a) Tên Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các ngân hàng thương mại - Thực tiễn và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam, Mã số: ĐTNH.024/16.
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS. Bùi Tín Nghị, Giám đốc Học viện Ngân hàng.
- Thư ký: ThS. Phạm Mạnh Hùng;
- Các thành viên: PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh; ThS. Nguyễn Huy Tựa; ThS. Nguyễn Thị Minh Ngân; ThS. Mai Văn Anh; TS. Đặng Thị Thu Hằng; TS. Nguyễn Quỳnh Thơ; ThS. Nguyễn Đức Dũng.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của ngân hàng thương mại; Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các ngân hàng thương mại Việt Nam và chính sách quản lý; Khuyến nghị cải thiện hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 10/2016.
- Thời gian kết thúc: Tháng 01/2018.
e) Kinh phí thực hiện: 215,022 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu hệ thống hoá cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngòai của các NHTM để đề xuất hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM, Đề tài ĐTNH.024/16 được cấu trúc thành 03 chương với các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của NHTM, gồm: lý thuyết về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của NHTM, chiến lược của các NHTM trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của NHTM; kinh nghiệm về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM trên thế giới. Qua đó, nhóm nghiên cứu rút ra một số bài học cho Việt Nam như:
(i) các NHTM cần hiểu rõ bối cảnh đầu tư ra nước ngoài; nên hướng hoạt động đầu tư đến những thị trường quen thuộc, có nét tương đồng với thị trường trong nước; nên thăm dò, từng bước tiếp cận thị trường; cần xác định thế mạnh của mình về sản phẩm dịch vụ, xác định phân khúc khách hàng mục tiêu; cần có chiến lược đầu tư cụ thể, cẩn trọng; nên tăng cường liên kết, chia sẻ kinh nghiệm với các NHTM trong nước, hỗ trợ nhau để cùng hoạt động.
(ii) Đối với các cơ quan quản lý: Chính phủ cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tổng thể về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam; Thành lập các tổ chức xúc tiến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; Các cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam ở nước ngoài cần tham gia hiệu quả hơn nữa trong việc hỗ trợ xúc tiến các dự án đầu tư ra nước ngoài, xây dựng các chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài như biện pháp cho vay ưu đãi, vốn cổ phần, xuất khẩu tín dụng, kích thích thuế; cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quan...
Chương 2 của đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM Việt Nam và vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM. Nội dung nghiên cứu cho thấy, đến ngày 30/6/2017, có 07 TCTD Việt Nam thành lập được 13 chi nhánh, công ty con hoạt động tại 6 nước. Nhìn chung chiến lược đầu tư ra nước ngoài của các NHTM Việt Nam có một số điểm chung cơ bản sau đây: (i) rất thận trọng khi triển khai đầu tư; (ii) lựa chọn đầu tư ở những nền kinh tế thuộc khu vực lân cận; (iii) nhắm tới khách hàng là các Việt kiều, nhân viên Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài, các tầng lớp dân cư có nhu cầu giao thương với Việt Nam; (iv) lựa chọn thành lập văn phòng đại diện, công ty con ở nước ngoài để thực hiện chiến lược tăng trưởng; (v) hướng tới việc phân tán rủi ro, tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các NHTM đầu tư ra nước ngoài đã đạt được một số thành công như: sức cạnh tranh của các NHTM Việt Nam từng bước được nâng cao; kết quả kinh doanh khả quan; thích nghi tốt với môi trường hoạt động tại nước ngoài; bộ máy tổ chức và quản trị phục vụ công tác đầu tư ra nước ngoài ngày càng được hoàn thiện; hỗ trợ cho các nhiệm vụ bảo đảm an ninh, quốc phòng, ngoại giao của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các công ty con, chi nhánh ở nước ngoài vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, hạn chế như: Họat động chủ yếu dựa vào vốn của ngân hàng mẹ; Khả năng mở rộng tín dụng sang các đối tượng khách hàng tại nước sở tại còn nhiều hạn chế; Có hiện tượng tập trung cho vay lớn đối với một hoặc một số khách hàng; Thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các quy định pháp luật của nước sở tại; Đối mặt với nhiều rủi ro trong hoạt động; Chính sách hỗ trợ của Chính phủ còn nhiều bất cập; Thiếu sự liên kết giữa các NHTM Việt Nam, thiếu sự hỗ trợ của các hiệp hội đầu tư tài chính cho các NHTM...
Chương 3 của đề tài đưa ra các phân tích, khuyến nghị cải thiện hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM Việt Nam. Theo nhóm nghiên cứu, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại cho các NHTM trong nước lợi thế trong việc đa dạng hóa thị trường, cơ hội huy động vốn ngoại tệ, mở rộng nguồn thu dịch vụ ... Tuy nhiên, các ngân hàng cũng phải đối mặt với một số thách thức như: Sự cạnh tranh trong môi trường quốc tế rất cao; hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với trong nước do khó khăn về nguồn thông tin; môi trường văn hóa, kinh doanh và pháp lý có nhiều điểm khác biệt, cần nhiều thời gian làm quen và tiếp cận đầy đủ. Do vậy, nhóm nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM Việt Nam, gồm:
(i) Các NHTM cần có chiến lược cụ thể cho việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; nỗ lực đáp ứng các yêu cầu pháp lý của các quốc gia sở tại thông qua việc tìm hiểu các quy định pháp lý về hoạt động ngân hàng của NHTW nước sở tại, chủ động kết nối với các ngân hàng địa phương để tìm hiểu về hoạt động thể chế chính trị và vận hành của hệ thống pháp luật; nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường quốc tế thông qua nâng cao năng lực tài chính, phát triển mạng lưới, xây dựng thương hiệu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và đảm bảo an ninh hệ thống, xây dựng mạng lưới khách hàng, phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm dịch vụ...
(ii) Hoạt động quản lý nhà nước cần chú trong xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của NHTM; Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN thông qua các hoạt động chia sẻ thông tin, giám sát hoạt động với cơ quan chủ quản tại nước sở tại, tăng cường các biện pháp giám sát, tăng cường tương tác với các ngân hàng mẹ, xem xét xây dựng bộ phận chuyên trách đánh giá rủi ro chính trị, rủi ro cấu trúc ngành theo từng quốc gia; hợp tác trao đổi thông tin với NHTWW quốc gia sở tại; từng bước xây dựng và hoàn thiện các công cụ thanh tra, giám sát mới... NHNN cần tăng cường phối hợp quản lý với Bộ Kế hoạch & Đầu tư trong việc đánh giá cơ chế, chính sách, hỗ trợ thông tin, phối hợp với Bộ Ngoại giao trong việc xúc tiến việc thành lập các bộ phận chuyên trách đảm nhận việc quản lý hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nói chung, các NHTM nói riêng ở nước ngoài.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi./.