a) Tên Đề tài: "Lãi suất cho vay tiêu dùng ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp quản lý", Mã số: DTNH.06/2014
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
c) Những người tham gia chính:
1. TS. Nguyễn Thị Kim Thanh - Ủy viên HĐQT, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chủ nhiệm;
2. CN. Nguyễn Thùy Linh - Thư ký khoa học;
3. ThS. Phạm Xuân Hòe- Phó Viện trưởng, Viện CLNH;
4. ThS. Phạm Huyền Anh- Vụ trưởng Vụ 5, Cơ quan Thanh tra, GSNH
5. ThS. Đinh Xuân Hà- Trưởng phòng, Viện CLNH
6. ThS. Nguyễn thị Hiền- Trưởng phòng, Viện CLNH
7. ThS. Phạm Hà Phương- Chuyên viên, Viện CLNH
8. ThS. Từ thị Kim Thanh - Phó Chánh Văn Phòng NHNN.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ:
Đề tài nhằm mục tiêu nghiên cứu thông lệ quốc tế và các phương pháp xác định lãi suất cho vay tiêu dùng; đặc điểm, bản chất, sự khác biệt về lãi suất cho vay tiêu dùng với lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh, giữa ngân hàng thương mại và công ty tài chính, từ đó đề xuất về hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với việc xác định lãi suất cho vay, các biện pháp giám sát, quản lý các tổ chức tài chính có hoạt động cho vay tiêu dùng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
– Thời gian bắt đầu: Tháng 04/2014;
– Thời gian kết thúc: Tháng 02/2016.
e) Kinh phí thực hiện: 180 triệu đồng
g) Kết quả thực hiện
Đề tài DTNH.06/2014 đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đặt ra với các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu các vấn đề khái quát về hoạt động CVTD và các vấn đề về lãi suất, bao gồm Thông lệ quốc tế về nghiệp vụ CVTD và phương pháp xác định lãi suất CVTD; phương pháp tính, đặc điểm, bản chất, sự khác biệt về lãi suất CVTD với lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh, giữa NHTM và công ty tài chính; mục tiêu quản lý lãi suất CVTD và kinh nghiệm quản lý lãi suất CVTD tại một số nước và khu vực. Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả rút ra một số kết luận quản lý lãi suất cho vay tiêu dùng tại các nước như: (i) Việc quản lý lãi suất phụ thuộc vào mục tiêu quản lý hoạt động CVTD của cơ quan quản lý và đặc điểm của thị trường CVTD tại nước sở tại; (ii) Việc quản lý lãi suất CVTD thực hiện theo 2 phương pháp chủ yếu là: minh bạch lãi suất cho vay hoặc áp dụng trần lãi suất.
Chương 2 nghiên cứu về thực trạng về lãi suất CVTD ở Việt Nam, bao gồm: khuôn khổ pháp lý về lãi suất CVTD của Việt Nam hiện nay; thực trạng lãi suất CVTD; phương pháp xác định lãi suất và phương pháp thu lãi của các TCTD CVTD ở Việt Nam hiện nay và các nhân tố tác động đến việc hình thành lãi suất CVTD. Nghiên cứu tại chương 2 cho thấy Việt Nam đã ban hành các quy định cụ thể về phương thức tính lãi của các TCTD nhưng chưa có quy định về các mức phí; mức lãi suất cho vay của các CTTC vừa cao hơn lại vừa có mức chênh lệch khá lớn giữa các công ty. Khách hàng vay tiêu dùng ở Việt Nam có rất ít khả năng để tham gia thỏa thuận lãi suất, việc công bố lãi suất và các chi phí khác của khoản vay đôi khi còn thiếu rõ ràng. Các khuôn khổ pháp luật bảo vệ khách hàng trong các giao dịch tài chính như CVTD chưa được hình thành, Luật bảo vệ người tiêu dùng không đề cập đến các giao dịch tài chính. Các CTTC ngoài vốn tự có và vốn vay từ công ty mẹ, thì vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn đi vay từ các TCTD khác.
Trên cơ sở kết quản nghiên cứu tại chương 1 và chương 2, chương 3 của đề tài đưa ra kiến nghị và đề xuất trong điều hành và quản lý lãi suất CVTD tại Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị đối với cơ quan quản lý về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động CVTD, đặc biệt là các quy định quản lý lãi suất. Trong đó, cần có sự thống nhất quan điểm về việc áp dụng trần lãi suất với mục tiêu bảo vệ những người đi vay yếu thế; xây dựng phương pháp xác định các trần lãi suất khoa học và phù hợp cho một số loại CVTD; nhấn mạnh cả các yếu tố phí ngoài lãi, đồng thời yêu cầu công bố thông tin và tư vấn cho khách hàng. Bên cạnh các quy định về lãi suất thì quy định về CVTD cũng cần tiếp tục hoàn thiện các nội dung như: quyền của khách hàng vay, yêu cầu cho vay có trách nhiệm. Cùng với đó, NHNN cũng cần chú trọng các vấn đề như: nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin tín dụng; đẩy mạnh hoạt động truyền thông đối với người dân, và xây dựng các cơ chế phù hợp để bảo vệ lợi ích của khách hàng. Đồng thời về phía các TCTD, đề tài cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm lãi suất cho vay thông qua nâng cao hiệu quả hoạt động để giảm chi phí hoạt động trung bình, tăng cường mối liên kết với các đại lý và triển khai các hình thức bán hàng hiện đại; cải thiện hệ thống chấm điểm tín dụng.
Nội dung nghiên cứu của đề tài được Hội đồng đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại giỏi.