Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Hợp tác nghiên cứu

TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2013

20/01/2014 17:39:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Năm 2013 đã khép lại với những tín hiệu kinh tế khởi sắc từ nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Tại thời điểm đầu năm, hếu hết các tổ chức tài chính lớn như IMF, World Bank đều nhận định không mấy lạc quan về triển vọng của các nền kinh tế trên toàn cầu, với những dự đoán bấp bênh về kinh tế Mỹ, hay kinh tế châu Âu tiếp tục ảm đạm, thậm chí có khả năng tăng trưởng âm trong vài năm tới. Kết thúc năm 2013, điều bất ngờ là tăng trưởng của Mỹ đã dần tăng tốc, bất chấp đám mây đen từ bất đồng chi tiêu ngân sách của Chính phủ, kinh tế châu Âu nói chung và khu vực đồng Euro nói riêng đã hồi phục mặc dù với tốc độ rất chậm, Nhật Bản lần đầu tiên thoát khỏi tình trạng giảm phát sau 15 năm và Trung Quốc duy trì được đà tăng trưởng. Trên thị trường tiền tệ, giá cả các đồng tiền chính như Đô-la Mỹ, Yên Nhật và đồng Euro có nhiều biến động không ngừng, nhưng luôn theo một xu hướng nhất định phù hợp với thay đổi chính sách kinh tế, tài chính – tiền tệ tại các khu vực. Thị trường chứng khoán có một năm sôi động, trái ngược với thị trường vàng lao dốc trong suốt năm qua.

  • Các nền kinh tế chủ chốt
  • Kinh tế Mỹ
  • Năm 2013, mặc dù kinh tế Mỹ còn nhiều khó khăn nhưng đã đi vào ổn định. Tài chính eo hẹp và nợ công ở mức cao vẫn là nhân tố kìm hãm sự phát triển, là nguyên nhân gây bất đồng giữa hai Đảng chính trị của nước này. Tuy vậy, vẫn có rất nhiều các nhân tố khác hỗ trợ cho tăng trưởng GDP như đầu tư tư nhân vào hàng hóa tồn kho, tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình, xuất khẩu, chi tiêu của Chính phủ và chính quyền địa phương. Theo công bố của Cục Phân tích Kinh tế Mỹ, tăng trưởng GDP quý 3 của nước này là 3,6%, cao hơn dự báo trước đó của cơ quan này là 2,8% và của các nhà chuyên gia kinh tế là 3,1%. Những tín hiệu rõ rệt nhất cho thấy kinh tế đi lên tại Mỹ hiện nay là tỷ lệ thất nghiệp giảm, tỷ lệ lạm phát tăng và tăng trưởng GDP được cải thiện. Dựa trên những yếu tố này, ngày 18/12/2013, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã quyết định giảm giá trị gói hỗ trợ QE 3 kể từ tháng 1/2014 từ 85 tỷ USD xuống còn 75 tỷ USD, trong đó giảm mua nợ xấu 5 tỷ USD và giảm quy mô quỹ phòng chống rủi ro là 5 tỷ USD.

  • Tỷ lệ thất nghiệp giảm
  • Những tháng đầu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ tiếp nối đà suy giảm từ năm 2012, xoay quanh mốc 7,5- 7,6%. Kể từ tháng 7 đến nay, tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm mạnh, đặc biệt là những tháng cuối năm. Tháng 11 vừa qua, nước Mỹ đã có thêm 203.000 việc làm, đưa tỷ lệ thất nghiệp nước này lần đầu tiên giảm xuống còn 7%, mức thấp nhất kể từ năm 2009. Bên cạnh đó, theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, số giờ làm việc bình quân hàng tuần đã tăng 0,1 giờ lên 34,5 giờ. Mỹ đã mất khoảng 8.7 triệu việc làm sau khủng hoảng tài chính và tính tới tháng 11/2013, nước này đã khôi phục được khoảng 7,4 triệu việc làm. Các doanh nghiệp rõ ràng đã tiến hành cắt giảm nhân sự rất mạnh trong thời kỳ suy thoái kinh tế nhưng hiện tại hoạt động kinh doanh đang dần ổn định trở lại nhờ cầu tiêu dùng được cải thiện và đã thuê mướn thêm nhân công.

    Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm trong năm 2013, nhưng tốc độ vẫn còn khá chậm nên chưa thể khẳng định thị trường lao động nước này đang phục hồi bền vững. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn cho rằng tỷ lệ thất nghiệp cần phải giảm thêm nữa và đã cam kết duy trì mức lãi suất thấp 0% - 0,25% cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp đạt mốc 6,5%. Cơ quan này cũng dự báo tỷ lệ thất nghiệp sẽ nằm trong khoảng 6,3% - 6,6% trong năm tới.

    Biểu đồ 1: Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ năm 2000 đến nay

    (Nguồn:U.S.Bureau of Labour Statistics)

  • Thâm hụt ngân sách giảm
  • Trong năm 2013, tăng thuế, cắt giảm chi tiêu và kinh tế tăng trưởng tốt hơn giúp thâm hụt ngân sách chính phủ Mỹ giảm mạnh, đạt mức thấp nhất kể từ năm 2008. Cụ thể, theo Bộ Tài chính Mỹ, tính đến hết tháng 9/2013, thâm hụt tài khóa của Mỹ khoảng 680 tỷ USD, giảm 409 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, thu ngân sách tăng 13,3% lên 2,77 nghìn tỷ USD và chi ngân sách giảm 2,4% còn 3,45 nghìn tỷ USD. Lần đầu tiên trong vòng 5 năm qua, thâm hụt ngân sách Mỹ đạt dưới 1.000 tỷ USD, đặc biệt tính riêng tháng 9/2013, ngân sách ở mức thặng dư 75 tỷ USD. Thu ngân sách tăng một phần lớn là nhờ các khoản thu từ thuế cho thấy các doanh nghiệp Mỹ đã thoát khỏi đình trệ.

    Nhiều nhà kinh tế học cho rằng, chính sách thắt lưng buộc bụng của chính quyền Mỹ là một nguyên nhân kiềm chế tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tuy chính sách tài khóa thắt chặt nhưng tăng trưởng GDP nước này trong quý 3 vẫn rất lạc quan ở mức 3,6%. Mặt khác, nợ quốc gia của Mỹ đã vượt ngưỡng 17.400 tỷ USD, tăng gần 70% so với đầu năm 2009 là một mối nguy tiềm tàng đối với quốc gia này. Giảm chi tiêu của Chính phủ và chính quyền liên bang trong giai đoạn hiện nay, do đó, là điều cần thiết.

  • Giá nhà và chỉ số niềm tin tiêu dùng của người Mỹ tăng lên
  • Trong những tháng đầu năm 2013, thị trường nhà đất của Mỹ đã có dấu hiệu phục hồi: số nhà mới bán ra tại Mỹ tăng lên, đồng thời giá nhà cũng được nâng lên một mức mới. Giá nhà tại Mỹ tiếp tục đà tăng 18 tháng liên tiếp tính đến tháng 11 năm 2013. Mức giá nhà tháng 11 thấp hơn 8,8% so với mức giá cao nhất tháng 4 năm 2007 và xấp xỉ mức giá nhà tháng 4 năm 2005 theo số liệu của Cơ quan Tài chính Nhà ở Liên bang (FHFA). Doanh số bán nhà cũng đạt tăng trưởng ấn tượng, với doanh số trong tháng 11 là 464.000 căn, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm ngoái bất chấp lãi suất vay thế chấp nhà tăng cao trong thời gian gần đây. Các số liệu khả quan về tình hình nhà đất cho thấy xu hướng tích cực trong năm 2013 trên thị trường này. Giống như lãi suất vay thế chấp nhà tăng cao, việc FED thu hẹp chương trình mua tài sản cũng được dự báo sẽ không tác động nhiều đến thị trường bất động sản.

    Theo số liệu của tổ chức nghiên cứu Conference Board công bố ngày 28/5, chỉ số niềm tin tiêu dùng tháng 5 của Mỹ tăng lên 76,2 điểm từ mức 69 điểm của tháng 4, cao nhất kể từ tháng 2/2008 và vượt xa dự báo của các nhà kinh tế. Người tiêu dùng Mỹ đã lạc quan hơn về sức khỏe của nền kinh tế trong 6 tháng cuối năm sắp tới, đặc biệt là về triển vọng việc làm, dẫn đến thái độ đối với chi tiêu tiêu dùng cũng trở nên tích cực hơn. Chỉ số đánh giá kỳ vọng của người Mỹ vào nền kinh tế cũng tăng từ 74,3 điểm trong tháng 4 lên 82,4 điểm trong tháng 5, cao nhất kể từ đầu năm. Mặt khác, giá bất động sản và cổ phiếu tăng đã làm tăng giá trị tài sản của các hộ gia đình và khiến người Mỹ tăng mức độ sẵn sàng chi tiêu.

    Biểu đồ 2. Chỉ số giá nhà hàng tháng từ năm 1991 đến năm 2013

    (Nguồn: FHFA)

    Biểu đồ 3: Chỉ số giá nhà hàng tháng đã điều chỉnh theo thời vụ so với đỉnh điểm tháng 4 năm 2007

    (Nguồn: FHFA)

  • Kinh tế khu vực châu Âu
  • Kinh tế châu Âu năm 2013 vẫn còn nhiều bất ổn và không đồng nhất giữa các quốc gia thành viên. Dường như châu lục này vẫn chưa tìm được giải pháp thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công dai dẳng, thậm chí đầu năm 2013 khủng hoảng ngân hàng tại Síp đã khiến cả châu Âu chao đảo. GDP của khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) giảm 0,2% trong quý đầu tiên của năm, cũng là quý giảm thứ 6 liên tiếp. Bước sang quý 2, kinh tế Châu Âu bất ngờ xuất hiện những tín hiệu khởi sắc. GDP quý 2 của khu vực đồng Euro và của 28 nước trong Liên minh châu Âu (EU) lần lượt là 0,3% và 0,4% so với quý trước đó. Sự khởi sắc này còn được phản ánh qua chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (Purchasing Managers’ Index - PMI). Trong 6 tháng đầu năm 2013, PMI của khu vực châu Âu liên tục ở dưới 50 điểm – mức điểm cho thấy sự thu hẹp sản xuất. Tuy nhiên, PMI đã thay đổi hoàn toàn kể từ tháng 7/2013 khi chỉ số này bất ngờ tăng trên mức 50 điểm (tháng 7: 50,5 điểm, tháng 8: 51,5 điểm, và tháng 9: 52,2 điểm). Ai-len và Đức vẫn là những nước dẫn đầu về PMI trong số các nước Eurozone với các mức điểm lần lượt là 55,7 điểm và 53,2 điểm trong tháng 9/2013, chỉ số PMI của Italia và Pháp trong tháng 9/2013 cũng bất ngờ phục hồi trên mức 50 điểm (lần lượt là 52,8 và 50,5 điểm). Đáng tiếc là đà phục hồi này không được giữ vững khi quý 3 chứng kiến sự lao dốc của một loạt các nền kinh tế ở khu vực này. Các quốc gia như Pháp, Italia đột ngột tăng trưởng âm, và đặc biệt là Síp với -0,8% tăng trưởng GDP toàn quý. Kinh tế chững lại có thể quan sát rõ ràng nhất ở khu vực đồng Euro với chỉ 0,1% tăng trưởng, trong khi đó 28 nước trong Liên minh châu Âu (EU) có sự vượt trội hơn, với 0,2%, tuy con số này vẫn là rất nhỏ.

