễn biến theo chiều hướng ổn định. Sau các nỗ lực chống lạm phát, lạm phát trong những năm 1990 và những năm đầu thế kỷ XXI tại các EMDEs có xu hướng giảm mạnh và ổn định ở mức thấp. Tuy nhiên, kết quả cắt giảm lạm phát không đồng nhất, một số nước mới nổi tiếp tục gặp khó khăn trong việc kiềm chế lạm phát ở mức thấp và ổn định, trong khi đối mặt với áp lực tỷ giá và nguy cơ đảo chiều dòng vốn. Trong giai đoạn từ năm 2004 đến quý I/2018, tới 15% EMDEs có mức lạm phát trên 10%, lạm phát trung bình tại một số nước vẫn đứng ở mức hai con số.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, lạm phát lõi giảm dần cho đến giữa những năm 2000 và sau đó tương đối ổn định. Trong đó, lạm phát giá thành sản xuất giảm rõ rệt trong những năm 1990 và sau đó ổn định ở mức khá thấp. Từ năm 2004, sự khác biệt về lạm phát có xu hướng giảm dần hoặc ổn định, nhưng không bắt nguồn từ thói quen về tỷ giá, do không có bằng chứng rõ ràng về tác động của tỷ giá trong những năm cuối thập niên 1990.
Trong hai thập kỷ qua, lạm phát triền miên cũng giảm dần. Trong đó, hai yếu tố được cho là đã dẫn đến những chao đảo kéo dài về lạm phát. Thứ nhất, thực phẩm và những hàng hóa khác chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu dùng tại các EME, đây là những nhóm hàng có mức độ biến động giá cả khá cao. Thứ hai, khung khổ và thể chế chính sách tiền tệ tại các EME chậm phát triển và hiệu lực thấp. Từ năm 2004, diễn biến lạm phát tại nhiều EME có xu hướng tương đương với diễn biến lạm phát tại các nước phát triển, mặc dù đứng ở mức cao hơn.
Về nguyên nhân dẫn đến lạm phát, kỳ vọng lạm phát dài hạn là yếu tố chủ yếu tác động đến mức lạm phát tại EMEs trong giai đoạn từ năm 2004 đến quý I/2018. Trong đó, lạm phát kỳ vọng thường cao hơn lạm phát mục tiêu, với mức chênh lệch (giữa lạm phát kỳ vọng và lạm phát mục tiêu) giảm trung bình 0,7% trong giai đoạn 2004-2014. Xu hướng này được giải thích phần nào qua chênh lệch GDP giữa các nước, kỳ vọng lạm phát có tác dụng hỗ trợ tăng lạm phát thời kỳ bùng nổ kinh tế 2004-2007 và giảm lạm phát trong thời kỳ khủng hoảng 2008-2009.
Mặc dù những thay đổi về kỳ vọng lạm phát dài hạn là yếu tố cơ bản dẫn đến sự chệch hướng của lạm phát thực tế so với lạm phát mục tiêu, giữa các EME có sự khác biệt rất lớn. Khoảng 50% số EMEs ghi nhận tác động đáng kể của kỳ vọng lạm phát đến lạm phát thực tế; khoảng ¾ số EMEs dựa vào diễn biến giá cả bên ngoài để giảm áp lực lạm phát trong nước, mặc dù chỉ mang lại hiệu quả thấp. Trong giai đoạn 2004-2018, các yếu tố chu kỳ chỉ gây tác động rất nhỏ. Cụ thể là, các chính sách trong nước là tác nhân chủ yếu và lâu dài của diễn biến lạm phát. Trái lại, các yếu tố bên ngoài thường chỉ gây tác động tạm thời tùy theo đặc điểm của mỗi nước (khoảng 5-15%), và sau đó có thể tan biến dần.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, kỳ vọng lạm phát dài hạn là yếu tố chú đạo dẫn dắt lạm phát tại các EME, và sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ nhất định với mức độ neo lạm phát kỳ vọng. Tại những nước chỉ neo kỳ vọng lạm phát dài hạn ở mức thấp, lạm phát kỳ vọng thường tăng cao trước tác động của những cú sốc, cản trở các hoạt động kinh tế và gây khó khăn cho chính sách tiền tệ. Việc áp dụng biện pháp thắt chặt tiền tệ để đối phó với xu hướng gia tăng lạm phát kỳ vọng có thể đẩy nền kinh tế vào tình cảnh khó khăn hơn. Kỳ vọng lạm phát cũng trở nên trầm trọng, nếu nới lỏng tiền tệ để thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Như vậy, NHTW tại những nước chỉ neo kỳ vọng lạm phát ở mức thấp thường lúng túng trong việc khắc phục những khó khăn về kinh tế.
Trong bối cảnh điều kiện tài chính toàn cầu ngày càng thắt chặt và đang đẩy nhiều đồng tiền mới nổi mất giá, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, các EME cần điều chỉnh lạm phát tương đối và tạm thời tăng lạm phát theo kỳ vọng. Trong trường hợp kỳ vọng ổn định, không nên phá vỡ tính ổn định của giá cả. Về tác động chính sách, các chuyên gia cho rằng, khung khổ chính sách tiền tệ và tài khóa trong nước có thể tác động đáng kể đến hiệu quả kinh tế và lạm phát, giúp các nhà tạo lập chính sách đối phó với những cú sốc từ bên ngoài thông qua tác động ngày càng mở rộng của việc neo kỳ vọng lạm phát. Các EME không thể chỉ đơn thuần quan sát những tác động của toàn cầu hóa và điều kiện tài chính tại các nước phát triển. Trong hai thập kỷ qua, các EME đã thành công trong việc giảm lạm phát xuống mức thấp và ổn định, nhờ cải thiện khung khổ chính sách tiền tệ và tài khóa. Khả năng duy trì được thành quả này trong những năm tới sẽ tùy thuộc vào các cam kết tiếp theo của các nhà tạo lập chính sách trong việc cải thiện tính bền vững của khung khổ tài khóa dài hạn, bao gồm chấp nhận các quy định tài khóa, tăng cường dự trữ và các gói tài chính dự phòng trong trường hợp cần thiết.
Một vấn đề cần quan tâm là cam kết tăng cường quyền lực của NHTW theo hướng củng cố và tăng dần tính độc lập của NHTW, nâng cao tính minh bạch, kịp thời và cở mở thông tin. Trong ngữ cảnh đó, cần lưu ý là nợ công tại các EME đã tăng mạnh trong thập kỷ qua và dự báo tiếp tục tăng trong 5 năm tới tại những nền kinh tế lớn. Tại nhiều nước, lạm phát không ổn định đã làm gia tăng áp lực từ xu hướng mất giá bản tệ và lạm phát ngắn hạn. Điều này cho thấy, chưa thể lạc quan với kết quả ổn định lạm phát trong thời gian qua, mà phải tiếp tục cải thiện khung khổ chính sách tài khóa và tiền tệ.
Kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh, việc neo các kỳ vọng lạm phát đòi hỏi phải có thời gian, đòi hỏi các nhà tạo lập chính sách tại các EME phải củng cố và tiếp tục mở rộng phạm vi neo kỳ vọng lạm phát, ngay cả trong điều kiện kinh tế thuận lợi.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 10/2018