1. Kiến nghị 1:“Về đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt: Để thực hiện tốt chỉ đạo của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, đề nghị NHNN xem xét, tăng cường chỉ đạo các Ngân hàng thương mại đẩy mạnh việc liên kết, hợp tác, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, công nghệ và mở rộng dịch vụ giao dịch không sử dụng tiền mặt, nhất là triển khai điển hình trong khu vực các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp (khuyến khích lực lượng cán bộ, công chức, viên chức), nhân rộng ra khu vực doanh nghiệp và Nhân dân tích cực thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt (tiền lương, điện, nước, cước viễn thông,...), đẩy mạnh giao dịch qua hệ thống ngân hàng”.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời như sau:
Triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và định hướng đến năm 2021, thời gian qua, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tích cực triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy TTKDTM trong lĩnh vực công, cụ thể:
- Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ phục vụ TTKDTM nói chung và thanh toán điện tử trong lĩnh vực công nói riêng. Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, phát huy vai trò là Hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán liên ngân hàng trong toàn quốc.
- Đầu tư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hệ thống ngân hàng lõi (core banking), chủ động xây dựng chương trình kết nối trao đổi thông tin dữ liệu với các đơn vị cung ứng dịch vụ công tạo thuận lợi cho khách hàng TTKDTM đối với phí dịch vụ công; Đầu tư công nghệ, cải tiến quy trình để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán ứng dụng công nghệ hiện đại và tiện ích (dịch vụ trích nợ tự động, thanh toán qua QR Code, thanh toán qua điện thoại di động, Internet, công nghệ thẻ phi tiếp xúc, Ví điện tử…) cho phép khách hàng có nhiều sự lựa chọn và thuận tiện hơn trong thực hiện các giao dịch thanh toán (không chỉ tại quầy, điểm bán hàng, trong giờ làm việc mà có thể thực hiện mọi nơi, mọi lúc,..).
- Lắp đặt thiết bị chấp nhận thẻ, thanh toán ứng dụng QR cho phép phụ huynh, học sinh, người bệnh sử dụng các thiết bị di động, thẻ ngân hàng để thanh toán; Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin cho phép trả tiền học phí, viện phí thông qua các sản phẩm dịch vụ thanh toán tiện ích của ngân hàng.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về TTKDTM, giáo dục tài chính; tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ thanh toán.
NHNN cũng đã báo cáo Chính phủ khó khăn trong triển khai do nhiều bệnh viện, trường học chưa có chuẩn kỹ thuật, phần mềm và dữ liệu tập trung nên khó kết nối với ngân hàng để thanh toán điện tử, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy TTKDTM trong lĩnh vực y tế, giáo dục1. Văn phòng Chính phủ cũng đã có văn bản giao Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế,.. UBND tỉnh, thành phố chỉ đạo, triển khai các công việc liên quan; Ngày 20/9/2019, NHNN đã phối hợp với Bộ Y tế tổ chức Hội nghị trực tuyến đẩy mạnh thanh toán điện tử trong lĩnh vực y tế và xây dựng tài liệu kỹ thuật hướng dẫn kết nối TTKDMT trong y tế. Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị 12/CT-BYT ngày 02/10/2019 chỉ đạo về đẩy mạnh triển khai thanh toán chi phí dịch vụ y tế không dùng tiền mặt.
Với những nỗ lực nêu trên, hoạt động thanh toán tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm, tiện ích ngân hàng mới, hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin; việc thúc đẩy TTKDTM đối với dịch vụ công đã đạt được những kết quả tích cực:
- Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được vận hành hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt2.
- Hạ tầng kỹ thuật và công nghệ phục vụ TTKDTM, nhất là thanh toán điện tử, thanh toán thẻ phát triển, mạng lưới ATM, POS phủ sóng đến tất cả các địa bàn tỉnh, thành phố trên cả nước với 18.862 máy ATM, hơn 269.713 máy POS. Hạ tầng thanh toán của các ngân hàng thời gian qua đã kết nối, tích hợp và hỗ trợ phần lớn các giao dịch thanh toán cho dịch vụ của ngành Hải quan, Thuế, Điện lực,...và đang được tiếp tục triển khai, mở rộng tới các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ (bao gồm các đơn vị cung ứng dịch vụ công) khác trong nền kinh tế.
- Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đã được kết nối với toàn bộ 63 KBNN cấp tỉnh trong cả nước, đáp ứng được nhu cầu thu, chi ngân sách của người dân và doanh nghiệp một cách nhanh chóng, kịp thời; có khoảng 50 ngân hàng hoàn thành kết nối thanh toán thuế điện tử với thuế, hải quan trên 63 tỉnh/thành phố, 95% số thu hải quan được thực hiện qua ngân hàng; 99% doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử; 27 ngân hàng và 10 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phối hợp thu tiền điện, doanh thu tiền điện của EVN thanh toán qua ngân hàng lên tới gần 90%; 30 bệnh viện đã kết nối triển khai thanh toán viện phí điện tử, một số bệnh viện đã đạt 35% số lượng giao dịch thanh toán viện phí không dùng tiền mặt...
- Hoạt động thanh toán được mở rộng cả về quy mô và chất lượng, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ hiện đại, mang lại nhiều trải nghiệm và lợi ích cho khách hàng. Đến nay, đã có 78 ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua kênh Internet Banking và 47 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua kênh Mobile Banking; 17 ngân hàng, 9 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán triển khai dịch vụ thanh toán qua QR Code, toàn thị trường có hơn 50.000 điểm chấp nhận thanh toán qua QR Code. Hầu hết các ngân hàng đã và đang xây dựng, triển khai công nghệ 4.0, phân tích dữ liệu lớn (Big Data), Công nghệ chuỗi khối (Blockchain); trí tuệ nhân tạo (AI),… Ngành ngân hàng đã xây dựng kho dữ liệu, hạ tầng số tập trung, chuẩn hóa, cho phép chia sẻ, tích hợp tạo hệ sinh thái số trải rộng nhiều ngành, lĩnh vực như: hệ sinh thái mobile banking kết nối với dịch vụ công, tài chính, viễn thông, điện lực, giao thông, y tế… nhờ đó trên điện thoại di động khách hàng có thể sử dụng được nhiều tiện ích hơn so với giao dịch trực tiếp tại ngân hàng3.
Tiếp thu kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Ngãi, NHNN sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động thanh toán, sự phát triển các dịch vụ thanh toán mới; đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng các công nghệ, phương thức thanh toán hiện đại; thúc đẩy hơn nữa thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ công.
2. Kiến nghị 2:“Về thẩm định tài sản để thực hiện cho vay đề nghị NHNN tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện đúng quy định pháp luật, phù hợp với thực tế (giá trị thực của tài sản thế chấp) trước khi cho vay; chủ động thực hiện việc xử lý nợ xấu theo quy định; có cơ chế xem xét khoanh nợ, miễn, giảm một phần lãi suất thi hành án cho người phải thi hành án; tích cực phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc xử lý tài sản (tìm kiếm người mua tài sản bán đấu giá, nhận tài sản để khấu trừ nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 104 Luật thi hành án dân sự); chủ động thỏa thuận với người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án (theo chỉ đạo của NHNN tại Công văn số 268/NHNN-PC và Công văn số 269/NHNN-PC ngày 10/01/2019)”.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời như sau:
2.1. Chỉ đạo của NHNN liên quan đến công tác thẩm định TSBĐ:
Đối với các TCTD, việc thẩm định khả năng đáp ứng các điều kiện của khách hàng, trong đó có thẩm định tài sản bảo đảm (TSBĐ) là một khâu quan trọng, không thể thiếu trong quá trình cấp tín dụng. Khoản cấp tín dụng có tài sản bảo đảm hợp pháp, khả năng phát mại tốt, giá trị được định giá sát với thực tế sẽ góp phần hạn chế rủi ro gia tăng nợ xấu của TCTD. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thẩm định TSBĐ, trong thời gian qua, NHNN đã chủ động rà soát, ban hành, cập nhật đầy đủ và kịp thời các quy định pháp luật4 về TSBĐ và yêu cầu các TCTD nghiêm túc thực hiện5.
