Quy trình thực thi các công cụ chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam
Mã số: ĐTNH-CS.004/19
a) Tên Đề tài: Quy trình thực thi các công cụ chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam.
Mã số: ĐTNH-CS.004/19
b) Tổ chức chủ trì thực hiện: Viện Chiến lược ngân hàng, NHNN.
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Vĩnh Hưng, Phó Vụ trưởng Vụ Ổn định Tiền tệ - Tài chính, NHNN.
- Thư ký: ThS. Nguyễn Vũ Phương, Trưởng phòng, Vụ Ổn định Tiền tệ - Tài chính, NHNN.
- Thành viên tham gia:
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quy trình thực thi công cụ chính sách an toàn vĩ mô (hệ thống chỉ số, chỉ báo để lựa chọn, kích hoạt hay thoái lui các công cụ chính sách an toàn vĩ mô; mức độ sử dụng…)
- Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng quy trình thực thi công cụ chính sách an toàn vĩ mô và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng thực thi công cụ chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam.
- Đề xuất quy trình thực thi công cụ chính sách an toàn vĩ mô, bao gồm việc xác định mục tiêu, cách thức lựa chọn công cụ và mức độ áp dụng các công cụ chính sách an toàn vĩ mô; công tác truyền thông trong thực thi chính sách an toàn vĩ mô.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 10/2019
- Thời gian kết thúc: Tháng 3/2022
e) Kinh phí thực hiện: 95 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu đề xuất quy trình thực thi công cụ chính sách an toàn vĩ mô, bao gồm việc nhận diện rủi ro hệ thống, lựa chọn, áp dụng các công cụ chính sách an toàn vĩ mô tập trung chủ yếu vào khu vực ngân hàng, đề tài ĐTNH-CS.004/19đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 làm rõ các vấn đề tổng quan về quy trình thực thi công cụ chính sách an toàn vĩ mô (CSATVM) như khái niệm, mục tiêu, bộ công cụ CSATVM; nghiên cứu kinh nghiệm thực thi CSATVM tại Anh, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, New Zealand. Qua đó, nhóm nghiên cứu rút ra kết luận để ban hành được các công cụ CSATVM thích hợp, Việt Nam cần phải đảm bảo các yếu tố sau:
- Cần có thể chế phù hợp để ban hành các CSATVM. Các quyết định về CSATVM thường được đưa ra thảo luận và quyết định tại Hội đồng hoặc Ủy ban về Ổn định tài chính, giúp đánh giá toàn diện nhất về các rủi ro hệ thống mà các quyết định được đưa ra nhanh chóng và kịp thời để ứng phó với các rủi ro hệ thống.
- Cần có một cơ quan chuyên trách để làm đầu mối để thực hiện giám sát an toàn vĩ mô, tổng hợp đánh giá rủi ro hệ thống đồng thời đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời.
- Quy trình ban hành CSATVM của các quốc gia bao gồm các bước: (i) Theo dõi bộ các chỉ số ổn định; (ii) Nhận định các rủi ro hệ thống; (iii) Lựa chọn các công cụ CSATVM thích hợp; (iv) Ban hành Công cụ CSATVM.
- Các công cụ CSATVM luôn được đánh giá định kỳ và có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Chương 2 của đề tài đánh giá thực trạng khuôn khổ CSATVM và kết quả thực thi các công cụ CSATVM tại Việt Nam. Nghiên cứu tại Chương 2 cho thấy Việt Nam hiện nay chưa có một khuôn khổ pháp lý về ổn định tài chính và CSATVM, chưa có tổ chức nào chịu trách nhiệm về giám sát tổng thể hệ thống tài chính. Thay vào đó, chức năng giám sát hệ thống tài chính Việt Nam được phân chia cho nhiều cơ quan: NHNN giám sát hệ thống các TCTD; khu vực chứng khoán và bảo hiểm được giám sát bởi Bộ Tài chính. Tuy nhiên, mỗi cơ quan chỉ tập trung vào giám sát chuyên ngành riêng của mình và không thực hiện giám sát hợp nhất cả ba lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Ngoài ra, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia được thành lập năm 2008 có chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia.
Về khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát an toàn vĩ mô trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, Điều 23 Nghị định 26/2014/NĐ-CP ngày 7/4/2014 quy định “Giám sát ngân hàng được tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua giám sát an toàn vĩ mô, giám sát an toàn vi mô và sử dụng các phương pháp, tiêu chuẩn, công cụ giám sát và hệ thống thông tin, báo cáo do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.” Theo đó, giám sát an toàn vĩ mô là hình thức giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các TCTD, chi nhánh NHNNg; Thông tư 08/2017/TT-NHNN ngày 1/8/2017 quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng và nội dung giám sát an toàn vĩ mô, trong đó đã đề cập tới Nhóm các TCTD, chi nhánh NHNNg có tầm quan trọng hệ thống (D-SIBs) và tiêu chí xác định mức độ quan trọng hệ thống, nội dung giám sát an toàn vĩ mô, tần suất lập báo cáo giám sát an toàn vĩ mô đối với Nhóm D-SIBs.
Tại Chương 3, từ những kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu đề xuất quy trình thực thi chính sách an toàn vĩ mô cho Việt Nam gồm các bước: Nhận diện các rủi ro mang tính hệ thống; Xác định các mục tiêu trung gian; Lựa chọn các công cụ an toàn vĩ mô thích hợp; Đánh giá hiệu quả các công cụ và thực hiện điều chỉnh. Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất áp dụng quy trình thực thi một số công cụ chính sách an toàn vĩ mô gồm Bộ đệm vốn ngược chu kỳ (CCyB) và Tỷ lệ tín dụng trên giá trị tài sản bảo đảm (LTV) do đây là hai công cụ điển hình giúp hạn chế tăng trưởng tín dụng quá mức, rủi ro lớn nhất mà các NHTM trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu phải đối mặt.
Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu lực của quy trình thực thi công cụ CSATVM, gồm: Tăng cường cơ chế phối hợp trong việc phân định rõ vai trò và chức năng giữa các đơn vị trong quy trình thực thi công cụ CSATVM; đề xuất cơ chế ban hành quyết định đối với và hoàn thiện cơ sở dữ liệu hỗ trợ quy trình thực thi công cụ CSATVM./.