Từ chính sách đến thực thi
Quãng đường cần ngắn lại
Đỗ Lê
Đã có nhiều chính sách được ban hành nhằm hỗ trợ các DN khắc phục khó khăn và khôi phục hoạt động từ đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, việc thực thi chưa đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng DN và đòi hỏi cần sớm có những đánh giá, điều chỉnh để nâng cao hiệu quả.
Chính sách kịp thời nhưng thực thi chưa hiệu quả
Với những biện pháp quyết liệt, kịp thời và phù hợp, đến thời điểm hiện tại, Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia đi đầu trong khống chế đại dịch Covid-19, và là một vài quốc gia hiếm hoi trong khu vực và trên thế giới duy trì được tăng trưởng kinh tế dương. Mặc dù vậy, tác động tiêu cực từ diễn biến dịch bệnh trên thế giới, từ những biện pháp đối phó với đại dịch Covid-19 trong nước đến các hoạt động kinh tế nói chung và cộng đồng DN nói riêng vẫn rất nặng nề. Hoạt động kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tới tháng 11/2020 có 15,4 nghìn DN đã hoàn tất thủ tục giải thể (tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2019) và số DN phải tạm dừng hoạt động kinh doanh tăng lên tới 44,4 nghìn DN (tăng 59,7% so với cùng kỳ năm 2019). Như vậy, trung bình mỗi tháng có hơn 5.400 DN phải tạm dừng hoạt động kinh doanh hoặc giải thể. Trong khi đó, số DN thành lập mới 11 tháng giảm 1,9% so với cùng kỳ - lần đầu tiên ghi nhận mức sụt giảm và đi ngược xu hướng DN thành lập mới luôn năm sau cao hơn năm trước trong cả giai đoạn 2014-2019.
Để khắc phục những tác động tiêu cực do Covid-19 gây ra, nhiều chính sách đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ. “Có thể nói, việc nhanh chóng ban hành các chính sách thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực rất lớn của Chính phủ và đã kịp thời cổ vũ, động viên tinh thần đối với cộng đồng DN Việt Nam. Một thông điệp vô cùng tích cực về sự đồng hành từ Chính phủ đã được lan tỏa tới cộng đồng kinh doanh”, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI nhận định, đồng thời cho biết, tuy nhiên việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ của DN chưa được như kỳ vọng. Điều này thể hiện qua một số ghi nhận nhanh từ VCCI.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban pháp chế của VCCI, với khoảng 95 văn bản hỗ trợ DN được ban hành từ cấp Trung ương tới các địa phương, các chính sách đã kịp thời đưa ra những giải pháp quan trọng và thiết thực giúp DN, tổ chức, cá nhân vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19. Điều này đã phát huy tác dụng nhất định, giúp DN có thêm nguồn lực về tài chính để vượt qua khó khăn. Tuy nhiên, phản ánh từ nhiều DN ở các khu vực kinh tế cho thấy, mức độ thuận lợi khi tiếp cận thông tin về chính sách hỗ trợ, mức độ hữu ích của chính sách hỗ trợ còn ở mức thấp. Nguyên nhân có thể do DN chưa biết đến thông tin về chính sách hỗ trợ, hoặc cũng có thể do chính sách hỗ trợ ban hành với nhiều yêu cầu, thủ tục. Trong đó, có không ít điều kiện, yêu cầu còn máy móc, cản trở việc tiếp cận của DN.
Nêu cụ thể về vấn đề này, ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam cho biết, các chính sách, chỉ đạo về hỗ trợ là rất đúng và kịp thời. “Nhưng phải nói thật là việc thực thi triển khai những chính sách đó lại vô cùng khó khăn và rất ít hiệu quả, như với ngành du lịch chúng tôi”, ông Bình nói và cho biết: “Ví dụ gói hỗ trợ cho lao động tự do không có việc làm thì rất ít người nhận được. Như tại TP. Hồ Chí Minh, có hơn 10 nghìn lao động hành nghề hướng dẫn viên tự do nhưng chỉ khoảng 20 người được nhận 1 triệu/tháng trong 3 tháng theo gói hỗ trợ đó, chưa kể một số người chỉ nhận được có 1 tháng duy nhất. Riêng tại Đà Nẵng, số lao động được nhận hỗ trợ này nhiều hơn, còn tại nhiều tỉnh, thành phố khác thì không ai được nhận”. Du lịch là ngành có tới 2,9 triệu lao động tính đến thời điểm trước dịch Covid và đang là một trong những ngành chịu thiệt hại nặng nề nhất hiện nay.
Làm rõ bất cập, vướng mắc và giải quyết nhanh
Để tăng hiệu quả hỗ trợ, ông Bình kiến nghị, một mặt cần xem lại tính khả thi của các chính sách hỗ trợ, đặc biệt là làm rõ các vấn đề như tại sao chính sách ban hành mà không thi hành được.
Ông Đậu Anh Tuấn đề xuất các cơ quan ban, ngành và địa phương cần nắm bắt kịp thời các bất cập, vướng mắc trong việc triển khai các gói hỗ trợ để điều chỉnh cho phù hợp. Cần tiếp tục thiết kế các hình thức hỗ trợ phù hợp với các DN ở từng ngành, lĩnh vực và trong từng giai đoạn. Trong đó, ưu tiên các DN có quy mô nhỏ, vừa bởi đây là đối tượng dễ chịu tác động và khả năng chống chịu kém nhất.
Theo ông Tuấn, tác động của dịch bệnh tới các ngành kinh tế có sự khác biệt rất lớn. Một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề (hàng không, du lịch…) song cũng có một số ngành có cơ hội phát triển tốt (công nghệ thông tin, thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát…), do đó, cần ngăn chặn ngay hiện tượng trục lợi từ chính sách.
Bên cạnh đó, cần kéo dài thời gian của các gói hỗ trợ để DN đủ thời gian hoàn các khoản được hoãn, giãn trong thời gian qua để kịp thời phục hồi sản xuất kinh doanh. Các chính sách hỗ trợ cần rõ ràng, minh bạch để bảo đảm DN, hộ kinh doanh và người lao động tiếp cận, hiểu rõ phạm vi, đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục để các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ đúng người, kịp thời. Cũng cần nới lỏng một số điều kiện nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng và giảm thiểu thủ tục, quy trình tiếp cận các gói hỗ trợ, đặc biệt là thủ tục chứng minh về tài chính… Ngoài ra, ông Tuấn cũng đề xuất cần rà soát, đánh giá lại một cách độc lập về hiệu quả thực sự của các chính sách hỗ trợ. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc tham vấn, lấy ý kiến của đối tượng tác động, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để đảm bảo tính khả thi của chính sách khi được ban hành.
Cùng quan điểm trên, TS. Lương Minh Huân, Viện trưởng Viện Phát triển DN (VCCI) cho rằng, cần nỗ lực nhiều hơn để đẩy mạnh cải cách thể chế kinh tế, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong kinh doanh bởi đây là những nền tảng quan trọng nhất để hỗ trợ DN vượt qua khó khăn của đại dịch. Bên cạnh đó, các DN mong muốn tăng quy mô và cách thức của các gói hỗ trợ tài khóa, tiền tệ, lao động nhưng phải thực hiện hiệu quả, minh bạch với sự giám sát của cộng đồng DN, các hiệp hội DN… Cùng với đó, chuyên gia này nhấn mạnh cần nhìn nhận Covid-19 là một cú huých để các DN trong nước nhận ra tính ưu việc của kinh tế số và yêu cầu chuyển đổi số cấp bách của DN.