Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ thâm nhập hoạt động ngân hàng trong dân cư thấp nhất trong các quốc gia ASEAN (dưới 30%), đặc biệt là nhóm dân cư có thu nhập thấp, năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020 (Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011). Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án này đã cho thấy sự quan tâm và đánh giá đúng mức của Đảng, Nhà nước đối với vai trò của tài chính vi mô trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Sau hơn 7 năm triển khai Đề án, hoạt động của hệ thống tài chính vi mô đã có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần tích cực nâng cao đời sống người dân, nhất là ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, những tồn tại, thách thức và triển vọng trong phát triển hệ thống tài chính vi mô cần được quan tâm đánh giá đầy đủ, toàn diện để tiếp tục định hướng phát triển hệ thống này trong giai đoạn mới khi năm 2020 đã gần kề nhằm hỗ trợ hiệu quả hơn nữa người nghèo, người có thu nhập thấp, đặc biệt là phụ nữ nghèo cải thiện đời sống
Từ khóa: tài chính vi mô (TCVM); xóa đói, giảm nghèo; phụ nữ
Theo thông lệ quốc tế, TCVM cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo, người có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ, bao gồm: huy động tiền gửi (tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện), cho vay, thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm vi mô, thuê mua đối với một số phương tiện lao động trực tiếp... cùng với một số dịch vụ phi tài chính như đào tạo quản lý tài chính và kinh doanh, đào tạo và phổ biến các kiến thức liên quan đến sản xuất, nghề nghiệp, thông tin thị trường...
Thực trạng...
Tại Việt Nam, hoạt động TCVM bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 1980 thông qua các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức song phương và đa phương với mục đích chung là xóa đói, giảm nghèo. Đầu những năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một chương trình xóa đói, giảm nghèo quốc gia, trong đó tín dụng được coi là một trong những công cụ chiến lược. Việc cấp tín dụng có trợ cấp của Chính phủ được thực hiện thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội (trước đây là Ngân hàng phục vụ người nghèo) và các chương trình cho vay ưu đãi có mục đích do Bộ Lao động Thương binh và xã hội triển khai thực hiện. Theo đó, tại Việt Nam, TCVM được cung cấp theo 3 khu vực, gồm:
Khu vực các tổ chức tài chính, bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, tổ chức tài chính quy mô nhỏ do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp phép với sản phẩm chủ yếu là tín dụng vi mô và nhận tiết kiệm. Điểm mạnh của khu vực này là các tổ chức tài chính có bề dày kinh nghiệm, có khả năng quản trị, điều hành, được NHNN quản lý, giám sát và hỗ trợ trong những trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, do tín dụng vi mô là những món vay nhỏ, chi phí quản lý cao nên ngân hàng và hệ thống quỹ tín dụng nhân dân không mặn mà triển khai mảng hoạt động này.
Khu vực các tổ chức phi chính phủ, bao gồm các tổ chức phi chính phủ và các chương trình được thành lập bởi các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, Quỹ từ thiện và Quỹ xã hội. Khu vực này được đánh giá là tiếp cận được nhiều người nghèo hơn với các sản phẩm tài chính phù hợp hơn cho người nghèo so với khu vực chính thức. Tuy nhiên, việc tổ chức, quản lý, sở hữu nằm ở nhiều cấp khác nhau nên có nhiều bất cập, hạn chế.
Khu vực khác bao gồm các hoạt động cá nhân theo nhóm lẻ thông qua các hình thức như hụi/họ, vay mượn họ hàng, bạn bè, láng giềng hoặc đi vay của người cho vay lãi, vay cầm đồ... Các quan hệ này được xác định là quan hệ dân sự và mọi tranh chấp được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Sau một thời gian phát triển, vai trò của TCVM dần được khẳng định. Tuy nhiên, bản chất của TCVM vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và đồng đều ở các cấp, các ngành. Theo đó, TCVM vẫn chỉ được coi là tín dụng vi mô mang tính ưu đãi, bao cấp dành cho người nghèo. Xuất phát từ nhận thức này mà trong một thời gian dài vị trí của TCVM trong hệ thống tài chính - ngân hàng chưa được nhìn nhận đúng mức và chưa được khuyến khích phát triển theo hướng bền vững (không cần trợ cấp để bù lỗ). Từ góc độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng, Việt Nam vẫn là một trong những nước có tỷ lệ thâm nhập hoạt động ngân hàng trong dân cư thấp nhất trong các quốc gia ASEAN (dưới 30%), đặc biệt là nhóm dân cư có thu nhập thấp.
Để mở rộng phạm vi tiếp cận dịch vụ ngân hàng, tạo điều kiện cho nhóm đối tượng dân cư có thu nhập thấp được vay vốn mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực, giải pháp nhằm phát triển an toàn, bền vững hệ thống TCVM trên phạm vi cả nước. Đến năm 2005, khuôn khổ pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động của loại hình tổ chức TCVM được Chính phủ ban hành tại Nghị định 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007) đã bước đầu khẳng định vai trò, vị thế của tổ chức TCVM trong hệ thống tài chính - ngân hàng. Đến năm 2010, Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc hội Khóa XII thông qua ngày 16/06 tại kỳ họp thứ 7 đã coi tổ chức TCVM là một trong các loại hình tổ chức tín dụng (cùng với loại hình ngân hàng, TCTD phi ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân).
Năm 2011, để phát huy vai trò của TCVM trong trung và dài hạn, Chính phủ đã ban hành Đề án tổng thể xây dựng và phát triển an toàn, bền vững hệ thống TCVM tại Việt Nam (Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011) với một hệ thống các giải pháp tương đối đồng bộ, gồm: (1) Xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động TCVM; (2) Nâng cao năng lực hoạch định chính sách và quản lý của cơ quan quản lý nhà nước; (3) Nâng cao năng lực của tổ chức TCVM; (4) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về TCVM; (5) Các giải pháp hỗ trợ về nguồn vốn, cơ sở đào tạo, cơ sở dữ liệu chung, hình thành Hiệp hội TCVM... Sau hơn 7 năm triển khai thực hiện Đề án, quá trình xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đã đạt những bước tiến quan trọng.
Môi trường pháp lý được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn với đặc thù hoạt động TCVM
Sau khi Luật các TCTD năm 2010 được thông qua và tổ chức TCVM chính thức được công nhận là một loại hình TCTD, các văn bản hướng dẫn về hoạt động của tổ chức TCVM đã từng bước được hoàn thiện, như: quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ, thuế, các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động... Riêng trong 6 tháng đầu năm 2018, có 3 văn bản quan trọng được ban hành mới, gồm: quy định mới về việc cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức TCVM (Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/2/2018); quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận những thay đổi của tổ chức TCVM (Thông tư số 10/2018/TT-NHNN ngày 12/03/2018); hướng dẫn chế độ tài chính đối với tổ chức TCVM (Thông tư số 18/2018/TT-BTC ngày 12/02/2018). Dự kiến 6 tháng cuối năm 2018, NHNN và BTC sẽ tiếp tục ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành một số quy định quan trọng khác, như: mức vốn pháp định đối với tổ chức TCVM (NHNN đã trình Chính phủ trong tháng 6/2018), quy định về mạng lưới của tổ chức TCVM (NHNN sẽ ban hành trong tháng 12/2018), quy định về triển khai bảo hiểm vi mô của các tổ chức chính trị - xã hội (sẽ trình Chính phủ trong tháng 8/2018 để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 10/2018).
Quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động TCVM của các chương trình, dự án TCVM của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành (Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg ngày 12/6/2017) nhằm khuyến khích, tạo điều kiện chuyển đổi các chương trình, dự án TCVM quy mô lớn thành tổ chức TCVM và tăng cường hoạt động giám sát, quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương đối với hoạt động TCVM..
Với hành lang pháp lý hiện nay, hoạt động của các tổ chức TCVM và các chương trình, dự án TCVM sẽ được quản lý chặt chẽ hơn và được tạo điều kiện phát triển an toàn, bền vững, minh bạch và hiệu quả hơn.
Năng lực hoạch định chính sách và quản lý của cơ quan quản lý nhà nước được chú trọng tăng cường với nhiều hoạt động hỗ trợ song phương và đa phương đến từ các tổ chức tài chính quốc tế và các quốc gia có hoạt động TCVM phát triển. Trong đó, có 02 Dự án Hỗ trợ kỹ thuật do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ gồm Dự án “Chính sách và tư vấn Hỗ trợ phát triển ngành TCVM” và Dự án “Tăng cường năng lực hoạt động và giám sát ngành TCVM” trực tiếp hỗ trợ việc xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng về TCVM cho cán bộ, công chức, viên chức NHNN và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu.
Năng lực của tổ chức TCVM và các chương trình, dự án TCVM được nâng cao
Các chương trình, dự án TCVM của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ được Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố, các Sở, ban, ngành quan tâm tạo điều kiện hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đăng ký hoạt động hoặc chuyển đổi sang tổ chức TCVM theo đúng quy định tại Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg.
Công tác quản lý, giám sát hoạt động TCVM và công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về TCVM được các cấp, các ngành quan tâm, tăng cường, nhờ đó hoạt động của các tổ chức TCVM và các chương trình, dự án TCVM đạt hiệu quả và đảm bảo an toàn, lành mạnh, tuân thủ quy định của pháp luật; nhận thức của các hội viên về TCVM ngày càng được cải thiện.
Công tác phối hợp giữa các tổ chức chính trị - xã hội có chương trình, dự án TCVM với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra sử dụng vốn tại các hộ vay, xử lý nợ đối với các khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan được nâng cao. Công tác củng cố, kiện toàn các tổ vay vốn, tổ tiết kiệm, chấn chỉnh các tổ yếu kém, hoạt động không hiệu quả được thường xuyên chú trọng.
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về TCVM trong toàn xã hội được các cấp, các ngành và các cơ quan truyền thông, báo chí quan tâm thực hiện với nhiều hình thức phong phú, đa dạng giúp người dân hiểu rõ về vai trò, lợi ích của TCVM; chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các quy định của pháp luật về phát triển TCVM; cách thức và thủ tục tiếp cận dịch vụ TCVM... Nhờ đó, vai trò hoạt động của TCVM trong phát triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo đã được các cấp, các ngành và các tổ chức chính trị - xã hội nhìn nhận đầy đủ, đúng đắn, toàn diện hơn và được quan tâm, tạo điều kiện phát triển hơn.
Về nguồn vốn cho hoạt động TCVM: Để tạo điều kiện về nguồn vốn cho hoạt động TCVM, các Bộ, ngành đã có nhiều cơ chế, chính sách thiết thực, trong đó Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hỗ trợ các tổ chức TCVM tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi thông qua việc tích cực khai thác, tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nguồn vốn ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), ADB, ... UBND các tỉnh, thành phố đã quan tâm bố trí kinh phí để bổ sung nguồn vốn hoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội có chương trình, dự án TCVM trên địa bàn; tích cực vận động, thu hút nguồn tài trợ, viện trợ nước ngoài cho hoạt động TCVM...
Kết quả hoạt động TCVM:
(1). NHNN đã cấp phép hoạt động cho 04 tổ chức TCVM, gồm Tổ chức TCVM Tình thương (TYM), Tổ chức TCVM M7, Tổ chức TCVM Thanh Hóa (Thanh Hóa MFI) và Tổ chức TCVM cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP). Hoạt động của các tổ chức này có sự tăng trưởng khá ổn định với tổng vốn chủ sở hữu đến cuối năm 2017 đạt khoảng1.376,2 tỷ đồng, tăng 327,4% so với cuối năm 2016. Tổng vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng đạt khoảng 2.699,15 tỷ đồng, tăng 185% so với cuối năm 2016, trong đó: vốn huy động từ tiết kiệm bắt buộc là 1.187 tỷ đồng, tiết kiệm tự nguyện là 1.512 tỷ đồng. Tổng dư nợ cho vay đạt khoảng 4.662,6 tỷ đồng, chiếm 88,6% tổng tài sản có, tăng 236,4% so với cuối năm 2016, tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Kết quả này cho thấy các sản phẩm tiết kiệm của các tổ chức TCVM đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và khẳng định uy tín, sự tin cậy của các tổ chức TCVM đối với các thành viên.
Với đặc điểm ưu việt của loại hình TCVM là hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên có thu nhập thấp với hình thức cho vay tín chấp thông qua bảo lãnh của nhóm khách hàng vay vốn (5 đến 7 người trở lên) nên khi có khách hàng trong nhóm gặp khó khăn chưa trả được nợ đến hạn, các thành viên còn lại sẽ hỗ trợ trả nợ. Phương thức trả gốc và lãi linh hoạt theo tuần, 2 tuần, tháng hoặc quý phù hợp với mục đích của từng khoản vay và chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức TCVM ở mức thấp 0,3% tổng dư nợ, kết quả kinh doanh đạt khá cao với thu nhập lớn hơn chi phí là 94,8 tỷ đồng trong năm 2017, tăng 108,7% so với năm 2016, trong đó CEP và TYM đạt 46,6 tỷ đồng và 41,3 tỷ đồng.
(2). Đến tháng 5/2018, có 438 chương trình, dự án TCVM hoạt động tại 56 tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong đó, có 402 chương trình, dự án TCVM do các tổ chức chính trị - xã hội trực tiếp quản lý, gồm: Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lý 325 chương trình, dự án; Hội Nông dân tỉnh quản lý 63 chương trình, dự án; Liên đoàn Lao động tỉnh quản lý 10 chương trình, dự án; Đoàn Thanh niên tại địa phương quản lý 03 chương trình, dự án; Hội Cựu chiến binh tỉnh quản lý 01 chương trình. Có 35 chương trình, dự án TCVM do UBND tỉnh, thành phố cấp phép hoạt động; 15 chương trình, dự án TCVM được NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận đăng ký theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg1 và 11 chương trình, dự án khác đang được xem xét để cấp giấy chứng nhận.
Số liệu thống kê về hoạt động của 374 chương trình, dự án cho thấy: Số lượng khách hàng được tiếp cận dịch vụ khoảng 537.489 thành viên và hộ gia đình; Tổng vốn chủ sở hữu khoảng 1.029 tỷ đồng; Tổng vốn huy động khoảng 726 tỷ đồng; Tổng dư nợ cho vay khoảng 2.988 tỷ đồng.
Với 325 chương trình, dự án do Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lý cho thấy đối tượng phụ nữ nghèo và phụ nữ có thu nhập thấp là đối tượng chủ yếu mà các chương trình, dự án TCVM hướng tới. Điều này cho thấy Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tạo điều kiện giúp phụ nữ nghèo và phụ nữ có thu nhập thấp tiếp cận dễ dàng với hoạt động TCVM nhằm tự tin cải thiện đời sống, tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh và khẳng định vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Những kết quả đạt được cho thấy hoạt động TCVM tiếp tục khẳng định được vai trò quan trọng trong việc gia tăng mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp, góp phần quan trọng thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Với các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt (từ 5.000 đồng/tuần trở lên) và các khoản vay nhỏ, thủ tục nhanh gọn, thời hạn và lịch hoàn trả linh hoạt, các tổ chức, chương trình, dự án TCVM đã giúp người nghèo, người có thu nhập thấp dễ dàng tiếp cận dịch vụ tài chính hiệu quả để cải thiện đời sống và tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, hoạt động TCVM còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc khi khách hàng TCVM được thụ hưởng nhiều dịch vụ phi tài chính đa dạng như chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm sản xuất kinh doanh; nâng cao kiến thức về sức khỏe, dân số, kế hoạch hóa gia đình; khám và tư vấn sức khỏe, trao tặng học bổng và nhà tình nghĩa cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn... Đặc biệt, sự tham gia tích cực của các tổ chức Hội và đoàn thể đã giúp tăng cường đoàn kết trong cộng đồng dân cư và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về an sinh xã hội.
...Thách thức
Mặc dù đã đạt được những kết quả rất khả quan nhờ sự nỗ lực vào cuộc của các cấp, các ngành vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính cho người nghèo và người có thu nhập thấp, nhưng hoạt động TCVM tại Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ. Cụ thể:
Thứ nhất, mặc dù các Bộ, Ngành, UBND tỉnh, thành phố, các tổ chức có liên quan đã có sự đánh giá, nhìn nhận đúng mức hơn về vai trò của TCVM nhưng vẫn chưa quan tâm nắm bắt đầy đủ, chính xác kết quả hoạt động của các chương trình, dự án TCVM. Các chương trình, dự án vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, hoạt động tự phát, không thống nhất, được cấp phép, quản lý bởi các đơn vị khác nhau (UBND các cấp, Hội Phụ nữ các cấp, Hội Nông dân các cấp…) nên công tác quản lý còn thiếu tập trung, công tác phối hợp còn nhiều bất cập dẫn đến việc kiểm tra, giám sát và xây dựng, ban hành các văn bản điều chỉnh đối với hoạt động TCVM còn chậm.
Thứ hai, Mặc dù khuôn khổ pháp lý hiện hành áp dụng cho hoạt động TCVM đã được xây dựng tương đối đầy đủ nhưng quá trình triển khai trong thực tiễn vẫn còn một số bất cập. Một số quy định cần tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện, đảm bảo phù hợp với đặc thù hoạt động TCVM, nhất là các quy định liên quan đến việc quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài; quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; quy định tổ chức và hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; quy định về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ...
Thứ ba, Hiệp hội TCVM chưa được thành lập để thực hiện vai trò là tổ chức đại diện, làm đầu mối hỗ trợ đào tạo, tư vấn cho các tổ chức TCVM, chương trình, dự án TCVM một cách có hệ thống...
Thứ tư, tỷ lệ người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp tại Việt Nam khá cao nên nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống của các thành viên từ các tổ chức TCVM và chương trình, dự án TCVM ngày càng lớn trong khi việc tăng trưởng nguồn vốn của các chương trình, dự án TCVM gặp khó khăn do vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hạn hẹp, nguồn vốn ưu đãi, vốn huy động từ các tổ chức, cơ quan, đoàn thể còn hạn chế; nhiều chương trình, dự án phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ. Khó khăn về nguồn vốn đã khiến nhiều chương trình, dự án TCVM có quy mô hoạt động nhỏ bé, thiếu chuyên nghiệp và chưa có tầm lan tỏa sâu rộng.
Thứ năm, khu vực TCVM không chính thức (bao gồm hoạt động cá nhân theo nhóm lẻ thông qua các hình thức như hụi/họ, vay mượn họ hàng, bạn bè, láng giềng hoặc đi vay của người cho vay lãi, vay cầm đồ...) tiềm ẩn nguy cơ về lãi suất cao quá sức chịu đựng của người vay và rủi ro mất an toàn vốn cho người tham gia gửi tiền, gây ảnh hưởng đến đời sống của người nghèo và người có thu nhập thấp cũng như an ninh, trật tự tại các địa phương.
Và triển vọng...
Với một quốc gia vẫn còn khoảng 9 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ khoảng 7% dân số và khả năng tiếp cận tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp vẫn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới thì dư địa cho hoạt động TCVM còn rất lớn. Với một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh và nỗ lực tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới của Chính phủ Việt Nam, hoạt động TCVM đang có cơ hội ngày càng hoàn thiện về mô hình, tổ chức hoạt động và cách thức quản lý hiệu quả để phát triển an toàn, bền vững hơn.
Cho đến nay, con số 4 tổ chức TCVM được NHNN cấp phép hoạt động và 35 chương trình, dự án TCVM do UBND tỉnh, thành phố cấp phép hoạt động, 15 chương trình, dự án TCVM được NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận đăng ký theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg trong số 438 chương trình, dự án TCVM đang hoạt động tại 56 tỉnh, thành phố trên cả nước là một con số quá khiêm tốn trong một thị trường còn rất nhiều triển vọng như Việt Nam.
TCVM hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo tại Việt Nam được Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương và Hội Liên hiệp Phụ nữ quan tâm phát triển vì mục tiêu cải thiện đời sống, nâng cao nhận thức, vai trò và vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Những kết quả tích cực trong thời gian qua và xu hướng phát triển trong thời gian tới sẽ tạo động lực, đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động TCVM của Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả vượt bậc hơn trong thời gian tới, tiến gần hơn đến các thông lệ, chuẩn mực quốc tế và phù hợp với điều kiện phát triển thực tế của Việt Nam.
Như vậy, với một Đề án tổng thể xây dựng và phát triển an toàn, bền vững hệ thống TCVM tại Việt Nam trong dài hạn và 75% chương trình, dự án TCVM dành cho phụ nữ do Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lý, có thể thấy rằng Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đặc biệt coi trọng vai trò của TCVM trong hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp nói chung và phụ nữ nghèo, phụ nữ có thu nhập thấp nói riêng cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo bền vững. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hoạt động TCVM nói chung và TCVM hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo nói riêng. Vấn đề đặt ra là trong thời gian tới, Chính phủ cần tổng kết lại quá trình triển khai Đề án trong giai đoạn 2010-2020 và hiệu quả hoạt động thực sự của các tổ chức TCVM cũng như các chương trình dự án TCVM trong phạm vi cả nước để có chiến lược phát triển hiệu quả, an toàn, bền vững phù hợp với tình hình của giai đoạn tiếp theo.
Khuyến nghị và đề xuất
Thứ nhất, để tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp xây dựng, phát triển hoạt động TCVM theo Quyết định 2195/QĐ-TTg giai đoạn (2016-2020), các cơ quan quản lý nhà nước cần triển khai mạnh mẽ các nhiệm vụ trong giai đoạn II (2016-2020) đã xác định tại Quyết định 2195/QĐ-TTg, trong đó:
Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương
NHNN cần xây dựng, ban hành các quy định để tạo điều kiện liên kết hoạt động của các loại hình tổ chức tín dụng với hoạt động của các tổ chức TCVM; đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị xã hội đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận đăng ký các chương trình, dự án TCVM đang hoạt động theo quy định tại Điều 21, Quyết định 20/2017/QĐ-TTg.
Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục triển khai hoạt động TCVM và tập trung nguồn vốn dành cho TCVM.
Bộ Kế hoạch và đầu tư hỗ trợ các chương trình, dự án TCVM, tổ chức TCVM được cấp phép tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi khác, được hưởng nguồn vốn dành cho xóa đói, giảm nghèo từ các tổ chức, cá nhân; Xây dựng chính sách khuyến khích phát triển tài chính vi mô trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế của đất nước.
Bộ Nội vụ nghiên cứu, trình Chính phủ sửa đổi các quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội nhằm hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển của hoạt động TCVM; trình Chính phủ để trình Quốc hội Luật về Hội.
UBND tỉnh, thành phố quản lý sát sao và nắm bắt đầy đủ tình hình hoạt động của các chương trình, dự án TCVM trên địa bàn để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn hoạt động của các chương trình, dự án.
Chính phủ cần sớm triển khai tổng kết tình hình Đề án trong giai đoạn 2010-2020 để đánh giá đầy đủ hiệu quả hoạt động thực sự của các tổ chức TCVM cũng như các chương trình dự án TCVM trong phạm vi cả nước để có chiến lược phát triển hiệu quả, an toàn, bền vững phù hợp với tình hình của giai đoạn tiếp theo.
Đối với tổ chức TCVM và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ
Với việc Chính phủ và NHNN ban hành các quy định mới về tổ chức và hoạt động của tổ chức TCVM (Thông tư số 03/2018/TT-NHNN) và các chương trình, dự án TCVM (Quyết định 20/2017/QĐ-TTg), các tổ chức TCVM và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ cần tập trung rà soát tình hình tổ chức, hoạt động TCVM của tổ chức mình để có sự điều chỉnh, hoàn thiện theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả, bền vững, không vì mục tiêu lợi nhuận và góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống của người nghèo và người có thu nhập thấp. Trong đó, đến nay mới có 15/428 chương trình, dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động là số lượng quá khiêm tốn trong khi Quyết định 20/2017/QĐ-TTg đã có hiệu lực từ ngày 1/8/2017.
Thứ hai, năm 2020 đã đến gần, Chính phủ cần sớm tổng kết quá trình triển khai Đề án trong giai đoạn 2010-2020 để đánh giá những kết quả đã đạt được, đúc rút kinh nghiệm và xây dựng một chiến lược phát triển tổng thể dài hơi tiếp theo cho loại hình TCVM để loại hình này tiếp tục đóng góp tích cực hơn vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong đó cần chú trọng một số vấn đề cơ bản: tiếp tục chuẩn hóa mô hình tổ chức hoạt động của các tổ chức TCVM, các chương trình, dự án TCVM thông qua việc hoàn thiện hành lang pháp lý vừa khuyến khích sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống TCVM, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với loại hình này; tiếp tục chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến để gúp người dân, đặc biệt là người dân nghèo nâng cao khả năng hiểu biết và dễ dàng tiếp cận với loại hình tài chính này nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của người dân Việt Nam.
Thứ ba, với những thách thức và triển vọng phát triển như đã nêu ở trên và hành lang pháp lý mới, các tổ chức TCVM và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ có chương trình, dự án TCVM cần có chiến lược, kế hoạch phát triển trong thời gian tới phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước, trong đó cần chú trọng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới phù hợp với đặc thù của Việt Nam và các sản phẩm phi tài chính để hỗ trợ ngày càng hiệu quả hơn cho người nghèo và người có thu nhập thấp, mà trong đó đối tượng thụ hưởng phần lớn là phụ nữ./.
Phòng Nghiên cứu tổng hợp - Văn phòng NHNN
Tài liệu tham khảo
1 NHNN chi nhánh tỉnh Bắc Kạn cấp 04 Giấy chứng nhận; NHNN chi nhánh tỉnh Cần Thơ cấp 02 Giấy chứng nhận; NHNN chi nhánh các tỉnh Sơn La, Hà Nam, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Trà Vinh, Bến Tre, Gia Lai, Lào Cai, Quảng Trị cấp 01 Giấy chứng nhận.