Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Tổng quan về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và nội dung cam kết trong lĩnh vực ngân hàng

25/03/2016 21:00:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Tổng quan về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

và nội dung cam kết trong lĩnh vực ngân hàng

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP) đã được các bộ trưởng đại diện 12 quốc gia thành viên ký kết đầu tháng 02/2016 tại New Zealand. Hiệp định TPP được đánh giá là hiệp định thế kỷ, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với phạm vi điều chỉnh sâu rộng, toàn diện so với các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập trong gần 20 năm hội nhập kinh tế quốc tế đến nay. Để cùng tìm hiểu lý do tại sao Hiệp định TPP được đánh giá cao, được kỳ vọng và được dư luận trong nước, quốc tế quan tâm đến vậy, bài viết dưới đây xin được đề cập một góc nhìn tổng quan, khái quát về Hiệp định TPP và các nội dung cam kết cơ bản trong lĩnh vực ngân hàng của Hiệp định, cũng như đưa ra một số đánh giá sơ bộ về tác động của Hiệp định.

I. Tổng quan về Hiệp định TPP

1. Nguồn gốc hình thành Hiệp định TPP

Ban đầu, Hiệp định TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác kinh tế do nguyên thủ các nước Chilê, Newzealand và Singapore (P3) phát động đàm phán nhân Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mehico. Tháng 4 năm 2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc đã biến P3 thành P4. Hiệp định P4 được ký kết ngày 03/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006. Hiệp định P4 không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổ APEC nhưng Singapore đã nhiều lần thể hiện mong muốn mở rộng TPP và sử dụng Hiệp định TPP như một công cụ để hiện thực hóa ý tưởng về Khu vực mậu dịch tự do châu Á-Thái Bình Dương của APEC (FTAAP). Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia đàm phán Hiệp định TPP. Đến tháng 11 năm 2008, có thêm sự tham gia của Australia và Peru. Đầu năm 2009, Việt Nam đã quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết và từ tháng 11 năm 2010, Việt Nam tham gia đàm phán TPP với tư cách thành viên chính thức. Tháng 10 năm 2010, Malayxia cũng chính thức tham gia đàm phán Hiệp định TPP. Tháng 12 năm 2012, Canada và Mehico tham gia đàm phán. 07/2013, Nhật Bản tham gia TPP và chốt danh sách các nước tham gia đàm phán là 12 nước.

Như vậy, Hiệp định TPP là (i) thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia (bao gồm Canada, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Australia, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam), được hình thành với mục tiêu hội nhập các nền kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. (ii) là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

2. Quá trình đàm phán

Quá trình đàm phán TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khởng, việc đàm phán TPP đã hoàn tất vào tháng 10/2015. Toàn văn Hiệp định đã được công bố sau đó 01 tháng. Sáng 04/02/2016, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khởng, việc đàm phán TPP đã hoàn tất vào thánút ký vào văn bản này, đánh dấu việc các nước chính thức hoàn tất toàn bộ quá trình đàm phán để có thể bắt đầu thủ tục phê chuẩn tại mỗi nước.

3. V 04/02/2016, t TPP

Sau l04/02/2016, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát t hoàn tất thủ tục phê chuẩn để TPP có hiệu lực. Theo đó, dự kiến sẽ có hiệu lực vào khoảng năm 2018.

Theo quy đ/2016, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát t hoàn tất thủ tục phê chuẩn để TPP có hiệu lực. Theo đó, dự kiến ác nước thành viên TPP thông báo cho New Zealand (nước đóng vai trò Cơ quan lưu chiểu của Hiệp định) về việc đã hoàn tất các thủ tục pháp lý (phê chuẩn) của nước đó; (ii) Nheo quy đ/2016, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho p cách (i) nhưng có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực (tính theo số liệu năm 2013, tức là ít nhất phải bao gồm Hoa Kỳ và Nhật Bản) thông báo đã hoàn tất các thủ tục pháp lý nội bộ, thì Hiệu định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn 02 năm sau đó; (iii) Nheo quy đ/2016, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho p cách (i) nhưng có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực (tính theo số liệu năm 2013, tức là ít nh

Trong các trư16, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho p cách (i) nhưng có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực (tính theo số liệu năm 2013, tức là ít nhất phải bao gồm Hoa Kỳ và Nhật Bản) thông báoẽ phải thông báo với các nước đã thông qua về việc mình đã hoàn thành các thủ tục phê chuẩn nội bộ và ý định muốn là thành viên của Hiệp định. Theo đó, Hiệp định TPP sẽ tự động có hiệu lực với các nước phê chuẩn TPP đợt đầu, còn với các nước còn lại, TPP chỉ có hiệu lực khi được các nước phê chuẩn đợt đầu đồng ý.

Như v các trư16, t TPP đưại tự do thế hệ mới - được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho p cách (i) nhưng có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực (tính theo số liệu năm 2013, Việt Nam có thể hoàn toàn chủ động phê chuẩn TPP để Hiệp định này có hiệu lực với Việt nam ngay trong đợt đầu.

4. Về việc thay đổi thành viên và nội dung của Hiệp định TPP

2. Quá trình đàm phán

Quá trình đàm phán TPP được khởi động từ tháng 3/2010. Qua 19 phiên đàm phán chính thức, 5 phiên cấp Bộ trưởng, việc đàm phán TPP đã hoàn tất vào tháng 10/2015. Toàn văn Hiệp định đã được công bố sau đó 01 tháng. Sáng 04/02/2016, tại thành phố Auckland, New Zealand, Bộ trưởng của 12 nước thành viên tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đặt bút ký vào văn bản này, đánh dấu việc các nước chính thức hoàn tất toàn bộ quá trình đàm phán để có thể bắt đầu thủ tục phê chuẩn tại mỗi nước.

3. Về hiệu lực của TPP

Sau lễ ký này, mỗi nước thành viên có thời gian 02 năm để thực hiện các quy trình nội bộ, hoàn tất thủ tục phê chuẩn để TPP có hiệu lực. Theo đó, dự kiến sẽ có hiệu lực vào khoảng năm 2018.

Theo quy định tại văn kiện Hiệp định thì TPP sẽ chính thức có hiệu lực theo một trong các cách sau: (i) TPP sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày tất cả các nước thành viên TPP thông báo cho New Zealand (nước đóng vai trò Cơ quan lưu chiểu của Hiệp định) về việc đã hoàn tất các thủ tục pháp lý (phê chuẩn) của nước đó; (ii) Nếu trong vòng 02 năm kể từ ngày TPP được ký kết Hiệp định chưa thể có hiệu lực theo cách (i) nhưng có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực (tính theo số liệu năm 2013, tức là ít nhất phải bao gồm Hoa Kỳ và Nhật Bản) thông báo đã hoàn tất các thủ tục pháp lý nội bộ, thì Hiệu định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn 02 năm sau đó; (iii) Nếu cả hai trường hợp trên không xảy ra, thì Hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ thời điểm có ít nhất 06 nước thành viên, chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực thông báo hoàn tất thủ tục pháp lý nội bộ.

Trong các trường hợp TPP có hiệu lực có hiệu lực theo cách (ii) và cách (iii), thì TPP chỉ có hiệu lực với các nước đã hoàn tất quá trình phê chuẩn và thông qua nội bộ tại thời điểm đó. Các nước thành viên còn lại nếu muốn Hiệp định có hiệu lực với mình sẽ phải thông báo với các nước đã thông qua về việc mình đã hoàn thành các thủ tục phê chuẩn nội bộ và ý định muốn là thành viên của Hiệp định. Theo đó, Hiệp định TPP sẽ tự động có hiệu lực với các nước phê chuẩn TPP đợt đầu, còn với các nước còn lại, TPP chỉ có hiệu lực khi được các nước phê chuẩn đợt đầu đồng ý.

Như vậy, có thể thấy, việc TPP có hiệu lực với Việt Nam vào thời điểm nào không hoàn toàn phụ thuộc vào Việt Nam mà còn liên quan tới nhiều nước TPP khác, đặc biệt là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tuy nhiên, Việt Nam có thể hoàn toàn chủ động phê chuẩn TPP để Hiệp định này có hiệu lực với Việt nam ngay trong đợt đầu.

4. Về việc thay đổi thành viên và nội dung của Hiệp định TPP

TPP là một Hiệp định mở và vẫn có thể kết nạp thêm thành viên mới trong tương lai, cho phép thành viên hiện tại rút khỏi Hiệp định và cũng cho phép sửa đổi các nội dung của Hiệp định. Với tính mở như vậy, số lượng thành viên TPP có thể không cố định và có thể thay đổi. Việc TPP có bao nhiêu thành viên có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp của các nước thành viên, đặc biệt là liên quan tới thị trường và quy tắc xuất xứ. Về thị trường, việc thêm bớt thành viên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh ưu tiên ở nhiều hơn hay ít hơn các thị trường. Số lượng các nước thành viên cũng ảnh hưởng tới tình hình cạnh tranh của doanh nghiệp ở thị trường Việt Nam và các nước TPP. Về xuất xứ, do hàng hóa được sản xuất từ nguyên liệu từ nước thành viên TPP sẽ được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ TPP nên việc TPP có nhiều hay ít thành viên sẽ ảnh hưởng tới phạm vi nguồn nguyên liệu có xuất xứ TPP của doanh nghiệp.

5. Về giá trị pháp lý của TPP với quy định pháp luật trong nước

Pháp luật Việt Nam quy định rõ về trách nhiệm thực hiện các quy định tại điều ước quốc tế (Điều 12 Hiếp pháp 2013, Điều 6 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005, Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Khoản 3 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng 2010 …). Theo đó, TPP sẽ là văn bản có giá trị pháp lý được ưu tiên áp dụng so với văn bản quy phạm pháp luật pháp luật trong nước sau khi Hiệp định này có hiệu lực áp dụng.Đây cũng là lý do cho việc cần nghiên cứu, tìm hiểu rõ các quy định của TPP (hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên) khi doanh nghiệp tham gia các giao dịch thương mại quốc tế để đảm bảo việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ theo quy định.

6. Về kết cấu của TPP

Hiệp định TPP điều chỉnh tất cả các khía cạnh quan hệ thương mại giữa các quốc gia TPP. Hiệp định bao gồm 30 chương, các Phụ lục và các thư song phương giữa các quốc gia. Toàn văn của Hiệp định TPP đã được đăng tải đầy đủ và chi tiết trên cổng thông tin điện tử của Bộ Công thương.

7. So sánh TPP và các hiệp định thương mại khác

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh, so với các hiệp định thương mại đã ký trước đây như hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA), Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)…nội dung đàm phán của Hiệp định TPP rộng hơn, bao gồm cả các vấn đề phi truyền thống (như môi trường, lao động, công đoàn, mua sắm công...), vốn không được đề cập hoặc chỉ đề cập có mức độ trong các hiệp định thương mại trước đây. Ngoài ra, Hiệp định TPP còn điều chỉnh cả các vấn đề rất mới như các dịch vụ mới, vấn đề thương mại liên quan chéo (liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực). Với phạm vi rộng như vậy, các cam kết tại Hiệp định TPP sâu rộng hơn, toàn diện hơn các hiệp định thương mại tự do khác.

Thứ hai, về phương pháp tiếp cận, khác so với một số hiệp định thương mại trước đây, Hiệp định TPP đàm phán theo phương pháp chọn bỏ (nghĩa là được làm tất cả ngoài những điều xác định là bị hạn chế). Theo cách tiếp cận này, các quốc gia tham gia đàm phán TPP cần xây dựng bản chào về danh mục các biện pháp không tương thích (danh mục NCM) làm cơ sở để đàm phán bảo lưu hiện trạng các quy định pháp luật, chính sách có nội dung không phù hợp hoặc khác với các nghĩa vụ dự kiến sẽ cam kết trong Hiệp định; đồng thời cũng nhằm xác định quyền linh hoạt trong việc điều chỉnh chính sách đối với một số lĩnh vực/ngành/phân ngành có mức nhạy cảm cao, đáp ứng các mục tiêu phát triển và yêu cầu quản lý nhà nước. Cách tiếp cận này thể hiện yêu cầu tự do hóa ở mức độ cao trong TPP, phạm vi cam kết là tất cả các lĩnh vực/ngành chỉ trừ những lĩnh vực/ngành được đưa vào Danh mục NCM nêu trên.

Thứ ba, về mức độ mở cửa thị trường, Hiệp định TPP được đàm phán theo nguyên tắc WTO cộng (WTO+). Trên cơ sở đánh giá tổng thể về kỳ vọng của các đối tác khi tham gia đàm phán dịch vụ tài chính ngân hàng trong TPP, mức độ yêu cầu cam kết mở cửa đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng trong Hiệp định TPP là ngang bằng hoặc cao hơn so với mức cam kết gia nhập WTO của từng nước thành viên.

8. Về cơ chế kiểm soát thực thi TPP

Để đảm bảo Hiệp định thực hiện đúng và đầy đủ, Hiệp định TPP đưa ra nhiều hình thức kiểm soát việc thực thi của thành viên, như thành lập Hội đồng đối tác xuyên TBD nhằm xem xét các vấn đề liên quan đến thực thi, vận hành TPP và cơ chế giải quyết tranh chấp cấp nhà nước. Ngoài ra, một số chương của Hiệp định (ví dụ mua sắm công, lao động …) cũng có các hình thức bảo đảm thực thi riêng bên cạnh các hình thức chung của TPP như các ủy ban chuyên môn, cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù

Hội đồng đối tác xuyên TBD được thành lập từ các đại diện Chính phủ mỗi bên ở cấp Bộ trưởng hoặc quan chức cấp cao do các bên quyết định của tất cả các nước thành viên Hiệp định. Chức năng chủ yếu là giám sát việc thực thi và vận hành của Hiệp định, ví dụ: rà soát quan hệ kinh tế và đối tác giữa các thành viên sau 03 năm kể từ khi TPP có hiệu lực và ít nhất 05 năm một lần, xem xét các đề xuất sửa đổi, bổ sung Hiệp định, giám sát hoạt động của các Ủy ban và nhóm công tác chuyên môn được thành lập theo Hiệp định.

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong TPP đóng vai trò cơ bản nhất để giám sát việc thực thi TPP trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan tới TPP. TPP có 03 cơ chế giải quyết tranh chấp phổ biến: Một là, cơ chế giải quyết tranh chấp cấp nhà nước giữ các nước thành viên TP, áp dụng hầu hết các chương TPP. Hai là, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước- nhà đầu tư nước ngoài, áp dụng riêng cho Chương đầu tư của TPP. Ba là, có chế giải quyết tranh chấp song phương (ví dụ Chương lao động, trong thư song phương giữa VN và Hoa Kỳ quy định cơ chế xử lý riêng trong trường hợp VN không tuân thủ nghĩa vụ về quyền tự do liên kết người lao động). Như vậy, cơ chế đảm bảo thực thi của Hiệp định TPP khá đa dạng, chặt chẽ, tạo cho các nước thành viên TPP khả năng giám sát tốt, đồng thời cũng tạo ra sức ép cho các quốc gia thành viên TPP nghĩa vụ thực thi đúng các nội dung cam kết tại TPP.

Qua một số nội dung tổng quan về Hiệp định TPP nêu trên, có thể thấy, Hiệp định TPP là một Hiệp định có phạm vi điều chỉnh bao quát, toàn diện, trong đó có nhiều vấn đề mới, không chỉ các vấn đề thương mại truyền thống, mức độ mở cửa thị trường rộng. Theo đó, khi Hiệp định TPP được thực thi trong thời gian tới không chỉ mang đến nhiều thuận lợi cho các nước thành viên mà bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều thách thức cần xử lý. Về thuận lợi, Hiệp định TPP sẽ mang đến cho các nước thành viên một số tác động tích cực như: (i) Việc đảm bảo tiếp cận thị trường một cách toàn diện, bảo đảm sự dịch chuyển tự do ở mức độ cao hơn của hàng hóa, dịch vụ, (ii) Thúc đẩy hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường 12 nước thành viên; (iii) Bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi; (iv) Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; ... Về thách thức, Hiệp định TPP với mức độ mở cửa thị trường rộng sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh lớn, không chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh.

II. Cam kết của Hiệp định TPP trong lĩnh vực ngân hàng Cam k l của Hiệp địn ở thị tong lĩnh vực ngân hàng

 

Nội dung liên quan đến hoạt động ngân hàng trong Hiệp định TPP chủ yếu quy định trong Chương Dịch vụ Tài chính, ngoài ra có một số quy định có liên quan tại Chương Đầu tư và Chương Thương mại dịch vụ xuyên biên giới. Các cam kết cơ bản trong ngành ngân hàng tại TPP có một số nội dung cần chú ý như sau:

1. Về nghĩa vụ minh bạch chính sách

Đây là nội dung cam kết mới so với cam kết WTO, được quy định tại Điều 11.13 Chương Dịch vụ tài chính. Theo cam kết này, để các tổ chức tài chính của các nước TPP có thể tiếp cận và hoạt động hiệu quả trên thị trường của nhau, các nước thành viên ghi nhận tầm quan trọng của việc minh bạch hóa các chính sách quy định hoạt động của các tổ chức tài chính thông qua việc (i) công bố công khai các luật, quy định trước khi ban hành/đang được áp dụng; (ii) tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội tham gia góp ý. Cơ quan quản lý của các nước TPP cũng phải cam kết khung thời gian nhất định để trả lời nhà đầu tư các vấn đề liên quan trong quá trình cấp phép thực hiện các dịch vụ tài chính. Về cơ bản, cam kết này sẽ tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc nhận thức và tiếp cận được hệ thống quy định pháp luật của nước sở tại.

2. Về dịch vụ tài chính mới

Cam kết về dịch vụ tài chính mới cũng là một cam kết mới so với cam kết tại WTO, là một trong những yếu tố để Hiệp định TPP được đánh giá là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cam kết này được quy định tại Điều 11.7 Chương 11 Dịch vụ tài chính. Cam kết về dịch vụ tài chính mới quy định yêu cầu nước thành viên TPP nếu cho phép tổ chức tài chính của mình cung cấp dịch vụ tài chính mới mà không cần phải xây dựng mới hoặc sửa đổi Luật) thì phải cho phép các tổ chức tài chính của nước TPP khác cung cấp dịch vụ tương tự. Tuy nhiên, để thận trọng, an toàn trong việc cho phép cung ứng các dịch vụ tài chính mới. Việt Nam đã bảo lưu nội dung về dịch vụ tài chính mới, theo đó, Việt Nam có thể áp dụng thí điểm cho phép cung cấp dịch vụ tài chính mới và cũng có thể áp dụng giới hạn số lượng nhà cung cấp dịch vụ tham gia thí điểm hoặc giới hạn phạm vi của chương trình thử nghiệm.

3. Về dịch vụ thanh toán điện tử

Cam kết về dịch vụ thanh toán điện tử được quy định tại phần D - Phụ lục 11 - Chương Dịch vụ tài chính. Theo đó, Dịch vụ thanh toán điện tử tại Phụ lục này được hiểu là dịch vụ xử lý dữ liệu điện tử trong giao dịch thẻ, không phải là dịch vụ thanh toán chuyển tiền qua tài khoản. Phụ lục 11-B có quy định, khi cho phép nhà cung cấp của nước cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử cho giao dịch thẻ thanh toán từ lãnh thổ nước kia vào lãnh thổ nước mình, thì nước này có thể quy định nhà cung cấp phải tuân thủ theo một số điều kiện nhất định, cụ thể: (i) Phải đăng ký hoặc xin cấp phép bởi cơ quan có thẩm quyền liên quan; (ii) Phải là nhà cung cấp dịch vụ đó tại lãnh thổ của nước kia; hoặc (iii) ủy quyền cho một đơn vị đại diện hoặc có một đại diện hoặc văn phòng kinh doanh tại lãnh thổ nước này, miễn là các điều kiện này không được sử dụng như một phương tiện để trốn tránh nghĩa vụ mở cửa thị trường về dịch vụ thanh toán điện tử.

Ngoài ra, TPP cho phép một nước thành viên TPP có thể sử dụng các biện pháp vì mục tiêu chính sách như: (i) các biện pháp nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư cá nhân và bảo mật tài liệu, giao dịch và tài khoản của cá nhân, ví dụ hạn chế nhà cung cấp dịch vụ của nước kia trong việc thu thập, chuyển giao thông tin liên quan đến tên chủ thẻ; (ii) quy định về phí, ví dụ phí giao dịch hoặc phí chuyển mạch; và (iii) việc áp dụng các loại phí do cơ quan có thẩm quyền xác định, ví dụ phí để chi trả cho các chi phí liên quan đến việc quản lý hoặc giám sát hoặc để thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng thanh toán của nước này.

Liên quan đến hệ thống thanh toán điện tử, Việt Nam đã ký thư bổ sung với 07 nước trong đó quy định Việt Nam được quy định việc cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử qua biên giới vào Việt Nam phải thông qua đơn vị chuyển mạch thẻ quốc gia, nếu với các điều kiện sau: Một là không được sử dụng như là phương tiện để trốn tránh nghĩa vụ của Việt Nam tại Phần D. Hai là không dẫn đến bất lợi về cạnh tranh cho các nhà cung cấp dịch vụ tại các nước kia. Ba là đảm bảo an toàn, tốc độ, sự tin cậy của dịch vụ, và đảm bảo khả năng được đổi mới dịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài; và bốn là không áp đặt các chi phí không hợp lý, trực tiếp hay gián tiếp đến nhà cung cấp dịch vụ của nước kia.

Đồng thời các thư bổ sung này cũng quy định nếu đơn vị chuyển mạch thẻ quốc gia Việt Nam và nhà cung cấp dịch vụ của nước kia có thỏa thuận về việc xử lý giao dịch thanh toán điện tử, trong đó quy định tiểu chuẩn hoạt động của đơn vị chuyển mạch thì coi như Việt Nam thỏa mãn nghĩa vụ (ii), (iii) và (iv) nêu trên.

Như vậy, theo cam kết này, Việt Nam có quyền áp dụng một số các biện pháp quản lý đối với tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế qua biên giới vào lãnh thổ Việt nam như trong việc cấp phép, quy định về phí, … hoặc có thể bắt buộc chuyển mạch thông qua đơn vị chuyển mạch thẻ quốc gia.

4. Về cung cấp dịch vụ qua biên giới

Chương Dịch vụ tài chính đã có những quy định mới về tiếp cận thị trường, để tạo thuận lợi cho việc tự do hoá dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam, trong đó có quy định về thương mại qua biên giới. Cụ thể, Hiệp định TPP quy định một bên cho phép nhà cung cấp dịch vụ của các nước TPP khác được cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người ở lãnh thổ nước mình mà không phải có hiện diện thương mại hoặc có hoạt động chào hàng tại nước đó. Để quản lý hình thức này, các nước có thể yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ đăng ký hoặc phải được cấp phép. Hầu hết các nước đều cam kết mở cửa dịch vụ ngân hàng qua biên giới với 02 phân ngành, mặc dù câu chữ có thể khác nhau, nhưng nhìn chung bao gồm (i) cung cấp và chuyển thông tin, dữ liệu tài chính, (ii) dịch vụ tư vấn và dịch vụ phụ trợ khác.

Về cơ bản, đây không phải là một cam kết mới mà là nội dung đã mở cửa theo cam kết WTO. Bên cạnh đó, những vấn đề liên quan đến cung cấp dịch vụ xuyên biên giới cũng là một nội dung mà Việt Nam bảo lưu quyền quản lý của cơ quan nhà nước đối với hình thức cung cấp dịch vụ này.

5. Về vấn đề chuyển tiền

Nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, Hiệp định TPP quy định về quyền của nhà đầu tư nước ngoài được chuyển vốn ra và vào Việt Nam. Quyền này không chỉ áp dụng với hình thức đầu tư mà còn áp dụng với hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới. Cụ thể, tại Điều 9.9 Chương Đầu tư quy định nghĩa vụ cho phép nhà đầu tư được tự do chuyển vốn ra và vào Việt Nam. Điều 12 Chương Thương mại dịch vụ xuyên biên giới quy định nghĩa vụ cho phép nhà cung cấp dịch vụ qua biên giới được tự do chuyển tiền và sử dụng ngoại tệ để giao dịch liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ qua biên giới.

Việc chuyển tiền theo nội dung nêu trên sẽ liên quan đến hoạt động quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước. Để đảm bảo quyền điều hành chính sách về ngoại hối, Việt Nam đã hạn chế các quyền tự do chuyển tiền như trên thông qua một số các biện pháp như an toàn thận trọng, biện pháp phòng vệ tạm thời sẽ phân tích dưới đây.

6. Về điều khoản an toàn thận trọng và biện pháp phòng vệ tạm thời

Bên cạnh việc thúc đẩy tự do hoá dịch vụ tài chính, Hiệp định TPP vẫn đảm bảo cho các nước được giữ quyền điều hành thị trường tài chính của mình và áp dụng các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp có khủng hoảng. Điều này thể hiện rõ ở điều khoản “an toàn thận trọng” (prudential carve-out). Điều khoản này quy định những ngoại lệ trong đó cơ quan quản lý tài chính của một nước có thể được áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn tài chính và sự toàn vẹn của hệ thống tài chính. Các biện pháp ngoại lệ có thể là các chính sách sau: (i) Chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng và tỷ giá; (ii) hạn chế chuyển tiền với điều kiện phải đảm bảo sự công bằng, không phân biệt đối xử, thiện chí.

Biện pháp phòng vệ tạm thời được quy định tại Chương 29 (ngoại lệ chung). Đây là biện pháp cho phép áp dụng chính sách linh hoạt trong trường hợp bị mất cân đối về cán cân thanh toán nghiêm trọng và gặp khó khăn tài chính. Theo quy định của TPP, Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp hạn chế về chuyển tiền hoặc thanh toán đối với giao dịch vãng lai và giao dịch vốn, trừ các giao dịch liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, với các điều kiện cơ bản như sau: (i) sự hạn chế là cần thiết trong hoàn cảnh đó; (ii) không can thiệp vào khả năng thu hồi vốn của các nhà đầu tư trong lãnh thổ của Bên hạn chế đối với tài sản bị hạn chế, trong trường hợp hạn chế về luồng vốn, (iii) chỉ mang tính tạm thời và phải loại bỏ dần trong khoảng thời gian nhất định quy định tại Chương 29 Hiệp định TPP.

7. Về cơ chế đối thoại và giải quyết tranh chấp

Nhằm xử lý những vấn đề là rào cản không cần thiết cho việc gia nhập thị trường, Chương Dịch vụ tài chính đã bổ sung những quy định thúc đẩy đối thoại giữa cơ quan thẩm quyền các nước và thành lập Uỷ ban Dịch vụ tài chính. Theo Điều 11.19 Chương Dịch vụ tài chính, Uỷ ban này đảm trách việc giám sát thực hiện quy định của chương này, xem xét các vấn đề về dịch vụ tài chính và tham gia vào các thủ tục trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước. Bên cạnh đó, Chương này cũng quy định cơ chế tham vấn tại Điều 11.20; trong đó, một nước có thể yêu cầu tham vấn với nước kia về một vấn đề liên quan đến dịch vụ tài chính theo nghĩa vụ đã cam kết. Nước kia phải có phản hồi. Cơ chế tham vấn được sử dụng để trao đổi thông tin giữa hai nước và đề ra giải pháp giải quyết vấn đề.

Về cơ chế giải quyết tranh chấp, một trong những nội dung nổi bật của Chương Dịch vụ tài chính là có cơ chế giải quyết tranh chấp riêng cho dịch vụ tài chính. Cụ thể, nếu nhà đầu tư của một nước khiếu nại một nước khác vi phạm một điều khoản trong chương này, các bên sẽ thành lập một hội đồng trong tài và thực hiện các thủ tục giải quyết tranh chấp theo nội dung của Chương 28 Hiệp định về Giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dịch vụ hành chính có bổ sung thêm yêu cầu về việc đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn của Trọng tài viên so với chuyên môn của trọng tài viên của Chương 28 (Giải quyết tranh chấp). Theo đó, các bên có thể yêu cầu trọng tài viên phải có kiến thức chuyên môn hoặc kinh nghiệm về thực tế cũng như luật liên quan đến dịch vụ tài chính. Ngoài ra, khi một nhà đầu tư của một bên (nguyên đơn) kiện lên trọng tài và nước bị kiện (bị đơn) viện dẫn quy định về ngoại lệ để bảo vệ thì việc giải quyết sẽ thực hiện theo thủ tục như sau:

Cách 1: Bị đơn nộp bản giải trình lên cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ tài chính của bên nguyên đơn, yêu cầu cho một phán quyết chung giữa cơ quan này của bên nguyên đơn và bên bị đơn về việc áp dụng điều khoản ngoại lệ để bảo vệ bị đơn trước đơn kiện. Trong trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ tài chính ra được 01 phán quyết chung thì phán quyết này sẽ có giá trị bắt buộc trước tòa và việc tuyên án của tòa phải phù hợp với phán quyết đó.

Cách 2: Nếu trong vòng 120 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của bị đơn như đã nêu ở cách 1 mà các bên không có phán quyết chung thì các bên có thể yêu cầu thành lập Hội đồng trọng tài để tiếp tục xử lý theo trình tự tại Chương 28 (Giải quyết tranh chấp).

Như vậy, cơ chế tham vấn và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đã mở thêm cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua con đường nhà nước (thông qua tham vấn, ra phán quyết chung). Tạo thêm cơ chế để có thể hòa giải và giải quyết thiện chí nhất các tranh chấp, xung đột có thể xảy ra giữa nhà đầu tư và nhà nước.

8. Về biện pháp không tuân thủ

Các điều khoản về nghĩa vụ trong chương Dịch vụ tài chính sẽ có hiệu lực đối với mỗi thành viên TPP tuỳ theo danh mục các biện pháp không tuân thủ của nước đó (non-conforming measures- NCM). Phụ lục NCM áp dụng phương pháp chọn bỏ, nghĩa là ngoài những nội dung trong danh mục này thì các nước TPP sẽ phải tuân thủ lời văn của chương Dịch vụ tài chính. Phụ lục NCM được chia làm hai phần: Phần A quy định các biện pháp hiện hành mà các nước TPP được phép duy trì. Biện pháp được hiểu là quy định của pháp luật, chính sách, quyết định, thực tiễn hoặc thủ tục của cơ quan nhà nước. Những biện pháp này có thể hạn chế quyền tiếp cận thị trường, hoặc phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhau… Các biện pháp hiện hành này sẽ phải áp dụng cơ chế “không lùi chỉ tiến” (rachet), tức là (i) một khi đã dỡ bỏ các biện pháp này thì sẽ không được áp dụng lại nữa và (ii) chỉ có mở cửa tự do hơn mà thôi. Tuy nhiên, Việt Nam có thời hạn 03 năm chuẩn bị kể từ khi hiệp định TPP có hiệu lực trước khi chính thức áp dụng cơ chế này.

Phần A NCM quy định các biện pháp bảo lưu về hình thức hiện diện thương mại, tỷ lệ sở hữu của tổ chức và cá nhân nước ngoài tại tổ chức tài chính của Việt Nam, điều kiện cấp phép cho hiện diện thương mại tại Việt Nam của tổ chức nước ngoài, hạn chế mở văn phòng đại diện, nhân sự quản lý, phạm vi hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong đó, phần lớn đều là những bảo lưu đã có trong bảng cam kết của Việt Nam tại WTO, chỉ có một số sự khác biệt do sự thay đổi về chính sách như sau: về tỷ lệ sở hữu cổ phần (theo Nghị định 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam), về quy định chỉ có người mang quốc tịch Việt Nam được làm cổ đông sáng lập tại ngân hàng thương mại (Thông tư 40/2011/TT-NHNN), về yêu cầu tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được mở một văn phòng đại diện tại mỗi tỉnh thành (Luật các tổ chức tín dụng) hay quy định về việc quy định một số chức danh quản lý tổ chức tín dụng phải cư trú ở Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ (Luật các tổ chức tín dụng), …

Phần B NCM liệt kê bảo lưu cho những ngành nghề và hoạt động, trong đó các nước TPP sẽ bảo lưu quyền duy trì các biện pháp phân biệt đối xử và/hoặc áp dụng biện pháp phân biệt đối xử hơn trong tương lai. Cơ chế “không lùi chỉ tiến” sẽ không áp dụng với phần B. Phần B NCM quy định những hoạt động mà Việt Nam sẽ bảo lưu, bao gồm vấn đề cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước, về trợ cấp tài trợ của ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô vì mục đích phi lợi nhuận; về lĩnh vực dịch vụ tài chính mới, về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới đối với dịch vụ tài chính, hỗ trợ tài chính như khoản vay được chính phủ bảo lãnh, cho vay chính sách.

Đối với chương Doanh nghiệp nhà nước và độc quyền chỉ định, mặc dù chương này về cơ bản không ảnh hưởng đến hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương nhưng cũng có một bảo lưu cần lưu ý tại Phụ lục IV liên quan đến hoạt động của Công ty cổ phần Chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknetvn), Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) và một số tổ chức tài chính khác. Đối với riêng Banknetvn, Việt Nam có thể hỗ trợ tổ chức này cung cấp dịch vụ chuyển mạch tài chính.

9. Về tác động của Hiệp định TPP

Hiệp định TPP mang lại cơ hội phát triển thị trường lớn cho các ngân hàng Việt Nam. Cụ thể, khi Hiệp định TPP chính thức có hiệu lực, giao lưu thương mại giữa các thành viên gia tăng, do vậy, nhu cầu tín dụng, thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác sẽ gia tăng. Đây là cơ hội lớn để hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam mở rộng thị trường, thị phần, khách hàng, dịch vụ cung ứng (cấp tín dụng, thanh toán, …). Tuy nhiên, Hiệp định TPP cũng mang lại thách thức về năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng. Theo đó, bên cạnh việc gia tăng thị phần khách hàng như đã phân tích, TPP cũng mở rộng thị trường cho tổ chức tín dụng nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam. Điều này sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh lớn cho hệ thống tổ chức tín dụng trong nước do năng lực cạnh tranh của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam nhìn chung còn yếu. Trong khi đó, các quốc gia thành viên TPP lại có hệ thống tổ chức tín dụng, ngân hàng rất phát triển như Mỹ, Singapore, Canada, Úc …. Ngoài ra, Hiệp định TPP cũng tạo ra áp lực cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý đã cam kết tại Hiệp định TPP; trong đó bao gồm việc hoàn thiện chính sách, thực hiện biện pháp quản lý điều hành để thúc đẩy cạnh tranh và hoạt động an toàn, lành mạnh của tổ chức tín dụng.

10. Một số kiến nghị

Với cơ hội và thách thức như trên, cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng cần có sự chuẩn bị tốt để có thế tận dụng tối đa lợi ích từ Hiệp định TPP.

- Về phía cơ quan quản lý, thứ nhất, trong thời gian qua, trên thực tế ngành ngân hàng đã đạt nhiều thành tựu nhất định trong công tác tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng. Để sẵn sàng hơn cho TPP, Việt Nam cần tiếp tục đẩy nhanh công tác xử lý các vấn đề còn tồn đọng đã diễn ra trong thời gian qua như xử lý nợ xấu, tăng cường tốc độ và hiệu quả công tác tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, có biện pháp nâng cao năng lực quản trị điều hành, nhân lực của tổ chức tín dụng… trong khoảng thời gian TPP chính thức có hiệu lực (dự kiến là 02 năm), đảm bảo sự sẵn sàng về năng lực và sức cạnh tranh của tổ chức tín dụng gia nhập TPP.

Thứ hai, Việt Nam cần nội luật hóa các quy định cần thiết để đảm bảo thực thi các cam kết của Hiệp định TPP. Để Hiệp định TPP có hiệu lực và đảm bảo thực thi có hiệu quả, cơ quan nhà nước cần nghiên cứu, sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật để nội luật hóa một số nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết. Qua rà soát sơ bộ, một số khoảng trống pháp lý cần phải nghiên cứu để ban hành như: (i) Quy định liên quan đến việc cung cấp dịch vụ ngân hàng qua biên giới đối với 02 loại dịch vụ mà Việt Nam đã cam kết: Vấn đề cấp phép, giám sát, quản lý nhà cung cấp dịch vụ ...; (ii) Quy định về dịch vụ tài chính mới: Khái niệm, cấp phép, cơ chế thí điểm, quản lý và giám sát nhà cung cấp dịch vụ đối với dịch vụ tài chính mới; (iii) Chính sách về thanh toán liên quan đến dịch vụ thanh toán điện tử đối với giao dịch thẻ quốc tế, chính sách liên quan đến hệ thống thanh toán điện tử phù hợp với cam kết của TPP; …

- Về phía hệ thống các tổ chức tín dụng, trước hết, tổ chức tín dụng cần nhận thức được nội dung cam kết TPP, để qua đó tự đánh giá cơ hội và thách thức và có những giải pháp cho riêng mình trước cơ hội và thách thức đó. Một điều quan trọng cần được lưu ý là, Hiệp định TPP có thể có những điều khoản thuận lợi, pháp luật có thể có những chính sách thuận lợi, nhưng người trực tiếp vận dụng nó và nắm cơ hội để tạo nên thành tựu phát triển là bản thân các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Bởi vậy mà sự nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với Hiệp định TPP là điều rất cần thiết.

Thứ hai, cần nâng cao tiêu chuẩn chất lượng quản trị ngân hàng, thông qua việc nghiên cứu áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị ngân hàng tốt, bao gồm cấu trúc sở hữu, chức năng và nhiệm vụ của các chức danh quản lý, cơ chế quản lý rủi ro, kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động của ngân hàng. Việc nâng cấp chuẩn mực quản trị, hướng tới thông lệ quốc tế tốt hơn sẽ giúp tổ chức tài chính đủ năng lực, tự tin khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập với các nước khác

Thứ ba, tiếp tục tham gia tích cực để làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, thông qua quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu. Tái cơ cấu và xử lý nợ xấu là công việc cần thiết, bởi những khoản nợ xấu còn tồn tại sẽ đe dọa đến khả năng phục hồi và phát triển bền vững của ngân hàng và cũng cản trở sự chuẩn bị của ngân hàng để đương đầu với cạnh tranh từ ngân hàng nước ngoài.

Thứ tư, tổ chức tín dụng cần chủ động quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực cho riêng mình, chú trọng đào tạo về cả chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, việc tạo môi trường lao động lành mạnh, khuyến khích sự sáng tạo, tạo động lực cho nhân viên cũng là điều quan trọng để họ đóng góp vào sự phát triển của ngân hàng.

Thứ năm, tích cực đa dạng hóa dịch vụ, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân như phát triển thêm các dịch vụ thanh toán qua mobile, internet, …

Tóm lại, có thể thấy, Hiệp định TPP là một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Hiệp định TPP sẽ tạo thuận lợi cho các tổ chức tài chính Việt Nam được tiếp cận với nguồn vốn, công nghệ và năng lực quản lý điều hành chuyên nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài mang lại. Tuy nhiên, Việt Nam cần giải quyết nhiều thách thức để cải thiện khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi ích mà hiệp định mang lại. Thách thức này đòi hỏi sự nỗ lực sự cố gắng của tất cả chúng ta, các nhà quản lý, hệ thống tổ chức tín dụng, từng cá nhân để thực hiện một số kiến nghị như đã nêu trên trong giai đoạn bước đệm trước khi TPP có hiệu lực. Sẵn sàng tiếp nhận TPP một cách chắc chắn và hiệu quả nhất./.

 

Đậu Thị Mai Hương - PC

Đ- PChị Mai Hươnghấy,

 

Tài liệu tham khảo:

1. Toàn văn Hiệp định TPP, Cổng thông tin điện tử Bộ Công thương.

2. Bài viết “TPP, cơ hội và thách thức – Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, tháng 02/2016.

3. Bài viết “Góc nhìn TPP của cố vấn Trương Đình Tuyển”, bài viết “Cải cách thể chế là quyết định” trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ tháng 03/2016.

4. Nội dung cam kết gia nhập Hiệp định TPP của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 

 

 

Tài li dung cam kết

1. Toàn văn Him kết gia nhập Hiệp định TPP của Việt Nam trong lĩn

2. Bài viết “TPP, cơ hội và thách thức – Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, tháng 02/2016.

3. Bài viết “TPP, cơ hội và thách thức – Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Cổng thông tithông tin điện tử Chính phủ tháng 03/2016.

4. Nài viết “TPP, cơ hội và thách thức – Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Cổng thông tithông tin điện tử Chính phủ thá.

 

 

1

 

  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
CÁC TIN KHÁC
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
03:06, 10/02/2026
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
17:00, 02/02/2026
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
09:16, 29/01/2026
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
09:13, 22/01/2026
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
11:28, 19/01/2026
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
22:00, 15/01/2026
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
09:51, 14/01/2026
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
09:53, 09/01/2026
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
15:00, 08/01/2026
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
03:32, 18/12/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready