VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC LOẠI PHÍ CỦA NGÂN HÀNG,
PHÁT HÀNH TIỀN POLYMER
1. Tồn tại những khoản phí bất hợp lý như việc thu thêm phí phạt trả nợ trước hạn là 2,5%. Đề nghị ngành ngân hàng nên xem xét lại. (Cử tri tỉnh An Giang)
Trả lời:
Theo Quy chế cho vay của TCTD (TCTD) đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011, TCTD và khách hàng được thỏa thuận về mức phí phải trả trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn. Quy định này là phù hợp với thực tế vì khi cho khách hàng vay, TCTD đã cân đối nguồn vốn huy động của mình (bao gồm tiền gửi của tổ chức, cá nhân, nguồn vốn đi vay và các nguồn vốn khác) cả về lãi suất và kỳ hạn để đáp ứng yêu cầu của khoản vay; đồng thời trong thời hạn cho vay theo hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng, TCTD cũng phải trả lãi, chi phí cho các nguồn vốn mà TCTD đã huy động để cho khách hàng vay.
Tuy nhiên, nhằm chia sẻ khó khăn trong hoạt động sản xuất – kinh doanh đối với khách hàng vay, tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/01/2014, Thống đốc NHNN đã chỉ đạo các TCTD xem xét áp dụng mức thu phí hợp lý đối với các khoản phí được thu theo quy định của pháp luật; không được thu các loại phí liên quan đến khoản vay, trừ các khoản phí quy định tại Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011. Vì vậy, khách hàng có điều kiện khó khăn có thể thỏa thuận với TCTD xem xét áp dụng mức phí hợp lý.
2. Hiện nay chi phí phát hành thẻ ATM, lệ phí chuyển tiền vào tài khoản thẻ ATM của người hưởng do cơ quan bản hiểm xã hội thanh toán là phù hợp. Đề nghị ngành ngân hàng xem xét miễn khoản chi phí duy trì tài khoản hàng năm theo quy định mà người được hưởng chế độ bảo hiểm phải thanh toán. (Cử tri TP Đà Nẵng)
Trả lời:
Thực hiện chủ trương phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, thời gian qua, các ngân hàng đã chú trọng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ để mở rộng đối tượng khách hàng, trong đó, có việc phối hợp với các cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả chế độ bảo hiểm xã hội qua tài khoản thẻ ATM cho các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Theo quy định tại Điều 91 Luật các TCTD năm 2010, TCTD được quyền ấn định mức phí dịch vụ do đơn vị mình cung ứng và phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch. Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu, thực tiễn hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ, đồng thời hướng đến chủ trương phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ, NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (Thông tư 35), trong đó bên cạnh việc quy định Biểu khung mức phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (trong đó có hình thức thẻ ATM) gồm một số loại phí cơ bản như: phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản, Thông tư 35 còn quy định tổ chức phát hành thẻ cần có biện pháp phân loại đối tượng khách hàng để có hình thức hỗ trợ phù hợp với các đối tượng khách hàng có tính chất đặc thù (như: công nhân, người lao động, viên chức...) những người có thu nhập thấp.
Vừa qua, NHNN đã có công văn số 5401/NHNN-TT ngày 16/7/2015 chỉ đạo các tổ chức phát hành thẻ thực hiện rà soát lại các loại phí, mức phí thẻ ghi nợ nội địa đang được áp dụng tại đơn vị mình, đảm bảo việc thu phí tuân thủ theo quy định tại Thông tư 35 và có hình thức hỗ trợ phù hợp đối với các nhóm đối tượng sinh viên nghèo, người lao động có thu nhập thấp.
Hiện chi phí phát hành thẻ ATM, lệ phí chuyển tiền vào tài khoản thẻ của người hưởng đã được cơ quan bảo hiểm xã hội thanh toán, do đó, tổ chức cá nhân liên quan có thể đề đạt với cơ quan bảo hiểm xã hội hỗ trợ phần phí duy trì tài khoản để các ngân hàng có thể miễn, giảm khoản phí này cho người hưởng bảo hiểm xã hội.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục theo dõi, bám sát tình hình cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ của các tổ chức phát hành thẻ, bao gồm việc cung ứng dịch vụ thẻ cho các đối tượng nhận chi trả chế độ bảo hiểm xã hội qua thẻ ATM, để có những đề xuất, chỉ đạo phù hợp nhằm đẩy mạnh hơn nữa phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
3. Chất lượng tiền polime hiện nay rất thấp, dễ bị gãy, rách, tróc hình ảnh, bạc màu, làm mất giá trị sử dụng. Đề nghị NHNN xem xét, có biện pháp xử lý để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng. (Cử tri tỉnh Tiền Giang)
Trả lời:
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng đồng tiền trong lưu thông, Bộ Chính trị đã phê duyệt việc lựa chọn ứng dụng công nghệ tiền polymer thay cho loại tiền giấy cotton. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2003-2006, NHNN đã phát hành và đưa vào lưu thông các đồng tiền polymer, mệnh giá từ 10.000đ-500.000đ.
(i) Về chất lượng của đồng tiền polymer:
Sau một thời gian lưu hành, qua theo dõi chất lượng đồng tiền trong lưu thông của NHNN và thực tiễn sử dụng đồng tiền polymer, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, Ngành liên quan tiến hành đánh giá, tổng kết và có kết luận: đồng tiền polymer được người dân đón nhận, lưu thông bình thường; chất lượng đồng tiền trong lưu thông có bước cải thiện, độ bền, khả năng chống giả và độ sạch của đồng tiền polymer cao hơn tiền giấy cotton. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã được xã hội công nhận thì đồng tiền polymer cũng còn một vài hạn chế nhất định như: hay bị mài mòn mực in, bị nhàu do các nếp gấp, đặc biệt với những tờ tiền có mệnh giá nhỏ...
Thực tế cho thấy đồng tiền dù làm bằng chất liệu nào, trong quá trình lưu thông do nhiều nguyên nhân khác nhau, thì chất lượng đồng tiền sẽ giảm dần theo thời gian. Nguyên nhân do tiền quay vòng nhiều lần trong lưu thông, quá trình kiểm đếm, trao tay, vò, gấp, chà xát khiến cho chất lượng đồng tiền giảm dần; người tiêu dùng khi nhận được tiền rách, cũ (tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông) thường ít mang tới ngân hàng để đổi sang các tờ tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông (TCLT); các loại mệnh giá tiền 10.000đ, 20.000đ sau khi đưa ra lưu thông rất ít quay lại hệ thống ngân hàng nên việc phân loại, xử lý, thu hồi và thay thế không được thực hiện thường xuyên.
Mặt khác, hiện nay, những đồng tiền polymer phát hành từ năm 2003, 2004, 2005 đã lưu hành hơn 10 năm vì nhiều lý do người dùng không nộp vào ngân hàng, Kho bạc Nhà nước để đổi lấy những đồng tiền tốt hơn mà vẫn tiếp tục sử dụng đã làm ảnh hưởng đến hình ảnh của đồng tiền trong lưu thông nói chung.
(ii) Về đề nghị nâng cao chất lượng đồng tiền:
Nhằm nâng cao chất lượng đồng tiền trong lưu thông, NHNN đã thực hiện một số biện pháp như:
- Ban hành Thông tư số 25/2013/TT-NHNN ngày 02/12/2013 quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông thay thế Quyết định 24/2008/QĐ-NHNN ngày 22/8/2008 trong đó có những quy định mới nhằm tăng cường công tác thu, đổi, tuyển chọn tiền không đủ TCLT của Sở giao dịch NHNN, chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước. Cụ thể: miễn phí đổi tiền không đủ TCLT cho khách hàng; ban hành mẫu áp phích tiền không đủ TCLT tiêu biểu với chất lượng tiền tuyển chọn được nâng cao hơn so với trước đây và phân phối rộng rãi tới các đơn vị có liên quan đến hoạt động giao dịch tiền mặt.
- Ngoài ra, với vai trò là cơ quan phát hành tiền, NHNN luôn chú trọng thực hiện các giải pháp nhằm ổn định giá trị và nâng cao chất lượng, uy tín của đồng tiền Việt Nam. Hiện nay, sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ vật liệu đã tạo ra những loại chất liệu in tiền mới. Trước đây chỉ có giấy cotton, polymer thì nay có thêm các chất liệu tổng hợp. NHNN luôn nghiên cứu và cập nhật thông tin về những phát triển mới trong chất liệu, công nghệ in tiền, đề xuất với Bộ Chính trị thay đổi cho phù hợp với thực tiễn nước ta để nâng cao hơn nữa chất lượng cũng như chế tác của đồng tiền, đáp ứng nhu cầu của người dân Việt Nam.
Với những giải pháp đã nêu trên, số lượng tiền không đủ TCLT thu hồi về hệ thống NHNN trong thời gian qua tăng cao rõ rệt, qua đó chất lượng đồng tiền trong lưu thông đã được cải thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng.