Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Lạm phát kèm suy thoái sẽ ít có khả năng xảy ra

18/05/2022 18:47:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Theo Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), gián đoạn nguồn cung trên thị trường hàng hóa thế giới đã giá hàng hóa tăng cao và làm xói mòn tăng trưởng toàn cầu. Mức độ tăng trưởng khiêm tốn của các nhà xuất khẩu hàng hóa sẽ chỉ bù đắp một phần thiệt hại về sản lượng của các nhà nhập khẩu hàng hóa. Sự gia tăng giá cả hàng hóa cũng kéo theo áp lực lạm phát toàn cầu. Các tác động mạnh nhất đối với giá lương thực và năng lượng, nhưng có khả năng lan tỏa sang các thành phần khác của lạm phát. Các cú sốc gần đây có quy mô lớn và phạm vi rộng hơn so với cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970, tuy nhiên, những thay đổi về cấu trúc, cùng với các khuôn khổ chính sách mạnh mẽ hơn,… đã phát huy tác dụng khiến cho tình trạng lạm phát kèm suy thoái ít có khả năng quay trở lại.

Theo thống kê, cuộc chiến Nga - Ukraine đã khiến giá hàng hóa tăng vọt. Trong những tuần sau khi cuộc chiến bắt đầu, giá dầu đã tăng hơn 30% và giá khí đốt tự nhiên của châu Âu tăng hơn 60%. Giá thực phẩm và kim loại cũng tăng đột biến. Mức tăng này đã đạt mức đỉnh tăng giá của năm 2021 và cao hơn nhiều so với mức trước đại dịch. Mặc dù giá đã giảm bớt sau đó, nhưng vẫn ở mức cao trong lịch sử. Trong khi cuộc chiến Nga – Ukraine vẫn tiếp diễn, triển vọng cho thị trường hàng hóa vẫn không rõ ràng.

Giá cả hàng hóa tăng song hành với nguy cơ gián đoạn các nguồn cung chủ chốt. Nga và Ukraine có vai trò quan trọng trong nhiều thị trường hàng hóa, chiếm trên 10% sản lượng lúa mì và dầu mỏ toàn cầu, trên 20% lượng khí đốt tự nhiên của thế giới. Nga cũng là nguồn cung cấp các kim loại dùng để sản xuất máy bay, ô tô và chip máy tính. Sự thiếu hụt các kim loại này có thể dẫn đến tăng cường các nút thắt cổ chai. Cuộc chiến Nga- Ukraine đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng nông sản và sự thiếu hụt có thể tăng lên gấp nhiều lần, nhất là khi cơ sở hạ tầng vật chất và mùa mạng bị tàn phá. Trong khi đó, các biện pháp trừng phạt bổ sung đối với Nga có thể làm giảm nguồn cung các mặt hàng năng lượng, ít nhất là đối với một số thị trường.

Biến động và giá cả hàng hóa tăng cao gây rủi ro đáng kể đối với nền kinh tế toàn cầu. Các tác động sẽ được nhận thấy đối với cả lạm phát và tăng trưởng. Nhưng mức độ ảnh hưởng không đồng đều giữa các quốc gia, tùy thuộc vào việc họ là nhà xuất khẩu hay nhập khẩu các hàng hóa bị tác động và mức độ tác động của tăng giá đến thu nhập của hộ gia đình và doanh nghiệp. Trên thực tế, giá hàng hóa cao hơn có khả năng làm xói mòn tăng trưởng và đẩy lạm phát lên trong ngắn hạn. Tuy nhiên, việc nền kinh tế thế giới có lặp lại những gì đã diễn ra trong thập niên 1970 hay không phụ thuộc vào việc thị trường hàng hóa sẽ bị gián đoạn trong bao lâu cũng như mức độ hiệu quả của chính sách kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hiện nay.

Thoạt nhìn, có một số điểm tương đồng giữa những gián đoạn nguồn cung hiện nay với thập niên 1970. So với những năm 1970, giá hàng hóa tăng gần đây phần nào phản ánh nguồn cung sẵn có thấp hơn. Các áp lực này có thể tăng lên nếu việc nguồn cung phân bón giảm sút làm giảm năng suất cây trồng toàn cầu, đồng thời các lệnh trừng phạt đối với Nga sẽ thắt chặt dòng hàng hóa năng lượng sang các thị trường toàn cầu.

