Báo cáo cập nhật triển vọng kinh ASEAN+3 của AMRO công bố tháng 7/2022 đánh giá khu vực đã đạt được những nền tảng cơ bản trong cuộc chiến lâu dài chống lại dịch COVID-19. Tuy nhiên, tác động từ cuộc chiến tranh của Nga tại Ukraine dự kiến sẽ còn kéo dài và các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga khiến cho nguồn cung tiếp tục bị gián đoạn và giá hàng hóa sẽ vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó, các điều kiện tài chính toàn cầu được thắt chặt phản ánh việc FED tăng tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ làm gia tăng nỗi sợ hãi về một cuộc suy thoái ở Mỹ và lo ngại rủi ro tăng cao. Trong bối cảnh đó, AMRO điều chỉnh hạ dự báo tăng trưởng cơ bản của khu vực ASEAN+3 xuống còn 4,3% và dự báo lạm phát tăng lên 5,2% cho năm 2022. Các dự báo cho năm 2023 lần lượt là tăng trưởng 5% và lạm phát 3%.
Tình hình kinh tế toàn cầu và khu vực
Theo AMRO, sau hơn hai năm các nền kinh tế khu vực ASEAN+3 cuối cùng đã có được một số kết quả vững chắc trong cuộc chiến chống lại COVID-19. Nhờ vào sự sẵn có của vắc-xin ngày càng tăng, việc xét nghiệm và truy vết được cải thiện, các liệu pháp điều trị được nâng cao, các ca lây nhiễm mới hàng ngày đã giảm mạnh và các làn sóng Delta và Omicron có khả năng lây nhiễm cao đã giảm xuống trên khắp khu vực. Tổng số ca nhiễm COVID-19 đã giảm từ 838.800 trường hợp vào giữa tháng 3/2022 xuống còn khoảng 44.000 vào đầu tháng 7/2022. Tỷ lệ tiêm chủng cao trong khu vực tiếp tục mang lại sự bảo vệ hiệu quả, giúp giảm tỷ lệ các ca bệnh nặng, nhập viện và tử vong.
Tại Trung Quốc, các biện pháp kiểm soát đại dịch nghiêm ngặt đã được triển khai thời gian gần đây để ngăn chặn sự tái bùng phát của COVID-19. Thượng Hải - nơi báo cáo một đợt lây nhiễm vào cuối tháng 3/2022 - đã thực hiện biện pháp phong tỏa trong khoảng hai tháng. Bắc Kinh cũng đã phải tiến hành phong tỏa một phần trong bối cảnh xuất hiện các đợt bùng phát dịch bệnh lẻ tẻ. Kể từ tháng 6/2022, Trung Quốc đã kiểm soát được số ca lây nhiễm và nền kinh tế gần như trở lại bình thường. Với việc COVID-19 được đẩy lùi trong khu vực, nhiều nền kinh tế đã bắt đầu coi đây là bệnh đặc hữu, nới lỏng hơn nữa các hạn chế và cho phép tái khởi động đầy đủ hơn các hoạt động kinh tế. Các hoạt động biên giới đã dần dần được mở cửa trở lại và du lịch quốc tế đã được phục hồi. Trong vài tháng qua, các chỉ số di chuyển ở các nền kinh tế ASEAN+3 cuối cùng đã phục hồi về mức trước đại dịch.
Dữ liệu GDP quý I/2022 được công bố cho thấy đà tăng trưởng không đồng đều giữa các nền kinh tế trong khu vực. Các nền kinh tế Plus-3 – bao gồm cả Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản và Hàn Quốc - đã chứng kiến sự bùng phát của các ca nhiễm COVID-19 và các biện pháp hạn chế lây nhiễm đã tác động đến tăng trưởng trong quý đầu tiên của năm 2022. Các nền kinh tế ASEAN có mức tăng trưởng tương đối mạnh hơn khi quá trình tái mở cửa kinh tế đã đạt được lực kéo hơn nữa.
Tại Trung Quốc, lĩnh vực bất động sản đã chậm lại kể từ đầu năm 2021, một phần là kết quả của chính sách "ba lằn ranh đỏ" nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng đòn bẩy tài chính quá mức trong các công ty bất động sản. Bất chấp những điều chỉnh gần đây đối với các chính sách về tài chính bất động sản, các chỉ số hoạt động chính, như bán hàng và khởi công xây dựng mới, tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm lớn trong tháng 5 và lượng nhà ở tồn kho đã tăng lên đáng kể.
Sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục có tác động đến các hoạt động kinh tế và thương mại. Việc đóng cửa không phận và đường vận chuyển do chiến tranh ở Ukraine đã làm trầm trọng thêm sự gián đoạn chuỗi cung ứng trong thời kỳ đại dịch. Các đợt phong tỏa gần đây ở Trung Quốc đã làm gia tăng áp lực khi thắt chặt hoạt động cảng biển và hạn chế sản xuất hàng hóa trung gian. Theo dữ liệu thương mại mới nhất, xuất khẩu của khu vực đã giảm cả về giá trị và khối lượng.
Cuộc chiến tại Ukraine và các lệnh trừng phạt đối với Nga đã đẩy giá hàng hóa và lạm phát thế giới lên cao. Giá năng lượng (dầu thô, than và khí đốt) tăng đã dẫn đến chi phí vận tải và dịch vụ tiện ích cao hơn. Giá ngũ cốc, dầu ăn và phân bón tăng cao do gián đoạn nguồn cung liên quan đến chiến tranh đã khiến giá lương thực tăng vọt. Kết quả là, lạm phát trong tháng 5 đã tăng lên mức trung bình khoảng 16% ở các nền kinh tế mới nổi trên thế giới, và gần 9% ở Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu.
Lạm phát cũng có xu hướng cao hơn tại hầu hết các nền kinh tế ASEAN+3 trong những tháng gần đây, mặc dù vẫn thấp hơn so với các khu vực khác trên thế giới. Chỉ số lạm phát toàn phần trên khắp các nền kinh tế ASEAN+3 cao hơn từ một đến ba lần trong giai đoạn từ tháng 3-5/2022 so với hai tháng đầu năm. Trong tháng 5, lạm phát trung bình tại khu vực ASEAN+3 ở mức 4,7%. Áp lực lạm phát chủ yếu đến từ việc tăng giá năng lượng và lương thực, giống như ở các khu vực khác trên thế giới. Ngoài yếu tố chi phí đẩy, nhu cầu trong nước tăng cũng đang gây áp lực lên lạm phát ở một số nền kinh tế như Hàn Quốc và Singapore.
Tại Hoa Kỳ, lạm phát cao kéo dài đã dẫn đến việc Cục Dự trữ Liên bang (Fed) phải thắt chặt chính sách nhanh và mạnh. Các đợt tăng lãi suất liên tục gần đây của Fed để kiềm chế lạm phát đã dẫn đến định giá lại đối với các tài sản rủi ro và thúc đẩy sự biến động của thị trường tài chính. Các đợt bán tháo trên thị trường đã diễn ra sau quyết định của Fed về việc tăng lãi suất điều hành vào tháng 5 (tăng 50 điểm cơ bản) và tháng 6 (thêm 75 điểm cơ bản), do lo ngại về chi phí đi vay cao hơn và nền kinh tế Mỹ giảm tốc mạnh.
Triển vọng kinh tế khu vực
So với hồi tháng 4/2022, AMRO điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng cơ sở năm 2022 cho ASEAN+3 xuống còn 4,3% (so với mức 4,7% trước đó). Điều này chủ yếu phản ánh sự giảm sút trong dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế Plus-3 (ở mức 4,1%, so với mức 4,6% hồi tháng 4), đặc biệt là Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc). Sự suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc và các đối tác thương mại chính đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của Nhật Bản và Hàn Quốc. Trong khi đó, dự báo tăng trưởng năm 2022 của ASEAN vẫn không thay đổi so với dự báo tháng Tư; ASEAN có thể đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ 5,1% trong năm nay. Vào năm 2023, tăng trưởng của toàn khu vực ASEAN + 3 dự kiến sẽ tăng lên 4,9% (tăng so với mức 4,6% được dự báo trước đó).
Dự báo lạm phát năm 2022 cho khu vực được điều chỉnh tăng lên. Áp lực chi phí đẩy liên tục và nhu cầu nội địa mạnh mẽ ở một số nền kinh tế đang khiến lạm phát tăng cao hơn trong năm nay ở mức 5,2% (so với dự báo tháng 4 là 3,5%). Giá phân bón và nguyên liệu tăng cao sẽ tiếp tục đẩy giá lương thực tăng trong năm nay và năm sau. Đối với các nền kinh tế đang củng cố đà tăng trưởng, khoảng cách sản lượng thu hẹp và thị trường lao động thắt chặt đang gia tăng áp lực lạm phát. Năm 2023, lạm phát dự kiến sẽ vừa phải ở mức 2,8% (dự báo tháng 4 là 2,3%).
Rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng của khu vực ASEAN+3 đã tăng lên kể từ lần đánh giá cuối cùng của AMRO vào tháng 4. Khả năng về một giải pháp nhanh chóng giải quyết cuộc chiến ở Ukraine đã tan vỡ trong suốt ba tháng qua. Điều này sẽ làm tăng rủi ro hiện có đối với triển vọng của khu vực khi giá hàng hóa tiếp tục tăng và chuỗi cung ứng tiếp tục gặp gián đoạn.
Do hầu hết các nền kinh tế ASEAN+3 là các nước nhập khẩu ròng dầu mỏ và khí đốt, giá năng lượng tăng liên tục là một điều kiện bất lợi của cú sốc thương mại, làm tăng giá nhập khẩu và thúc đẩy lạm phát. Vấn đề tương tự cũng diễn ra với giá lương thực trong khu vực đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng thiếu ngũ cốc, dầu hướng dương và phân bón liên quan đến chiến tranh.
Chi phí vận chuyển cao và tình trạng chậm trễ kéo dài có khả năng vẫn tiếp diễn do các chuỗi cung ứng và lộ tuyến thương mại được cơ cấu lại để đáp ứng với các lệnh trừng phạt ngày càng tăng của các nước đối với Nga và ngược lại. Điều này sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu của khu vực, có nguy cơ gây cản trở sự phục hồi.
Một trong những rủi ro khác đối với triển vọng tăng trưởng của khu vực đó là nguy cơ suy thoái mạnh hơn dự kiến ở Trung Quốc. Trong khi các nhà chức trách đã thành công trong việc ngăn chặn sự gia tăng các ca lây nhiễm gần đây, các đợt giãn cách, phong tỏa lặp lại đã khiến sản xuất gián đoạn và làm giảm nhu cầu trong nước. Sự sụt giảm mạnh hơn trong lĩnh vực tiêu dùng và bất động sản của Trung Quốc sẽ là lực cản đáng kể đối cho nền kinh tế, với tác động lan tỏa sẽ làm suy yếu hơn triển vọng tăng trưởng của khu vực.
Việc thắt chặt chính sách tiền tệ mạnh mẽ và quyết liệt hơn của FED cũng đã làm cho các thị trường chao đảo và kéo theo nỗi sợ hãi về rủi ro và dòng vốn chảy ra khỏi khu vực tăng vọt lên, đẩy chi phí đi vay tăng cao. Rủi ro về dòng vốn chảy ra quá nhiều, tỷ giá hối đoái yếu hơn và lạm phát cao hơn đang gây áp lực lên các ngân hàng trung ương của khu vực trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ. Một số nền kinh tế ASEAN+3 (như Hàn Quốc, Malaysia, Philippines và Singapore) đã bắt đầu bình thường hóa quan điểm chính sách tiền tệ thích ứng.
Trong khi đại dịch dường như đã lùi xa, sự xuất hiện của nhiều chủng COVID-19 kháng vắc-xin và có thể khả năng lây nhiễm cao vẫn còn là một nguy cơ lớn. Các biến thể phụ mới của Omicron như BA.4 và BA.5, được báo cáo là ít nguy hiểm nhưng dễ lây lan hơn và đang ngày càng phổ biến trên toàn cầu. Khi khả năng miễn dịch toàn cầu và tiêm chủng nhắc lại được xây dựng, tần suất của các làn sóng COVID-19 mới dự báo sẽ chậm lại - mặc dù không thể loại trừ sự xuất hiện của một biến thể độc hại hơn. Nếu các nền kinh tế ASEAN+3 phải tái áp đặt các biện pháp ngăn chặn đại dịch, sự phục hồi kinh tế chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, khiến nhiều doanh nghiệp và cá nhân rơi vào tình trạng khó khăn hơn về tài chính. Do đó, nhu cầu về hỗ trợ tài khóa mới có thể làm tăng gánh nặng nợ công tại các nền kinh tế dễ bị tổn thương hơn của khu vực trong dài hạn.
MN (theo Amro-Asia)