Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố công trình nghiên cứu dưới tiêu đề “Đẩy lùi Rủi ro tăng trưởng” với mục tiêu đưa ra đánh giá đầy đủ về triển vọng kinh tế các nước đang phát triển tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP).
Báo cáo nêu rõ, trong sáu tháng đầu năm 2019, kinh tế các nước đang phát triển tại EAP chỉ tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng trưởng 6,5% trong sáu tháng đầu năm 2018. Nguyên nhân là do nhu cầu bên ngoài yếu ớt và chính sách thương mại bất ổn đã ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu và niềm tin của doanh nghiệp, hoạt động đầu tư trầm lắng. Tại Trung Quốc, căng thẳng thương mại với Mỹ ngày càng leo thang đã trầm trọng thêm vòng xoáy giảm tốc GDP. Tại những nước chủ chốt khác trong khu vực, GDP cũng tăng chậm và kết quả phục hồi hoạt động công nghiệp trong những tháng đầu năm chỉ mang tính ngắn hạn. Tại những nước nhỏ, kinh tế sáu tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng khá cao, do một số khu vực kinh tế hấp dẫn như du lịch, bất động sản đạt mức tăng trưởng cao, nhưng còn cách biệt nhất định với thế giới bên ngoài. Mặc dù GDP giảm tốc, EAP vẫn dẫn dắt tăng trưởng GDP toàn cầu, do nền tảng kinh tế bền vững.
Dự báo GDP tại EAP
|
Thực tế và dự báo |
Thay đổi* |
||||||
|
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2019 |
2020 |
Toàn cầu |
2,6 |
3,2 |
3,0 |
2,5 |
2,5 |
2,6 |
-0,2 |
-0,3 |
Các EMDE |
4,1 |
4,5 |
4,3 |
3,7 |
4,2 |
4,4 |
-0,5 |
-0,4 |
Các nước phát triển |
1,7 |
2,4 |
2,2 |
1,6 |
1,4 |
1,4 |
-0,1 |
-0,2 |
Các nước đang phát triển EAP |
6,4 |
6,5 |
6,3 |
5,8 |
5,7 |
5,6 |
-0,2 |
-0,3 |
Trung Quốc |
6,7 |
6,8 |
6,6 |
6,1 |
5,9 |
5,8 |
-0,1 |
-0,3 |
Những nước đang phát triển khác |
5,0 |
5,3 |
5,2 |
4,9 |
4,9 |
5,0 |
-0,3 |
-0,3 |
Các nước đang phát triển ASEAN |
5,0 |
5,4 |
5,3 |
4,8 |
5,0 |
5,0 |
-0,4 |
-0,3 |
Indonesia |
5,0 |
5,1 |
5,2 |
5,0 |
5,1 |
5,2 |
-0,2 |
-0,2 |
Malaysia |
4,4 |
5,7 |
4,7 |
4,6 |
4,6 |
4,6 |
-0,1 |
0,0 |
Philippines |
6,9 |
6,7 |
6,2 |
5,8 |
6,1 |
6,2 |
-0,6 |
-0,4 |
Thái Lan |
3,3 |
3,9 |
4,1 |
2,7 |
2,9 |
3,0 |
-1,1 |
-1,0 |
Campuchia |
7,0 |
7,0 |
7,5 |
7,0 |
6,8 |
6,8 |
0,0 |
-0,1 |
CHDCND Lào |
7,0 |
6,9 |
6,3 |
6,5 |
6,7 |
6,6 |
-0,1 |
0,0 |
Myanmar |
6,0 |
6,8 |
6,5 |
6,6 |
6,7 |
6,8 |
0,1 |
0,1 |
Mông Cổ |
1,4 |
5,4 |
6,8 |
6,9 |
6,3 |
5,9 |
-0,3 |
-0,6 |
Fiji |
2,6 |
5,2 |
4,2 |
2,7 |
3,0 |
3,0 |
-0,7 |
-0,3 |
Papua New Guinea |
4,1 |
2,7 |
-0,5 |
5,6 |
3,1 |
3,5 |
0,5 |
0,0 |
Quần đảo Solomon |
3,2 |
3,7 |
3,9 |
2,7 |
2,9 |
2,7 |
-0,2 |
0,1 |
Timor-Leste |
5,1 |
-3,5 |
-1,1 |
4,2 |
4,6 |
4,9 |
0,3 |
0,0 |
Giá dầu thế giới (USD/thùng) |
43 |
53 |
68 |
62 |
60 |
61 |
-2,0 |
-5,0 |
Giá hàng hóa khác (2010 = 100%) |
79 |
84 |
85 |
81 |
81 |
82 |
-2,0 |
-4,0 |
Giá thực phẩm (2010 = 100%) |
90 |
90 |
90 |
86 |
86 |
87 |
-2,0 |
-3,0 |
Nguồn: WB tháng 10/2019
(*): Tăng/giảm so với dự báo tháng 4/2019
Trên toàn cầu, GDP được dự báo giảm từ kết quả tăng 3,0% trong năm 2018 xuống mức tăng trưởng 2,5% trong năm 2019, phản ánh tình trạng ảm đạm tại các nước phát triển và các EMDE (các nước mới nổi và đang phát triển) chủ chốt. GDP tại các nước phát triển giảm từ kết quả tăng 2,2% trong năm 2018 xuống mức tăng trưởng trung bình 1,5% trong ba năm 2019-2021, trong khi GDP tại các EMDE giảm từ kết quả tăng 4,3% trong năm 2018 xuống mức tăng trưởng 3,7% trong năm 2019, sau đó phục hồi lên mức tăng trưởng 4,3% trong 2 năm 2020-2021.
Theo xu hướng chung toàn cầu, GDP tại các nước đang phát triển EAP được dự báo cũng sẽ giảm dần từ mức tăng trưởng 6,3% trong năm 2018 xuống mức tăng trưởng lần lượt 5,8%; 5,7%; 5,6% trong ba năm 2019-2021. Tại hầu hết các quốc gia EAP, mức tăng trưởng này thấp hơn so với dự báo đưa ra hồi tháng 4/2019, nguyên nhân là do rủi ro tăng trưởng thấp đã gây thiệt hại về vật chất và ngày càng gia tăng. Trong số này, WB đã hạ dự báo GDP tại Trung Quốc xuống mức tăng trưởng 6,1% trong năm 2019, sau đó tiếp tục giảm xuống mức tăng 5,9% trong năm 2020 và 5,8% trong năm 2021, phản ánh những hạn chế rất lớn về cơ cấu, bao gồm lực lượng lao động giảm dần, hiệu quả đầu tư và năng suất thấp, trong khi điều kiện bên ngoài không còn thuận lợi như trước đây. Tương tự, GDP tại những nước đang phát triển khác trong khu vực cũng sẽ tăng thấp trong năm 2019, trước khi phục hồi dần trong những năm sau đó. Trong khi đó, GDP tại các nước nhỏ có dấu hiệu tăng nhẹ trong năm 2019, phản ánh điều kiện đặc thù của mỗi nước trong nhóm quốc gia này.
Do kinh tế tăng thấp, các biện pháp xóa đói giảm nghèo cũng trở nên khó khăn hơn. Trong năm 2019, tỷ lệ đói nghèo tại EAP tăng trở lại lên 24,0%, cao hơn so với tỷ lệ đưa ra tại dự báo tháng 4/2019 là giảm xuống 23,7%. Với ngưỡng thu nhập tối thiểu 5,5 USD/ngày theo chuẩn nghèo năm 2011, tỷ lệ nghèo tăng trở lại đã khiến số người nghèo tại EAP tăng thêm 6,6 triệu người. So với dự báo tháng 4/2019, báo cáo cập nhật cũng nâng tỷ lệ đói nghèo thêm 0,6% trong năm 2020 và thêm 0,8% vào năm 2021.
Các chuyên gia nhận định, rủi ro tăng trưởng thấp ngày càng hiện hữu, bắt nguồn từ bốn nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung có nguy cơ ngày càng leo thang, tiếp tục tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế các nước EAP, do bất ổn thương mại sẽ cản trở các hoạt động đầu tư. Rối loạn thương mại kéo dài có thể dẫn đến việc định hình lại bức tranh thương mại toàn cầu, đặt ra những cơ hội và thách thức cho những nước đang phát triển khác trong khu vực. Tuy nhiên, tính cứng nhắc tương đối của các chuỗi giá trị toàn cầu sẽ giới hạn những lợi ích tiềm năng mà các nước láng giềng có thể thu được trong ngắn hạn. Trong khi các doanh nghiệp sẽ tránh các mức thuế quan của Mỹ bằng cách chuyển sang những quốc gia khác, năng lực tiếp nhận của các nước đang phát triển khác tại EAP còn rất hạn chế do quy mô nhỏ và hạ tầng chưa đầy đủ. Vì thế, các nước khác trong khu vực không dễ thay thế được Trung Quốc trong giai đoạn ngắn hạn và trung hạn.
Thứ hai, kinh tế toàn cầu có thể sẽ tiếp tục giảm tốc, nguyên nhân là do GDP tại các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Mỹ, châu Âu tăng chậm hơn so với kỳ vọng, tiến trình Brexit chưa rõ ràng. Kinh tế toàn cầu giảm tốc sẽ hạn chế nhu cầu về hàng hóa xuất khẩu từ các nước EAP, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nếu kinh tế giảm sâu, giá cả hàng hóa sẽ giảm đáng kể, gây tác động tiêu cực đến các nước xuất khẩu hàng hóa. Cùng với vòng xoáy giảm tốc kinh tế, sự kiện Brexit có thể sẽ làm suy yếu các mắt xích thương mại giữa khu vực EAP và Vương quốc Anh, ảnh hưởng trực tiếp đến các nước nhỏ trong khu vực, do nhiều quốc gia trong số này phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu hàng hóa, lượng khách du lịch và đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, hầu hết các nước nhỏ trong khu vực sẽ mất khả năng tiếp cận thị trường và đối mặt với mức thuế cao khi thâm nhập thị trường Vương quốc Anh.
Thứ ba, khu vực EAP vẫn dễ tổn thương trước những rủi ro, một khi điều kiện tài chính toàn cầu thay đổi đột ngột. Diễn biến không mong đợi trong những tháng gần đây, bao gồm những tranh cãi về thương mại, căng thẳng địa chính trị, lo lắng về suy thoái kinh tế, đã dẫn đến những bất ổn trên thị trường tài chính. Các đồng tiền mới nổi tiếp tục đối mặt với áp lực mất giá khi các nhà đầu tư tái cân bằng danh mục đầu tư theo hướng chuyển sang tài sản an toàn như trái phiếu kho bạc Mỹ. Lợi suất trái phiếu tăng cao và hậu quả là chi phí vay vốn tăng cao, các doanh nghiệp sẽ hạn chế vay vốn, tình hình kinh tế sẽ ngày càng khó khăn. Hơn nữa, khủng hoảng tại những nước bên ngoài EAP như Argentina, có thể sẽ tái bùng phát những lo lắng về nguy cơ lan truyền rủi ro, dòng vốn vào có thể sẽ đảo chiều đột ngột.
Thứ tư, nợ nần ở mức cao và ngày càng tăng tại một số nước sẽ cản trở các nỗ lực điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa. Trong đó, những nước có nợ trong nước ở mức cao sẽ đối mặt với khó khăn do lãi suất thấp sẽ khiến nợ nần tăng cao. Tại Trung Quốc, các nhà hoạch định chính sách đã mở rộng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng động thái này có thể sẽ trầm trọng thêm những rủi ro trong nước do giải pháp này sẽ đẩy số đòn bẩy trong doanh nghiệp và các hộ gia đình tiếp tục tăng cao. Tại Malaysia và Thái Lan, nợ các hộ gia đình ở mức cao đã buộc ngân hàng trung ương phải sử dụng các biện pháp đặc biệt về quản lý vĩ mô thận trọng để kiềm chế mức độ nợ nần.
Để đẩy lùi rủi ro, những nước còn dư địa chính sách cần sử dụng các công cụ chính sách để hỗ trợ tăng trưởng. Trong bối cảnh đầu tư tư nhân và nhu cầu bên ngoài yếu ớt, những nước còn dư địa tài khóa có thể mở rộng các chương trình tài khóa để thúc đẩy kinh tế trong nước; những nước còn dư địa giảm lãi suất và tỷ lệ dữ trữ bắt buộc cần sử dụng chính sách tiền tệ thận trọng, hạn chế đòn bẩy tín dụng doanh nghiệp và hộ gia đình. Trước áp lực mở rộng chi tiêu ngân sách, các nước cần cải thiện chất lượng chi tiêu và đảm bảo bền vững tài khóa, tuân thủ kỷ luật ngân sách và tập trung nguồn vốn cho những chương trình có hiệu quả cao, riêng các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương cần có biện pháp quản lý thận trọng và kiểm soát chi tiêu theo mục tiêu trung hạn. Trong giai đoạn trung hạn và dài hạn, các nước cần đẩy mạnh cải cách cơ cấu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy thương mại và đầu tư, khuyến khích đổi mới để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: WB tháng 10/2019