Theo nhiều đánh giá khác nhau, các sự kiện gần đây thậm chí còn phức tạp hơn thời kỳ những năm 1970. Trong khi sự tăng giá hàng hóa thập niên 1970 tập trung ở thị trường dầu mỏ thì sự tăng giá gần đây đã tác động đến nhiều loại hàng hóa như năng lượng, nông sản, hàng hóa và kim loại. Điều này cho thấy, mức tăng giá dầu những năm 1970 lớn hơn nhiều so với những năm gần đây: trong cuộc khủng hoảng năm 1973, giá dầu đã tăng hơn gấp đôi chỉ trong khoảng thời gian một tuần, trong cuộc khủng hoảng năm 1979, giá dầu cũng có mức tăng tương tự trong vòng một năm. Ngược lại, giá dầu gần đây tăng cao nhưng vẫn thấp hơn 50% so với giá đầu năm 2022 và tính theo giá thực tế thấp hơn so với đầu những năm 2010.

Bên cạnh đó, việc tăng giá hàng hóa gần đây có thể ít gây xáo trộn hơn so với những năm 1970. Đặc biệt, bối cảnh lạm phát ít đe dọa hơn. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 kéo theo lạm phát gia tăng trong một vài năm lạm phát tiếp theo và siêu lạm phát trong nhiều năm đã dẫn đến cuộc khủng hoảng năm 1979. Mặc dù lạm phát toàn cầu đã tăng đáng kể trong năm qua, nhưng nó vẫn được duy trì ở mức thấp trong vài năm trước đó. Kết quả là lạm phát cao dường như ít có khả năng hằn sâu trong nhận thức của hộ gia đình và doanh nghiệp hơn, điều này có thể hạn chế tác động lan tỏa của giá hàng hóa cao hơn.

Hơn nữa, các nền kinh tế hiện nay cũng ít phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hơn so với quá khứ. Mức năng lượng tiêu thụ so với tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất đã giảm khoảng 40% kể từ cuối những năm 1970. Mức giảm đáng chú ý nhất đối với dầu mỏ với mức tiêu thụ trên một đơn vị GDP đã giảm trên 1/2. Một số sự sụt giảm này phản ánh thay đổi trong sử dụng năng lượng từ dầu mỏ sang các nhiên liệu khác như khí đốt. Nhưng ngay cả đối với những loại nhiên liệu này, tổng mức tiêu thụ trên một đơn vị GDP đã giảm. Do đó, giá năng lượng cao hơn ít quan trọng hơn đối với tăng trưởng so với trước đây.

Một điểm khác biệt nổi bật của cuộc khủng hoảng hiện nay đó là các khung khổ chính sách đã được phát triển và tăng cường mạnh mẽ hơn. Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 kéo theo sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods. Ở nhiều quốc gia, các mục tiêu chính sách tiền tệ và chức năng phản ứng không được xác định rõ ràng. Ngày nay, hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới đều có khuôn khổ chính sách chặt chẽ hơn, cho phép họ điều hướng thành công một số đợt tăng giá hàng hóa lớn kể từ những năm 1970. Điều đó cho thấy, sự tin cậy tuyệt đối phụ thuộc vào các hành động của ngân hàng trung ương và có thể bị xói mòn nếu các ngân hàng trung ương để tình trạng lạm phát cao kéo dài.

Mặc dù ít gây đổ vỡ hơn so với cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970, việc giá hàng hóa tăng cao gần đây vẫn có tác động đáng kể đến tăng trưởng và lạm phát. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân giá hàng hóa tăng và việc một quốc gia có xuất khẩu hay nhập khẩu các mặt hàng liên quan hay không.

Tác động của giá hàng hóa cao hơn đến kinh tế vĩ mô

Tác động của giá hàng hóa cao hơn một phần phụ thuộc vào các nguyên nhân tăng giá. Thông thường, giá hàng hóa cao hơn phản ánh nhu cầu thế giới mạnh hơn. Vào những thời điểm khác, nguồn cung toàn cầu giảm có thể có nguyên nhân là do thời tiết bất lợi. Các vấn đề căng thẳng địa chính trị liên quan đến các quốc gia hoặc khu vực sản xuất hàng hóa lớn cũng có thể làm tăng giá hàng hóa, một phần do dự trữ phòng ngừa.

Dù là do nguyên nhân nào, giá hàng hóa tăng cao hơn ảnh hưởng đến điều kiện kinh tế vĩ mô thông qua một số kênh. Đầu tiên là lạm phát. Giá cả một số hàng hóa (như dầu mỏ và lúa mì) có mối liên hệ chặt chẽ với giá của hàng hóa tiêu dùng (như xăng và bánh mì). Một số hàng hóa khác (như kim loại) là đầu vào của nhiều ngành sản xuất chính. Khi những mặt hàng này tăng giá sẽ làm tăng chi phí của các công ty và từ đó chúng có thể chuyển sang người tiêu dùng. Lạm phát cao hơn và dai dẳng hơn cũng có thể buộc ngân hàng trung ương đưa ra các biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ từ đó làm giảm tốc độ tăng trưởng.

Kênh thứ hai là thông qua các mô hình sản xuất đã thay đổi. Giá cả hàng hóa cao hơn khiến các doanh nghiệp thay thế các nguồn nguyên liệu sản xuất đầu vào giá thành cao bằng các nguyên liệu đầu vào sản xuất khác (nhưng có thể kém hiệu quả hơn), điều này có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng trong ngắn hạn, đồng thời có tác động đến đầu tư. Những tác động này có khả năng lớn hơn nếu giá hàng hóa tăng cao dẫn đến giảm cung hàng hóa.

Kênh thứ ba là thông qua hiệu ứng của các điều khoản về thương mại. Giá hàng hóa cao hơn làm tăng thu nhập thực tế cho các nhà sản xuất hàng hóa nhưng đồng thời tạo ra một lực cản về thu nhập thực tế cho các nhà nhập khẩu hàng hóa. Cách phản ứng của tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc thay đổi thu nhập tích lũy vào doanh nghiệp (lợi nhuận), hộ gia đình (tiền lương) hay chính phủ (doanh thu thuế). Trong khi ở cấp độ toàn cầu, dòng thu nhập thuần từ giá hàng hóa thay đổi khác nhau - thu nhập của nhà xuất khẩu hàng hóa thu bù đắp cho khoản lỗ của nhà nhập khẩu hàng hóa – các tác động đến GDP toàn cầu sẽ phụ thuộc vào cách các nhà xuất khẩu và nhập khẩu phản ứng với những thay đổi thu nhập và do đó không rõ ràng.

Tác động đến tăng trưởng

Theo BIS, phân tích thực nghiệm cho thấy rằng giá hàng hóa cao hơn làm giảm tốc độ tăng trưởng trung bình theo một biên độ có ý nghĩa kinh tế. Tác động đặc biệt lớn khi giá hàng hóa tăng phản ánh nguồn cung hàng hóa thấp hơn, như đã diễn ra trong các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970. Ước tính giá dầu mỏ tăng 10% do nguồn cung dầu toàn cầu giảm làm giảm GDP bình quân của các nền kinh tế phát triển khoảng 0,5% sau hai năm. Ngược lại, giá dầu tăng 10% không liên quan đến những thay đổi trong nguồn cung dầu hoặc tổng cầu sẽ làm giảm GDP dưới 0,2%. Ngoài ra, tác động đầu ra của giá hàng hóa nông sản cao hơn là tác động của giá dầu.

Đặt trong bối cảnh hiện nay, BIS cho rằng việc tăng giá hàng hóa kể từ đầu năm có thể làm giảm GDP ở các nền kinh tế phát triển chủ chốt khoảng 0,7 điểm phần trăm vào cuối năm 2023. Tuy nhiên, tác động của giá hàng hóa cao hơn là khác nhau giữa các nhà xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Nhìn chung, đối với sự thay đổi giá thuần túy, giá hàng hóa cao hơn dẫn đến sự gia tăng sản lượng không đáng kể ở các nhà xuất khẩu hàng hóa và sự sụt giảm sản lượng lớn hơn ở các nhà nhập khẩu hàng hóa. Mặt khác, việc giảm cung hàng hóa có tác động tiêu cực đối với cả hai nhóm quốc gia.

Việc kiểm tra các luồng chi tiêu và thu nhập làm sáng tỏ cơ chế truyền tải các biến động giá cả hàng hóa. Tại các quốc gia nhập khẩu hàng hóa, giá hàng hóa cao hơn rõ ràng tác động tiêu cực đối với cả hộ gia đình và doanh nghiệp. Tiền lương và lợi nhuận thực tế giảm, tương ứng với hoạt động kinh tế thấp hơn và lạm phát cao hơn, trong khi đó, tiêu dùng và đầu tư đều giảm.

Các mô hình cho các nhà xuất khẩu hàng hóa là khá khác nhau. Giá hàng hóa cao hơn thường gia tăng lợi nhuận và từ đó thúc đẩy đầu tư. Nhưng thu nhập bình quân từ tiền lương giảm trong khi tiêu dùng hầu như không có phản ứng. Các tác động tương phản đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình có thể phản ánh bản chất cường độ sử dụng vốn cao của sản xuất hàng hóa, ít nhất là tại các nền kinh tế phát triển. Giá hàng hóa tăng ít ảnh hưởng đến sản lượng hàng hóa hoặc việc làm trong ngắn hạn. Mặc dù người lao động vẫn nhận được mức tăng thu nhập thực tế từ việc tỷ giá hối đoái mạnh hơn và có khả năng, chuyển giao tài khóa tăng lên, nhưng ước tính của chúng tôi cho thấy rằng những điều này thường được bù đắp phần lớn bởi giá tiêu dùng cao hơn, dẫn đến phản ứng tiêu dùng bị giảm sút.

Các tác động đến lạm phát

Hiển nhiên, giá hàng hóa cao hơn làm tăng lạm phát. Kết quả cho thấy rằng mức tăng giá dầu 10% làm tăng lạm phát hàng năm sau 12 tháng trung bình lên 0,2 điểm phần trăm đối với các nhà xuất nhập khẩu. Trong khi đó, việc giá hàng hóa nông nghiệp có thể làm tăng gấp đôi mức lạm phát so với tăng giá dầu khi một mức tăng 10% của nông sản sẽ khiến lạm phát tăng thêm bình quân 0,4 điểm phần trăm. Ngược lại, phản ứng của lạm phát toàn phần đối với các cú sốc về nguồn cung dầu là không đáng kể về mặt thống kê, có thể là do tác động giảm lạm phát của tăng trưởng GDP thấp hơn.

Tác động lạm phát của giá hàng hóa cao hơn không chỉ giới hạn ở giá năng lượng và lương thực. Lạm phát cơ bản cũng tăng, mặc dù chỉ bằng một nửa so với lạm phát toàn phần. Những tác động lan tỏa này thường lớn hơn đối với các nhà nhập khẩu hàng hóa; sự gia tăng lạm phát cơ bản đối với các nhà xuất khẩu hàng hóa là rất nhẹ và không đáng kể về mặt thống kê. Một lý do có thể là do tỷ giá hối đoái của các nhà xuất khẩu hàng hóa có xu hướng tăng sau khi giá hàng hóa cao hơn, điều này làm giảm giá hàng hóa nhập khẩu.

Kết quả phân tích của BIS cho thấy mức tăng giá hàng hóa gần đây có thể làm tăng lạm phát tại một nền kinh tế phát triển điển hình lên hơn 1 điểm phần trăm trong năm 2022. Tất nhiên, kết quả thực tế có thể khác với các ước tính này vì sự không chắc chắn xung quanh ước tính và do các yếu tố không được nắm bắt khung thực nghiệm. Ví dụ, tác động lạm phát có thể nhỏ hơn nếu nguồn cung hàng hóa thấp hơn làm giảm tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, tác động thúc đẩy lạm phát có thể lớn hơn nếu sự gián đoạn thị trường hàng hóa, trong bối cảnh chuỗi cung ứng vốn đã căng thẳng, việc thắt chặt nút thắt trong các đầu vào sản xuất chính.

Việc tăng giá hàng hóa sau cuộc chiến ở Ukraine có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng toàn cầu và gây ra lạm phát. Trong khi sự phụ thuộc vào năng lượng thấp hơn và các khuôn khổ chính sách mạnh mẽ hơn khiến việc lặp lại lạm phát đình trệ những năm 1970 khó có thể xảy ra, thì giá cả hàng hóa cao và biến động vẫn có thể gây xáo trộn. Điều này tạo ra ưu thế trong việc khôi phục lạm phát thấp một cách nhanh chóng, trước khi nó hằn sâu vào các quyết định của hộ gia đình và doanh nghiệp.

HN (theo BIS)

  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
CÁC TIN KHÁC
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
03:06, 10/02/2026
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
17:00, 02/02/2026
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
09:16, 29/01/2026
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
09:13, 22/01/2026
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
11:28, 19/01/2026
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
22:00, 15/01/2026
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
09:51, 14/01/2026
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
09:53, 09/01/2026
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
15:00, 08/01/2026
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
03:32, 18/12/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready