Số lượng DN thành lập mới trong nửa cuối năm nay tăng đột biến, có lẽ đã làm nức lòng không ít người đau đáu với việc vận động chính sách để cải cách quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh cởi mở hơn. Ông Nguyễn Đức Tâm, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) dẫn chứng, khi Luật DN 2014 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2015, ngay trong tháng 7 số DN thành lập mới đã tăng 66,3% so với cùng kỳ 2014…
Khi bất bình đẳng “bám rễ” quá lâu
Chặng đường cải cách môi trường kinh doanh còn dài
Khanh Đoàn
Số lượng DN thành lập mới trong nửa cuối năm nay tăng đột biến, có lẽ đã làm nức lòng không ít người đau đáu với việc vận động chính sách để cải cách quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh cởi mở hơn. Ông Nguyễn Đức Tâm, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) dẫn chứng, khi Luật DN 2014 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2015, ngay trong tháng 7 số DN thành lập mới đã tăng 66,3% so với cùng kỳ 2014…
“Nếu so với giai đoạn năm 1990, thời gian thành lập DN mất từ 6 tháng đến 1 năm, sau đó giảm dần và đến nay chỉ còn 3 ngày, thậm chí có địa phương chỉ còn vài giờ, thì bước tiến rõ ràng là rất lớn”, ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) so sánh. Đó là chưa kể các yêu cầu về giấy tờ thủ tục, quy định vốn tối thiểu, con dấu… được rút gọn và bãi bỏ đáng kể cũng giảm tối đa chi phí gia nhập thị trường, tạo ra cú hích lớn cho tinh thần khởi nghiệp đang dâng cao ngùn ngụt tại Việt Nam.
Tuy nhiên, là người theo dõi và đồng hành với hoạt động của DN trong suốt một thời gian dài, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) cho rằng, những biểu hiện hiện nay, tư duy trao quyền tự do kinh doanh chưa hẳn đã được thông suốt từ cơ quan quản lý xuống địa phương, hay giữa các cơ quan quản lý với nhau… Dễ nhận thấy, đang xuất hiện tâm lý lo ngại rằng thành lập DN dễ dàng quá thì có quản lý được không. Kéo theo đó, các công cụ cản trở quyền kinh doanh có thể biến tướng thành nhiều hình thức khác.
“Có rất nhiều ví dụ về cách hành xử vô lối. Chẳng hạn, một tỉnh cấm thành lập thêm văn phòng luật sư, hay cấm thành lập xưởng cưa gỗ, hay cơ sở kinh doanh xăng dầu… Những tư duy như vậy rất nhiều trên toàn quốc và quan chức của tỉnh tự cho mình quyền cấm”, ông Tuấn cho biết. Và lối hành xử đó cũng không mới. Nếu nhìn theo chuỗi 15 năm từ khi thực thi Luật DN vào năm 2000, xu hướng là quyền tự do kinh doanh chảy không đều từ văn bản xuống thực tiễn. Chưa kể, để thực hiện luật thì thiết chế phải đồng bộ, song tinh thần thực hiện cũng “chảy không đều” từ cơ quan hành pháp sang tư pháp.
Ông Tuấn phân tích, tuyên bố của luật thì rõ, nhưng ở Việt Nam hiện vẫn chưa có thiết chế nào giám sát để ban hành các quy định dưới luật một cách đồng bộ. Do đó, một cơ quan quản lý có thể tùy ý ban hành văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh mà không có cơ quan đủ thẩm quyền rà soát tính hợp pháp của văn bản đó. Hay cơ quan quản lý cạnh tranh đã hoạt động cả chục năm nay, nhưng hiện vẫn chưa đủ thẩm quyền để “sờ gáy” cơ quan quản lý nhà nước nếu tuỳ tiện ban hành các điều kiện kinh doanh vô lý, gây cản trở thị trường. Vì vậy, không thể kịp thời tuýt còi hay xử lý nếu quy định đó là trái luật.
Một vấn đề khác là cơ chế hỗ trợ, bảo vệ DN còn “thủng lỗ chỗ”. Chỉ riêng việc so sánh về khả năng tiếp cận đất đai giữa DN tư nhân với DNNN và DN FDI đã thấy có sự tương phản lớn. Những vị trí đất vàng, nhiều ưu thế đang dồn cho DNNN, còn DN FDI được hưởng lợi vì nhà nước ưu đãi, bỏ tiền ra làm khu công nghiệp. Chính sách này trên bề nổi là bình đẳng, song DN tư nhân nhỏ bé không đủ khả năng tiếp cận, chủ yếu chỉ dùng đất gia đình để kinh doanh. Rõ ràng cơ hội tiếp cận đất đai là không công bằng. Như vậy, tự do kinh doanh có thực sự tốt nếu sau gia nhập thị trường, DN phải cạnh tranh không bình đẳng?
Biểu hiện khác thấy được qua quan sát trên thực tế là DN càng lớn thì chi phí tuân thủ thủ tục hành chính càng cao, tần suất tiếp đoàn thanh tra kiểm tra càng nhiều. Tư tưởng phải áp sát để quản lý có lẽ đã khiến cho nhiều DN có tâm lý “ngại lớn”. Ông Tuấn cho biết, qua tiếp xúc các DN tư nhân, ông nhận thấy khi đã đến quy mô nào đó rồi thì tâm lý sợ hãi của họ rất lớn. Nhiều DN bắt đầu thu nhỏ hoạt động, chuyển tài sản, cho con ra nước ngoài học, kiếm tiền ở Việt Nam song không có tâm lý muốn gắn bó lâu dài tại đất nước. “Thực trạng DN tư nhân rất đáng lo ngại”, ông Tuấn phát biểu.
Nhìn toàn cảnh qua số liệu của cơ quan thuế, trong khoảng 600.000 DN đang hoạt động và còn đủ khỏe để thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước thì 85% có doanh thu dưới 20 tỷ đồng/năm. Trong đó, một nửa số này lại có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm. Những DN làm ra chỉ vài chục triệu đồng/tháng đang chiếm phần đông trong lực lượng DN nội địa, cho thấy xu hướng “li ti hóa” nền kinh tế vẫn đang tiếp diễn. Đây là tín hiệu rất không tốt cho thấy môi trường kinh doanh thực chất còn rất nhiều vấn đề cần cải thiện.
Những cảnh báo này cần được nhận diện kịp thời, trước khi chúng ta quá say sưa vào những thành quả hiện tại mà quên mất rằng chặng đường cải cách môi trường kinh doanh vẫn còn rất dài ở phía trước.