Mặc dù qua công tác thanh tra, kiểm tra các TCTD vẫn phát hiện một số tồn tại liên quan đến công tác thẩm định TSBĐ (như: hồ sơ TSBĐ chưa đầy đủ; chưa thực hiện giám sát chặt chẽ, định giá TSBĐ định kỳ theo quy định...), nhưng về tổng thể các TCTD đã có sự cố gắng, tích cực trong công tác tổ chức bộ máy; ban hành, chuẩn hóa các quy trình, quy định nội bộ về TSBĐ để thực hiện trên toàn hệ thống.
Tiếp thu ý kiến của cử tri, NHNN sẽ tiếp tục bám sát hoạt động của các TCTD để có chỉ đạo kịp thời; duy trì, nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định tín dụng, thẩm định TSBĐ phù hợp với thực tế, đảm bảo an toàn hoạt động.
2.2. Về xử lý nợ xấu:
Nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác xử lý nợ xấu tại các TCTD, NHNN đã có nhiều văn bản6 chỉ đạo các TCTD tập trung thực hiện các nhiệm vụ, cụ thể:
+ Tích cực, chủ động và có biện pháp kiểm soát việc triển khai thực hiện xử lý nợ xấu, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nói chung, Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (Nghị quyết số 42/2017/QH14) nói riêng. Đặc biệt, trong quá trình bán nợ xấu theo giá trị thị trường phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, thu hồi tối đa giá trị tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, giảm tổn thất về tài sản cho ngân hàng, bảo đảm tối đa lợi ích hợp pháp của các cổ đông.
+ Tiếp tục quán triệt chỉ đạo các bộ phận liên quan thực hiện rà soát, đánh giá cụ thể từng khoản nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 nhằm nhận diện đầy đủ thực trạng nợ xấu, đặc biệt là các khoản nợ xấu lớn (bao gồm các khoản nợ xấu đã hạch toán ngoại bảng), tài sản bảo đảm cho các khoản nợ này, khả năng thu hồi, nguyên nhân, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu hồi nợ xấu. Trên cơ sở đó, áp dụng toàn diện các giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 nhằm xử lý nhanh, hiệu quả các khoản nợ xấu.
+ Chủ động phối hợp tích cực với chính quyền địa phương và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan công an, tòa án, thi hành án các cấp để nhận được sự hỗ trợ tốt nhất trong quá trình xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng và hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; tích cực triển khai các biện pháp kiểm soát nợ nhằm hạn chế nợ xấu phát sinh; nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng; tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ.
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD tiếp tục được xử lý, kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3% (đến cuối tháng 9/2019 là 1,95%). Tính từ năm 2012 đến cuối tháng 9/2019, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 988,93 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 648,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,6% tổng nợ xấu xử lý, còn lại là bán nợ (bao gồm bán nợ cho VAMC và tổ chức, cá nhân khác) chiếm 34,4%. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu của hệ thống TCTD ở mức 4,7%, giảm mạnh so với mức 10,08% cuối năm 2016, mức 7,36% cuối năm 2017 và mức 5,85% cuối năm 2018.
Về kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14: Lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 9/2019, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được khoảng 247,1 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42; trong đó: (i) xử lý nợ xấu nội bảng là 144,9 nghìn tỷ đồng; (ii) xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết số 42 là 50,0 nghìn tỷ đồng; (iii) xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 52,1 nghìn tỷ đồng.
2.3. Về phối hợp thi hành án:
Ngày 18/3/2015, NHNN và Bộ Tư pháp ký kết Quy chế số 01/QCLN/NHNNVN-BTP về việc phối hợp giữa NHNN và Bộ Tư pháp trong công tác thi hành án dân sự (Quy chế 01). Với sự nỗ lực, tích cực chỉ đạo của 02 ngành đã phát huy tối đa vai trò quan trọng trong công tác phối hợp, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, tạo chuyển biến tích cực trong công tác thi hành án dân sự liên quan đến tín dụng, ngân hàng.
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả Quy chế 01, khắc phục những tồn tại, hạn chế và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, NHNN có văn bản số 268/NHNN-PC và 269/NHNN-PC ngày 10/01/2019 chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các TCTD.
Tiếp thu kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Ngãi, NHNN tăng cường công tác quản lý, thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về cho vay, thẩm định TSBĐ, tăng cường hiệu quả công tác thu hồi nợ, góp phần hạn chế, ngăn ngừa nợ xấu phát sinh; tiếp tục chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các TCTD tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Quy chế 01.
Trên đây là ý kiến trả lời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Ngãi. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cử tri đối với hoạt động ngân hàng./.
1 CV số 5070/NHNN-TT ngày 02/7/2019.
2 Từ năm 2015 đến nay, tốc độ xử lý của hệ thống liên tục có sự tăng trưởng qua các năm, bình quân khoảng 28,3%/năm về số lượng và 17,4%/năm về giá trị (9 tháng đầu năm 2019, tăng 19,8% về số lượng và 30,2% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ).
3 Tính từ năm 2015 đến nay, tốc độ tăng trưởng giao dịch qua điện thoại di động bình quân tăng 61,47%/năm về số lượng và 144,7%/năm về giá trị (8 tháng đầu năm 2019 tăng 110,9% về số lượng và 147,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018). Theo khảo sát của PwC, Việt Nam là thị trường tăng trưởng nhanh nhất về thanh toán di động trong năm 2018 với tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng thiết bị di động để thanh toán hàng hóa dịch vụ đã tăng từ 37% lên 61%.
4 Khoản 2, Điều 94 Luật Các TCTD năm 2010; Điều 6 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013; Điều 17 và Điều 22 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016; Điều 32 và Điều 36 Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018.
5 - Chỉ thị số 07/CT-NHNN ngày 11/10/2017, yêu cầu TCTD triển khai quyết liệt các giải pháp phòng, chống, ngăn ngừa các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng một cách có hiệu quả, đặc biệt là các vi phạm quy định về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (thẩm định hồ sơ vay vốn; kiểm tra phương án kinh doanh, trả nợ; kiểm tra quản lý tài sản thế chấp; kiểm tra hồ sơ thế chấp, tài sản thế chấp; kiểm tra quản lý tài sản hình thành từ vay vốn...); vi phạm liên quan đến việc chưa ban hành đầy đủ các quy định/hướng dẫn nội bộ và quy định/quy trình kiểm soát, quản lý hồ sơ TSBĐ và các giấy tờ hồ sơ khác.
- Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 17/9/2018, NHNN tiếp tục yêu cầu các TCTD nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt, kiểm soát chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay, ngăn ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh.
- Công văn số 5876/NHNN-TTGSNH ngày 31/7/2019 yêu cầu các TCTD tập trung nâng cao chất lượng công tác thẩm định TSBĐ, định giá, quản lý TSBĐ; Rà soát, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định nội bộ về điều kiện cấp tín dụng, quy trình thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng, quản lý TSBĐ, định giá TSBĐ...; đánh giá thường xuyên đối với các TSBĐ có mức độ biến động giá trị nhiều để đánh giá chính xác khả năng thu hồi của các khoản nợ, bảo đảm trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ và có các biện pháp hiệu quả để xử lý, thu hồi nợ...
6 văn bản 8539/NHNN-TTGSNH ngày 12/11/2018 về việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định và nâng cao chất lượng tín dụng; văn bản 8425/NHNN-TTGSNH ngày 07/11/2018 về việc chỉ đạo TCTD tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu; văn bản 1968/NHNN-TTGSNH ngày 22/3/2019 về việc chỉ đạo TCTD tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu năm 2019...