Dịch Covid-19 đã gây cú sốc lớn đến kinh tế thế giới, buộc các nước phải thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội, đóng cửa trường học và phần lớn hoạt động kinh tế. Các quốc gia đã phải triển khai hàng loạt biện pháp chính sách tài khóa và tiền tệ chưa từng có, bước đầu đã phát huy hiệu quả hỗ trợ phục hồi kinh tế, đảm bảo ổn định cuộc sống người dân. Tuy nhiên, kinh tế toàn cầu vẫn đối mặt với nhiều rủi ro khi diễn biến của dịch bệnh còn phức tạp và có nguy cơ tái bùng phát tại nhiều nước trên thế giới. Cũng như phần còn lại trên thế giới, đại dịch đã tác động mạnh đến thu nhập và việc làm tại các nước EAP, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, nhờ ngăn chặn được đại dịch, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng dương và được kỳ vọng sẽ là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư trong tương lai.
Triển vọng kinh tế toàn cầu
Kể từ đầu năm 2020, thế giới bước vào những ngày tháng đầy khó khăn do đại dịch Covid-19 với số ca nhiễm bệnh và tử vong leo thang hàng ngày. Trong những ngày đầu tháng 4/2020, số ca bệnh giảm dần tại nhiều quốc gia, thắp lên niềm hy vọng là đại dịch sẽ sớm qua đi. Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 tiếp tục lan rộng và diễn biến khó lường. Tính đến ngày 03/11/2020, thế giới ghi nhận gần 47 triệu người mắc Covid-19, số ca nhiễm liên tục lập kỷ lục mới và chưa có dấu hiệu dừng lại. Tại nhiều quốc gia, mọi hoạt động kinh tế bị gián đoạn do các biện pháp phong tỏa để hạn chế sự lây lan. Mặc dù kinh tế được kỳ vọng sẽ phục hồi dần sau khi dịch bệnh được kiểm soát, nhưng nỗi lo về nguy cơ tái bùng phát và lây lan dịch Covid-19 chỉ có thể chấm dứt sau khi các loại vắc xin phòng chống Covid-19 được sử dụng an toàn và hiệu quả trong hệ thống y tế toàn cầu.
Trong Báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 10/2020, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã điều chỉnh dự báo GDP toàn cầu theo hướng lạc quan hơn so với dự báo hồi tháng 6, nhưng vẫn thu hẹp xuống mức tăng trưởng (-4,4%), sau đó sẽ phục hồi dần trong năm 2021 với mức tăng 5,2%. Tại các nền kinh tế phát triển (AEs), GDP được dự báo ở mức -5,8% trong năm 2020 - tăng 2,3% so với dự báo trước đó 4 tháng, chủ yếu là nhờ GDP quý II tại Mỹ và khu vực đồng euro tăng cao hơn so với kỳ vọng - và tăng 3,9% vào năm 2021. GDP các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (EMDEs) cũng được dự báo tăng trưởng (-3,3%), năm 2020 và tăng 6,0% năm 2021. Tại châu Á, kinh tế EMDEs sẽ cũng giảm (-1,7%) trong năm nay, sau đó phục hồi đạt mức 8,0% vào năm 2021. Trong đó, GDP Trung Quốc được dự báo tăng 1,9% (2020) và 8,2% (2021).
Trong trung hạn 2020-2025, GDP toàn cầu được dự báo tăng khoảng 3,5%. Trong đó, GDP của AEs được dự báo tăng trưởng 1,7%; GDP của EMDEs là 4,7% vào năm 2025, thấp hơn kết quả tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2000-2019. Rủi ro tăng trưởng thấp hơn ngày càng hiện hữu, khi số ca nhiễm Covid-19 hàng ngày tăng tốc lên 500 nghìn người vào cuối tháng 10. Năng suất và tổng sản lượng kinh tế sẽ sụt giảm hơn nhiều so với những cuộc khủng hoảng đã xảy ra trong quá khứ.
Báo cáo của IMF nhận định, kinh tế trong trung hạn phụ thuộc vào khả năng điều chỉnh và vận hành theo hướng thích nghi với tình hình giãn cách xã hội để đối phó với Covid-19 và hậu quả của nó (bao gồm tác động đến tình trạng phá sản, thiếu hụt lao động, những rào cản trong việc tái phân bổ nguồn lực). Điều này có thể kéo theo những thay đổi đáng kể về cơ cấu, bao gồm việc bố trí lại các nguồn lực khỏi những khu vực bị thu hẹp hoạt động do các biện pháp giãn cách xã hội, thay đổi địa điểm làm việc theo tiêu chuẩn an toàn mới, chấp nhận những thành tựu công nghệ mới để chuyển sang làm việc trực tuyến. Do các doanh nghiệp phải điều chỉnh mô hình sản xuất và phân phối, trong khi người tiêu dùng phải thích ứng với mô hình tiêu dùng mới (như tăng cường mua sắm trực tuyến), những thay đổi này được kỳ vọng sẽ gây tác động lâu dài lên sản lượng tiềm năng tại các quốc gia trên thế giới.
Trên toàn cầu, áp lực lạm phát có thể tăng cao do các biện pháp giãn cách xã hội buộc người dân phải tăng cường tích lũy hàng tiêu dùng thiết yếu, và chi phí sản xuất tăng cao. Ngoài ra, chính sách tiền tệ nới lỏng cũng có thể đẩy giá cả tăng cao. Tuy nhiên, thị trường kỳ vọng lạm phát sẽ trầm lắng tại các AEs, dao động ở mức thấp, được dự báo tăng 0,8% trong năm 2020 và 1,6% trong năm 2021, sau đó sẽ ổn định ở mức 1,9%. Tại EMDEs, lạm phát được kỳ vọng tăng 5% trong năm nay, giảm xuống 4,7% trong năm 2021 và sau đó giảm nhẹ xuống mức 4,0%.
Trong năm nay, thương mại toàn cầu được dự báo sẽ giảm 10,4% so với năm trước - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu về hàng hóa vốn và hàng tiêu dùng giảm, phản ánh nhu cầu cuối cùng yếu ớt của người dân và doanh nghiệp do kinh tế ngày càng khó khăn. Trong khi đó, các biện pháp hạn chế thương mại (như cung cấp các mặt hàng y tế) và rối loạn các chuỗi cung ứng chỉ tác động nhẹ đến suy thoái kinh tế lần này. Cùng với xu hướng phục hồi kinh tế toàn cầu, thương mại quốc tế được dự báo sẽ tăng 8% trong năm 2021, và tăng trung bình thêm 4%/năm trong những năm sau đó.
Tại Đông Á - Thái Bình Dương (EAP)
Cũng như phần còn lại trên thế giới, đại dịch đã gây thiệt hại nặng nề về thu nhập và việc làm tại EAP. Trong tháng 4 và 5/2020, doanh thu của các doanh nghiệp EAP giảm trung bình 38% và 58% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp lớn có khả năng phục hồi nhanh hơn nhóm SMEs, do phần lớn doanh nghiệp thuộc nhóm này bị tổn thương nhiều hơn và thiếu nguồn lực để thích ứng với xu hướng phát triển công nghệ số. Tại EAP, doanh thu hàng tháng của SMEs giảm hơn 7-23% so với nhóm doanh nghiệp lớn. Theo dự báo, khoảng 20 - 200 triệu việc làm bị mất do đại dịch vào nửa cuối của năm 2020.
Các nước EAP cũng bị tổn thất đáng kể do thương mại và du lịch giảm sút. Trong đó, các nước phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất để xuất khẩu dễ bị tổn thương trước những cú sốc về cung ứng, trong khi nhu cầu tiêu thụ suy giảm trên toàn cầu. Những nước như Mông Cổ và Lào phụ thuộc nặng nền vào xuất khẩu hàng hóa, nên dễ bị tổn thương do nhu cầu bên ngoài giảm thấp. Campuchia, Thái Lan và các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương phụ thuộc vào hoạt động du lịch.
Mặc dù điều kiện tài chính tại nhiều nước EAP đã cải thiện đáng kể, song những cú sốc bất ngờ và không có tiền lệ từ bên ngoài đang gây ra tâm lý đáng lo ngại. Bất ổn tài chính tăng cao, có thể tác động đến tình hình kinh tế EAP thông qua thị trường vốn, tín dụng, ngoại hối với mức độ tổn thương khác nhau, tùy thuộc vào tình hình thực tế của mỗi nước. Cầu bên ngoài giảm cũng sẽ tác động đến các nước EAP qua nhiều kênh khác nhau. Tại những quốc gia như Campuchia, Malaysia, Thái Lan,… nơi xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa chế biến thường đóng góp khoảng 30-70% GDP, có thể sẽ chịu tác động của xu hướng cầu giảm trên thị trường quốc tế đến hoạt động xuất khẩu và gián đoạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Giá hàng hóa giảm sâu sẽ tác động nghiêm trọng đến tình hình kinh tế Mông Cổ (do xuất khẩu chiếm trên 50% GDP) và nhiều nước xuất khẩu khác như Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Papua New Guinea, Thái Land, Timor-Leste,... Trong khi đó, Philippines và nhiều quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương phụ thuộc đáng kể vào các dòng kiều hối chuyển về.
Với mức độ hội nhập kinh tế thế giới khá sâu rộng, Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực do Covid-19 gây ra, khi thương mại toàn cầu ảm đạm, giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp, công nghiệp chế tạo có xu hướng tăng chậm lại, tác động của lạm phát và biến đổi khí hậu... Tuy nhiên, nhờ kiểm soát chặt chẽ đại dịch, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định với dự báo do IMF đưa ra là tăng 1,6% trong năm nay và tăng 6,7% trong năm 2021.
Trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu, Việt Nam quyết tâm thực hiện mục tiêu kép, vừa phát triển kinh tế vừa phòng chống dịch. Theo đó, nhiều chính sách quan trọng đã được Chính phủ, các Bộ, ngành nghiên cứu, ban hành để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội. Đáng chú ý là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã 03 lần điều chỉnh các mức lãi suất điều hành giúp doanh nghiệp và người dân có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để tái sản xuất, kinh doanh sau đại dịch; Chỉ đạo các TCTD gia hạn, giãn, hoãn các khoản nợ gốc, lãi đến hạn cho khách hàng, miễn giảm lãi, phí dịch vụ, đảm bảo đủ thanh khoản trên thị trường và nguồn cung tín dụng, tăng cường kiểm soát dòng vốn tín dụng để không đi vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro và không hạ thấp chất lượng để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. NHNN cũng chủ động thực hiện các giải pháp quản lý thị trường ngoại hối, thị trường vàng trước những biến động của thị trường tiền tệ - tài chính trong nước và thế giới.
Việt Nam cũng đã tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do (FTAs) đã ký kết để mở rộng giao thương quốc tế và tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới. Việc tham gia các FTA, nhất là hiệp định ký kết với Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực từ 01/08/2020 với các cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đã góp phần củng cố năng lực cạnh tranh và giúp Việt Nam mở rộng thị phần tại các thị trường đối tác. Tính đến tháng 10/2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 439,82 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 229,27 tỷ USD, tăng 4,7%; nhập khẩu đạt 210,55 tỷ USD, tăng 0,4%; cán cân thương mại hàng hóa đạt mức xuất siêu kỷ lục 18,72 tỷ USD.
Do dịch Covid-19 tiếp tục hoành hành và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, nhiều doanh nghiệp tại Trung Quốc đang cân nhắc dịch chuyển sang nước khác, trong đó có Việt Nam. Trong trung hạn, Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chuyển dịch khỏi Trung Quốc.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI vào Việt Nam tính đến ngày 20/10/2020 đạt 23,5 tỷ USD, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm trước, tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế chế tạo, kinh doanh bất động sản, sản xuất và phân phối điện. Trong số 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 5,4 tỷ USD, chiếm 46,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc (1,3 tỷ USD, chiếm 11,5%); Hàn Quốc (1,1 tỷ USD, chiếm 9,4%); Đài Loan (934,8 triệu USD, chiếm 8%); Đặc khu hành chính Hồng Công (909,4 triệu USD, chiếm 7,8%); Nhật Bản (471,9 triệu USD, chiếm 4%). Như vậy, sau một thời gian dài tăng mạnh, dòng vốn FDI của các nhà đầu tư từ Trung Quốc đã giảm xuống vị trí thứ hai với tổng lượng vốn đầu tư khá khiêm tốn, mặc dù vẫn cao hơn lượng vốn đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác. Điều này có thể cho thấy, kinh tế Trung Quốc đang bước vào thời kỳ khó khăn mới.
Trong ngắn hạn, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ sẽ tăng cao hơn, nhất là trong những lĩnh vực mà hàng Trung Quốc chịu mức thuế suất cao hơn như hàng điện tử, nội thất, túi xách, thủy sản. Trong 10 tháng đầu năm 2020, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 62,3 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước.
Sau Hoa Kỳ, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu thứ hai với kim ngạch đạt 37,6 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch trong 10 tháng đầu năm nay ước tính đạt 65,8 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn trầm trọng và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang, các chuyên gia trong và ngoài nước kỳ vọng Việt Nam sẽ là điểm đến hấp dẫn của doanh nghiệp đang hoạt động tại Trung Quốc chuyển sang.
Hoàng Thế Thỏa
(Tài liệu tham khảo: Bộ Công Thương: Đánh giá sơ bộ về hoạt động xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2020; Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2020; IMF: Các báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu (tháng 6 và tháng 10/2020), Báo cáo khái quát về ổn định tài chính toàn cầu (tháng 10/2020); WB: Báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế EAP (tháng10/2020), Thị trường hàng hóa toàn cầu và dự báo (tháng 10/2020))