    Chênh lệch mức độ phát triển giữa các nền kinh tế châu Âu không có dấu hiệu thu hẹp lại mà ngày càng rộng ra dưới tác động của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu. 7/27 nước của khu vực châu Âu vẫn đang chìm trong suy thoái sau nhiều quý tăng trưởng âm liên tiếp, một số nền kinh tế khác đã có dấu hiệu phục hồi nhưng còn rất yếu. Đức, Anh vẫn là những nền kinh tế hàng đầu của châu Âu với tiềm lực kinh tế và tốc độ phục hồi mạnh.

     

     

     

     

    Biểu đồ 4. Tăng trưởng GDP của 28 nước châu Âu, khu vực Eurozone và Mỹ năm 2005 đến Quý 3 năm 2013

    (Nguồn: Eurostat)

  • Lạm phát tăng nhẹ vào những tháng cuối năm
  • Tuy có hiện tượng tăng nhẹ ở một số tháng cuối năm nhưng nhìn chung xu hướng giảm vẫn là chủ đạo trong diễn biến lạm phát cả năm 2013 của khu vực Eurozone cũng như của 28 nước châu Âu. Cụ thể, tại khu vực Eurozone, sau khi giảm từ 1,1% tháng 9/2013 xuống 0,7% tháng 10/2013, lạm phát nhích nhẹ lên 0,9% vào tháng 11/2013 nhưng lại theo đà giảm xuống 0,8% vào tháng 12/2013. Ở Liên minh châu Âu, tỷ lệ lạm phát cũng có xu hướng tương tự, giảm từ 1,3% tháng 9/2013 xuống 0,9% tháng 10 năm 2013, tăng nhẹ lên 1% tháng 11/2013 và tiếp đà giảm xuống 0,9% vào tháng 12/2013. Rõ ràng, con số này khá thấp so với con số những tháng đầu năm (1,7% - 1,8%) và càng xa mức mục tiêu đặt ra của cả 2 khu vực này là 2%.Thậm chí, một số quốc gia như Hy Lạp đang phải đối mặt với tình trạng giảm phát trầm trọng -2,9% trong tháng cuối năm 2013. Cùng kỳ năm ngoái, tỷ lệ này là 2,6% và 2,7% đối với khu vực Eurozone và khu vực châu Âu.

    Biều đồ 5. Tỷ lệ lạm phát hàng tháng (%) tại khu vực đồng Euro và Liên minh châu Âu (EU) (tháng 11/2009 – tháng 11/2013)

    (Nguồn: Eurostat)

    Bảng 1. Tỷ lệ lạm phát tại một số quốc gia châu Âu những tháng cuối năm 2013

    Quốc gia

    Tỷ lệ lạm phát

    11/2013

    10/2013

    9/2013

    8/2013

    11/2012

    Bỉ

    0,9

    0,7

    1,0

    1,1

    2,2

    Đức

    1,6

    1,2

    1,6

    1,6

    1,9

    Hy Lạp

    -2,9

    -1,9

    -1,0

    -1,0

    0,4

    Pháp

    0,8

    0,7

    1,0

    1,0

    1,6

    Áo

    1,5

    1,5

    1,8

    2,0

    2,9

    Bồ Đào Nha

    0,1

    0,0

    0,3

    0,2

    1,9

    Khu vực đồng Euro

    0,9

    0,7

    1,1

    1,3

    2,2

    Anh

     

    2,2

    2,7

    2,7

    2,7

    EU

    1,0

    0,9

    1,3

    1,5

    2,4

    (Nguồn: Eurostat)

  • Tỷ lệ việc làm ổn định ở mức thấp
  • Số lượng công ăn việc làm được duy trì tương đối ổn định ở mức thấp trên khu vực đồng Euro và Liên minh châu Âu trong 3 quý đầu năm 2013 theo số liệu của Eurostat - cơ quan thống kê của Liên minh châu Âu. So với cùng kỳ năm ngoái, số việc làm đã giảm 0,8% tại khu vực đồng Euro và 0,3% tại Liên minh châu Âu trong quý 3 năm nay. Đa số các quốc gia châu Âu có số lượng công ăn việc làm giảm đi so với năm 2012, đặc biệt là Hy Lạp, Tây Ban Nha và Italia. Tuy nhiên một số ít các quốc gia vẫn có số lượng việc làm tăng nhanh như Đức, Anh, Đan Mạch và Ai-len, với mức tăng từ 0,6% đến 3,2%, là những điểm sáng trên thị trường lao động khu vực này.

    Biểu đồ 6. Tỷ lệ việc làm khu vực đồng Euro và 28 nước Liên minh châu Âu

    (Quý 1 năm 2005 = 100)

    (Nguồn: Eurostat)

  • Thặng dư thương mại quốc tế
  • Tính đến hết quý 3 năm 2013, thặng dư thương mại khu vực đồng Euro đạt 17,2 tỷ EUR, tăng gần gấp đôi so với mức thặng dư 9,6 tỷ EUR cùng kỳ năm 2012. Đối với 28 nước trong Liên minh châu Âu, lần đầu tiên trong vòng gần một thập kỷ qua, khu vực này có thặng dư thương mại. Cụ thể, thặng dư thương mại tháng 10/2013 đạt 4,3 tỷ EUR, trong khi cùng kỳ năm ngoái cán cân thương mại thâm hụt 10,2 tỷ EUR. So với tháng 9/2013, xuất khẩu khu vực này đã tăng 0,5%, trong khi đó nhập khẩu giảm 0,8%. Có được thành quả này là nhờ thâm hụt thương mại về năng lượng giảm đi (- 287,1 tỷ USD từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2013 so với -315,2 tỷ USD cùng kỳ năm 2012) và thặng dư thương mại đối với hàng hóa sản xuất tăng lên (+286,6 tỷ USD so với 254,2 tỷ USD). Trong các quốc gia châu Âu, Đức tiếp tục là quốc gia có thặng dư thương mại lớn nhất (148,3 tỷ EUR từ tháng 1- 9/2013), tiếp sau đó là Hà Lan, Ai-len và Italia.

    Biểu đồ 7. Cán cân thương mại khu vực đồng Euro từ 1/2006 đến 10/2013

    (Nguồn: Eurostat)

    Biểu đồ 8. Cán cân thương mại của 28 nước châu Âu 1/2006 đến 10/2013

    (Nguồn Eurostat)

  • Kinh tế Trung Quốc
  • Trong Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ 12 giai đoạn 2011 – 2015, Trung Quốc đã chuyển hướng cấu trúc tăng trưởng kinh tế: thay vì tập trung vào xuất khẩu và đầu tư, Trung Quốc sẽ tập trung vào cầu tiêu dùng nội địa do mô hình tăng trưởng trước đây qua thời gian đã bộc lộ những nhược điểm gây mất cân bằng trong cơ cấu kinh tế. Trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Trung Quốc cho rằng việc tăng trưởng sản xuất giảm tốc có lẽ là vấn đề tất yếu. Nhấn mạnh quan điểm này, tháng 5/2013 Thủ tướng Lý Khắc Cường đã tuyên bố các biện pháp cải cách kinh tế của Chính phủ có thể đi kèm với tăng trưởng chậm. Mặt khác, sau khi thông báo rộng rãi rằng nguồn thu từ thuế khóa đang chậm lại, Thủ tướng Trung Quốc cũng khẳng định rằng Chính phủ sẽ không tung ra một gói kích cầu hay đầu tư nào nữa mà nền kinh tế sẽ phải tuân theo quy luật của thị trường. Như vậy, dù cho kinh tế có sa sút, chính phủ cũng kiên quyết giảm chi tiêu tài khóa. Có thể, Trung Quốc đang rút kinh nghiệm từ gói kích cầu khổng lồ năm 2008, đã tạo nên bong bóng đầu cơ và hiện tượng sản xuất thừa với số hàng tồn kho ế ẩm, gây lãng phí lớn cho xã hội.

    Với quan điểm điều hành kinh tế như trên, không có gì bất ngờ khi năm 2013 Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng 7,6%, giảm nhẹ so với tăng trưởng GDP năm 2012 là 7,7%, thấp hơn rất nhiều so với mức 9,3% năm 2011. Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng này đã vượt mức mục tiêu 7,5% trong năm 2013 do Chính phủ đề ra. Kinh tế Trung Quốc đạt đỉnh tại quý 3, với mức tăng trưởng 7,8%, tuy nhiên lại nhờ vào đầu tư hạ tầng cơ sở của Chính phủ và sự hồi phục của kim ngạch xuất khẩu. Tổng sản lượng công nghiệp, đầu tư tài sản cố định và doanh số bán lẻ trong 9 tháng tăng lần lượt 9,6%, 20,2% và 12,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Có thể thấy kinh tế Trung Quốc đang trên đà hồi phục, dù với tốc độ chậm.

    Những vấn đề chính mà quốc gia này đang đối mặt là những vấn đề mang tính dài hạn như: vấn đề chi phí nhân công cao và chi phí xử lý ô nhiễm môi trường, gánh nặng nợ công của chính quyền địa phương, năng suất dư thừa của các ngành công nghiệp nặng, mất cân đối kinh tế giữa các vùng miền. Mặc dù chính phủ Trung Quốc đề xuất nhiều giải pháp triệt tiêu những nhân tố kìm hãm tăng trưởng kinh tế trên, nhưng khó có thể kỳ vọng quốc gia này có thể giải quyết những vấn đề trên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.

     

  • Kinh tế Nhật Bản
  • Sau gần hai thập kỷ chìm trong giảm phát, kinh tế Nhật Bản những tháng đầu năm 2013 đã có những điểm sáng nổi bật, thu hút sự quan tâm chú ý của giới lãnh đạo và các chuyên gia trên toàn thế giới. Chính sách kinh tế Abê (Abenomics) là liều thuốc hiện đang được áp dụng tại Nhật Bản để chữa trị căn bệnh trầm kha của nền kinh tế nước này. Chính sách kinh tế Abê do Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abê khởi xướng với đặc trưng là xây dựng và triển khai chiến lược “kiềng ba chân” (hay còn gọi là chiến lược “ba mũi tên”), bao gồm chính sách tiền tệ nới lỏng, chính sách tài khóa linh hoạt và chiến lược tăng trưởng khuyến khích đầu tư tư nhân.

    Những “mũi tên” trong chiến lược “kiềng ba chân” của ông Abê hiện đang được tích cực triển khai tại Nhật Bản, hứa hẹn khả năng đưa quốc gia này thoát khỏi suy thoái. Mũi tên đầu tiên là việc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã tuyên chiến với tình trạng giảm phát bằng cách đặt mục tiêu lạm phát 2% trong vòng 2 năm tới thông qua việc tăng cường mua trái phiếu Chính phủ và các tài sản tài chính có rủi ro. Ngày 4/4/2013, BOJ đã thông báo hàng tháng sẽ mua vào 7000 tỷ Yên trái phiếu (tương đương với 74 tỷ USD). Ngay sau đó, để thúc đẩy sự phục hồi, ngày 22/5 BOJ quyết định duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ trong bối cảnh mức tiêu dùng và xuất khẩu của Nhật Bản đang bắt đầu gia tăng nhờ thị trường chứng khoán khởi sắc và đồng Yên giảm giá. Theo đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản hướng tới mục tiêu lượng tiền cơ sở như là mục tiêu chính cho chính sách tiền tệ thay vì phương thức truyền thống là lãi suất qua đêm. Trong tháng 6 vừa qua, BOJ thông báo lượng tiền cơ sở của Nhật Bản đã tăng 36% so với năm trước lên mức 163.540 tỷ Yên, mức cao nhất từ trước đến nay. Đối với mũi tên thứ 2, giữa tháng 5 vừa qua Chính phủ Nhật Bản đã kích hoạt khoản ngân sách khổng lồ 92.610 tỷ Yên (906,2 tỷ USD) tập trung vào các công trình công cộng với mục đích tạo đòn bẩy cho nền kinh tế. Đối với mũi tên thứ ba, trong dự thảo chiến lược tăng trưởng kinh tế công bố ngày 5/6/2013, Nhật Bản cam kết sẽ nỗ lực thúc đẩy đầu tư tư nhân và hoạt động của khối doanh nghiệp, coi đây là giai đoạn “cải cách cơ cấu kinh tế khẩn cấp”. Dự thảo nêu rõ chính quyền đặt ra các mục tiêu cụ thể như tăng tổng vốn đầu tư cho doanh nghiệp thêm 10% trong ba năm tới lên mức khoảng 70.000 tỷ Yên (khoảng 700 tỷ USD) và tăng tổng thu nhập bình quân đầu người thêm hơn 1,5 triệu Yên trong vòng 10 năm tới (mức thu nhập bình quân đầu người Nhật Bản năm 2012 là 3,84 triệu Yên). Đồng thời, Nhật Bản cũng hoạch định chương trình phát triển kinh tế cho 5 năm tới. Quốc gia này sẽ tiến hành giảm mạnh thuế thu nhập doanh nghiệp, thiết lập các đặc khu kinh tế, chỉ ra những mục tiêu rõ ràng cho ngành điện lực và xuất khẩu nông sản. Trong “mũi tên thứ ba” này, Thủ tướng Abê còn nêu rõ ý định khai phá những thị trường mới bằng cách cam kết sẽ thực hiện các giải pháp tăng cường nguồn nhân lực có khả năng hoạt động hiệu quả ở nước ngoài và tạo môi trường làm việc tốt hơn cho phụ nữ. Bên cạnh đó, Nhật Bản khuyến khích cải cách công nghệ trong mọi lĩnh vực, các hoạt động sáng tạo ở khu vực tư nhân. Trong ba “mũi tên”, Thủ tướng Abê coi chiến lược tăng trưởng là xương sống của chính sách kinh tế.

    Các chính sách kinh tế của ông Abê cuối cùng đã cho những kết quả rất khả quan. Hai mũi tên đầu tiên bao gồm nới lỏng tiền tệ và tăng chi tiêu công đã thành công trong việc hạ giá đồng Yên. Từ khi tổng thống Shinzo Abê lên nắm quyền đến giữa tháng 5 năm 2013, đồng Yên đã giảm hơn 20% giá trị, ở mức xấp xỉ 102 Yên 1 USD, mức cao nhất trong vòng 4 năm qua. Tổng sản phẩm quốc nội của nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đã tăng trưởng 1% trong quý đầu tiên của năm 2013 (so với quý 4/2012) và tăng 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả tích cực này một phần lớn có được là nhờ cầu nội địa tăng cao, trong bối cảnh cầu nội địa nước này chiếm tới 60% GDP hàng năm. Trước đây, tình trạng giảm phát khiến các doanh nghiệp và người tiêu dùng hạn chế chi tiêu để chờ giá tốt hơn thì nay khi đồng Yên giảm giá, nhu cầu tiêu dùng của người dân đã bùng nổ. Theo báo cáo sơ bộ của Văn phòng Nội các Nhật Bản, chi tiêu của người tiêu dùng đã tăng 0,9% so với quý trước. Lĩnh vực xuất khẩu cũng có những chuyển biến tích cực nhờ tỷ giá đồng Yên cạnh tranh, kim ngạch xuất khẩu tăng 3,8% so với quý 4 năm 2012. Các hãng sản xuất ô tô và hàng điện tử là những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất nhờ giá rẻ hơn tại thị trường nước ngoài, đẩy doanh thu ở nước ngoài tăng cao. Cùng với xuất khẩu tăng trưởng, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho biết sản lượng công nghiệp của nước này trong tháng 4 vừa qua đã tăng 1,7% so với tháng 3, đánh dấu tháng thứ 5 tăng liên tiếp của sản lượng. Thị trường chứng khoán Nhật Bản đã có những pha tăng điểm kỷ lục tới 35% kể từ đầu năm. Chỉ số Nikkei 225 đã tăng từ mức 10.688,11 điểm từ đầu năm 2013 lên các ngưỡng 11.000 điểm, 12.000 điểm rồi trên 15.000 điểm – mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Các số liệu lạc quan về tình hình kinh tế đã tạo cho người dân Nhật Bản “cảm giác kỳ vọng về sự tái sinh của nền kinh tế” – thành tựu có lẽ là to lớn nhất của Abenomics. Kết quả thăm dò dư luận do hãng tin Kyodo tiến hành cho thấy có 65% số người được hỏi hy vọng chính sách kinh tế Abê sẽ mang lại hiệu quả.

    Sang đến những tháng cuối năm 2013, chính sách kinh tế của ông Abê tiếp tục được chứng minh là đúng hướng. Tháng 11/2013 ghi nhận một mức lạm phát lõi tăng 1,2% so với cùng kỳ năm ngoái và lần đầu tiên vượt mức 1% trong vòng 5 năm qua. Đồng Yên suy yếu và giá nhập khẩu năng lượng tăng đang đẩy mức giá chung tại Nhật lên cao. Mặc dù trong quý 3 tăng trưởng của Nhật Bản đã giảm do xuất khẩu chững lại, nhưng yếu tố này được coi là tạm thời do các doanh nghiệp Nhật Bản đang đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhật đang dần được cải thiện. Hiện tại, xuất khẩu và tiêu dùng nội địa vẫn là hai nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế. Hãng xe lớn nhất của Nhật Toyota đạt doanh số toàn cầu trong 9 tháng vừa qua là 7,412 triệu xe, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm ngoái, thống lĩnh vị trí hãng xe có doanh số cao nhất thế giới trong 9 tháng đầu năm 2013, và được dự báo lợi nhuận trong năm tài khóa sẽ cao kỷ lục. Số lượng việc làm đi kèm với mức lương đang tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua sẽ đẩy mạnh nhu cầu tiêu dùng nội địa, chấm dứt 15 năm giảm phát của kinh tế Nhật.

    Như vậy, sau gần 1 năm thực hiện, mặc dù vẫn còn những ý kiến trái chiều về chính sách của ông Abê, không thể phủ nhận rằng nền kinh tế Nhật Bản đang hồi sinh mạnh mẽ. Tuy nhiên, chính sách kinh tế Abê vẫn tiềm ẩn những rủi ro, trong đó có tác động của việc tăng chi tiêu công dẫn tới nợ công khổng lồ, hiện đang lớn gấp đôi quy mô của nền kinh tế Nhật Bản và mối nguy lạm phát cao hơn có thể đẩy lãi suất tăng cao. Hơn nữa, Abenomics thiếu vắng những cải cách dài hạn – yếu tố thiết yếu để chính sách này hoàn hảo.

  • Thị trường chứng khoán sôi động
  • Chứng khoán toàn cầu đã có một năm tăng trưởng ngoạn mục nhờ các nền kinh tế lớn như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản đã có những dấu hiệu phục hồi. Thị trường chứng khoán Nhật Bản bắt đầu sôi động kể từ tháng 11/2012 nhờ các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế của ông Abê. Đến tháng 12/2013, chỉ số Nikkei tăng gần 60%. Chính sách của ông Abê đã khiến giá tỷ giá đồng Yên với đồng đô la giảm đi 1/5 và cả nền kinh tế Nhật Bản tràn ngập trong những “đồng tiền rẻ tương đối”. Nhờ đó, thị trường chứng khoán Nhật Bản bùng nổ, đặc biệt là chứng khoán của các ngành công nghiệp xuất khẩu như Mazda, Softbank và các ngành công nghiệp nặng Fuji, khi mà chỉ số chứng khoán của các ngành này tăng từ 170 – 200% tính theo giá trị đồng Yên.

    Biểu đồ 9. Các chỉ số trên thị trường chứng khoán 2013: Nikkei 225, Dow Jones, Euro Stoxx 50, FTSE 100

    (Nguồn: yahoofinance)

    Trái lại, về phía châu Âu, chứng khoán khu vực này tăng mạnh trong nửa cuối năm 2013 có thể nói do sự ổn định của đồng Euro. Chỉ số chứng khoán FTSE tăng 10% và chỉ số DAX tăng mạnh hơn, đạt 22%. Thậm chí ngay cả chỉ số chứng khoán Hy Lạp cũng tăng 27% trong năm qua. Khu vực châu Âu bắt đầu chuyển đổi từ tình trạng khủng hoảng sang phản ứng đồng bộ, liên kết mang tính chính trị, qua đó tạo ra thặng dư tài khoản vãng lai khổng lồ, đặc biệt là ở Đức. Điều này đã củng cố vị thế của đồng Euro. Trước đây, khu vực đồng Euro không có người cho vay cuối cùng nên những vấn đề xảy ra tại các quốc gia thành viên, dù nhỏ, cũng có khả năng lan tràn ra toàn khu vực. Từ khi Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) nắm quyền trở thành người cho vay cuối cùng, tình hình đã được cải thiện rõ rệt. Kinh tế các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức và Ai-len ngay lập tức khởi sắc. Thị trường chứng khoán cũng phản ánh điều này, với mức tăng 30% cho các chỉ số chứng khoán chính tại Ai-len, 17% cho Tây Ban Nha và 13% của Bồ Đào Nha.

    Chứng khoán Mỹ sôi động nhất trong vòng 15 năm trở lại đây. Ba chỉ số lớn là Down Jones, Nasdaq và S&P 500 đều tăng mạnh, trong đó S&P 500 tăng 27% kể từ đầu năm, và bùng nổ khi FED tuyên bố giảm quy mô chương trình mua trái phiếu hàng tháng. Thị trường chứng khoán tăng trưởng ổn định thể hiện sự lạc quan về kinh tế Mỹ.

  • Giá vàng thế giới sụt giảm
  • Nếu như thị trường chứng khoán toàn cầu có tín hiệu khởi sắc thì giá vàng thế giới trong năm 2013 đã sụt giảm mạnh. Tính đến cuối tháng 12/2013, giá vàng đã giảm xấp xỉ 30% so với đầu năm và cũng là mức giá thấp nhất trong vòng 3 năm qua. Giá vàng lao dốc đã trở thành mối quan tâm của dư luận, từ Hội đồng Vàng Thế giới đến các quỹ đầu tư vàng và các nhà đầu tư cá nhân.

    Biểu đồ 10. Biến động giá vàng thế giới 6 tháng đầu năm

    (Nguồn: Goldprice.org)

    Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho hiện tượng giá vàng đi xuống. Đầu tiên là lý do kinh tế Mỹ và kinh tế Nhật Bản đang phục hồi. Thứ hai, nhu cầu vàng tại Ấn Độ - quốc gia tiêu thụ vàng số một thế giới cũng giảm đi do chính phủ Ấn Độ tăng thuế nhập khẩu vàng từ 6% lên 8% vào đầu tháng 6 làm hạn chế một số lượng vàng lớn nhập khẩu vào nước này. Động thái này nhằm mục đích bảo vệ nền kinh tế và đồng tiền quốc gia trong bối cảnh thâm hụt tài khoản vãng lai kỷ lục và đồng Rupee liên tục mất giá. Thứ ba, các tổ chức tài chính lớn như Goldman Sachs, Merrill Lynch, Standard Chartered…cùng đưa ra dự báo giá vàng giảm là một động thái định hướng niềm tin của các nhà đầu tư rằng nắm giữ vàng trong thời điểm hiện tại là điều bất lợi. Cuối cùng, việc các quỹ tín thác đầu tư vàng ồ ạt bán vàng trong những tháng qua đã khiến giá vàng ngày càng giảm sâu. Theo số liệu của Bloomberg, lượng vàng tại các quỹ ETF đã giảm 31% trong năm nay. Trong năm 2013, các nhà đầu tư đã bán trên 800 tấn vàng, tương đương 38,8 tỷ USD, mức bán ròng mạnh nhất kể từ năm 2000.

    Biểu đồ 11. Giá vàng trong 10 năm 2004 - 2013

    (Nguồn: Goldprice.org)

    Giá vàng thế giới bắt đầu đà suy giảm từ giữa năm 2011, tiếp tục giảm sâu trong 3 năm qua và vẫn chưa có tín hiệu đảo chiều. Theo nhận định của nhiều chuyên gia và các ngân hàng lớn, giá vàng sẽ vẫn giảm đi trong năm 2014 khi FED giảm dần gói kích thích kinh tế QE3. Mặt khác, hiện nay lạm phát tại Mỹ là 1,2% thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra là 2,5%, là yếu tố để các nhà đầu tư cân nhắc giảm bớt lượng vàng nắm giữ. Cụ thể, Goldman Sachs dự báo giá vàng duy trì đà giảm mạnh, có thể đạt 1,050 USD/Oz vào cuối năm. Trong khi đó Standard Chartered và Bank of America Merrill Lynch dự báo giá vàng trong năm 2014 chỉ bình quân 1,200 USD/ounce và 1,294 USD/ounce trong năm tới.

  • Thị trường tiền tệ biến động
  • Biểu đồ 12: Chỉ số đồng Đô-la Mỹ (USD index)

     

    (Nguồn: Bloomberg)

    Năm 2013, chỉ số USD của Bloomberg so sánh tỷ giá USD với 10 đồng tiền chủ chốt, tăng 3,7%, đây là mức tăng theo năm cao nhất trong vòng 5 năm qua. Chính sách nới lỏng kinh tế bị thu hẹp khiến lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Mỹ tăng lên mức 2,99%. Chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ và trái phiếu của các quốc gia phát triển khác tăng cao khiến cho USD trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư. Năm 2014, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ sẽ tăng nếu Cục Dự trữ Liên bang tiếp tục giảm dần quy mô chương trình mua trái phiếu hàng tháng. Lợi suất cao hơn, tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, dòng vốn quay trở lại với Mỹ và đồng Đô-la Mỹ nhiều khả năng sẽ mạnh lên so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác cũng như tiền của các thị trường mới nổi.

    Yên Nhật ngày càng mất giá so với đồng USD, tỷ giá USD/JPY liên tục tăng trong năm qua, xoay quanh mốc 105 JPY/USD. Việc bơm thêm thanh khoản vào nền kinh tế, thông qua chương trình nới lỏng định lượng, đã làm giảm giá đồng Yên Nhật. Đồng Yên đã giảm giá 22% so với đồng USD kể từ đầu năm nay. Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Nhật Bản hiện ở mức 0,71% khiến các nhà đầu tư Nhật mua trái phiếu chính phủ của Mỹ và khu vực Eurozone. Điều này khiến cho giá trị đồng Yên sụt giảm. Xu hướng giảm giá này của đồng Yên được dự đoán sẽ còn kéo dài đến năm 2014, khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cam kết nới lỏng chính sách tiền tệ cho đến khi lạm phát ổn định ở mức 2%, một sự khác biệt trong định hướng chính sách của BOJ và FED.

    Biểu đồ 13. Các chỉ số USD/JPY và EUR/USD năm 2013

    (Nguồn: yahoofinance)

    Trái với Yên Nhật, năm 2013, giá trị đồng Euro đã tăng 4% so với USD, nối dài đà tăng năm thứ 2 liên tiếp. Đồng Euro lên giá vững chắc sau khi ECB công bố sẽ không tiếp tục cắt giảm lãi suất cơ bản ở khu vực đồng Euro do ngân hàng chưa thấy dấu hiệu giảm phát ở khu vực này. Mặc dù vậy, các chuyên gia kinh tế nhận định đồng Euro sẽ suy yếu vào đầu năm 2014 khi ECB kết thúc việc kiểm định chất lượng tài sản (AQR) của các ngân hàng. Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đồng Euro vẫn ở mức cao, trái ngược với tỷ lệ này ở Mỹ đang giảm xuống. Nếu đà tăng trưởng của Eurozone chậm lại so với Mỹ trong quý đầu 2014 thì khả năng Ngân hàng Trung ương Châu Âu buộc phải nới lỏng tiền tệ vào thời điểm FED thu hẹp quy mô chương trình nới lỏng định lượng là rất cao. Khi đó, Eurozone cần một đồng tiền yếu hơn vì mục đích tăng sức cạnh tranh.

    Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang ngày càng nỗ lực nâng cao vị thế của đồng Nhân dân tệ trên thị trường tài chính toàn cầu bằng việc đẩy mạnh các hoạt động thúc đẩy việc quốc tế hóa đồng tiền này. Chính phủ Trung Quốc đã cam kết sẽ nới lỏng các biện pháp kiểm soát đối với các lãi suất chủ chốt và mở thêm các hạng mục vốn để hỗ trợ thử nghiệm tại Khu thương mại tự do thí điểm (Free Trade Zone - FTZ) tại Thượng Hải. Kết quả, trong năm qua, đồng Nhân dân tệ đã trở thành loại tiền tệ được sử dụng nhiều thứ hai trên thế giới, chỉ sau đồng USD. Tháng 10/2013, thị phần của đồng tiền này trên thị trường giao dịch quốc tế là 8,66%, trong khi thị phần của đồng euro thấp hơn với 6,64%. Đồng Nhân dân tệ đang ngày càng chiếm vị trí vững chắc hơn trên thị trường tài chính toàn cầu, đặc biệt là tại châu Á. Đây cũng là đồng tiền duy nhất được các chuyên gia phân tích nhận định có khả năng lên giá so với đồng Đô-la Mỹ vào năm 2014.

  • Dự báo xu hướng kinh tế thế giới 2014
  • Kinh tế thế giới 2013 đã bớt ảm đạm là cơ sở để kỳ vọng năm 2014 tươi sáng đối với các khu vực kinh tế. Các tổ chức tài chính lớn như IMF, World Bank đều đưa ra dự báo kinh tế thế giới năm 2014 sẽ tăng trưởng mạnh hơn so với năm 2013. Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới tháng 10/2013 của IMF mặc dù có hạ mức dự báo kinh tế thế giới năm 2014 xuống còn 3,6%, thấp hơn 0,2% so với dự báo của tổ chức này vào tháng 7, nhưng con số này vẫn cao hơn rất nhiều so với dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2013 là 2,9%. Cách đánh giá xu hướng kinh tế năm 2014 của các tổ chức và chuyên gia kinh tế đều dựa trên ba trụ cột chính: tăng trưởng nhanh hơn của các nền kinh tế phát triển, tính ổn định của các quốc gia mới nổi và đang phát triển và tính nhất quán của các chính sách kích thích kinh tế của các ngân hàng trung ương.

    Kinh tế Mỹ được dự báo vẫn tiếp tục giữ vị trí đầu tầu, đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2014. Những dấu hiệu tích cực của kinh tế Mỹ trong năm vừa qua cho thấy chu kỳ tăng trưởng dài hạn của Mỹ đang diễn ra. Thị trường nhà đất trong năm tới được dự báo bước đầu sôi động trở lại, tăng trưởng đều đặn của đầu tư và tiêu dùng tiếp tục trở thành động lực hỗ trợ tăng trưởng cho nền kinh tế số 1 thế giới. Tập đoàn nghiên cứu kinh tế quốc tế của Mỹ, HIS, dự báo chi tiêu cho tiêu dùng của người dẫn Mỹ sẽ tăng trưởng 2,5% trong năm 2014, cao hơn mức 1,7% trong năm 2013.

     

    Trái với xu hướng cắt giảm các biện pháp kích thích kinh tế của Mỹ, Nhật Bản kiên định với chính sách kinh tế Abê trong đó nhấn mạnh vào biện pháp nới lỏng tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ), và cũng đã mang lại những thành công nhất định. Xuất khẩu tăng nhanh nhờ được hỗ trợ từ đồng Yên giảm giá và sức ép lạm phát giảm bớt. Theo The Economist, GDP của Nhật sẽ tăng 1,7% năm 2014, cao hơn một chút so với mức tăng trưởng năm 2013. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để kết luận Nhật Bản đã bước sang chu kỳ phát triển mới hay chưa. Sự ổn định của nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này cho đến nay vẫn là một câu hỏi lớn.

    Bảng 2. Dự báo kinh tế thế giới 2013 – 2014 của IMF và World Bank

    Năm

    2011

    2012

    2013

    2014

    Kinh tế thế giới

     

     

     

    IMF

    WB

    IMF

    WB

    Tăng trưởng kinh tế thế giới

    3,9

    3,1

    2,9

    3,1

    3,6

    3,8

    Các nước phát triển

    1,7

    1,2

    1,2

    1,2

    2,1

    2,0

    Các nước đang phát triển

    6,2

    4,9

    4,5

    5,1

    5,1

    5,6

    Các nước đang phát triển ở châu Á

    7,8

    6,4

    6,3

    -

    6,5

    -

  • Trung Quốc
  • 9,3

    7,7

    7,6

    -

    7,3

    -

  • Ấn Độ
  • 6,3

    3,2

    3,8

    -

    5,1

    -

  • ASEAN -5
  • 4,5

    6,2

    5,0

    -

    5,4

    -

    (Nguồn: IFM, WB)

    Kinh tế châu Âu tuy đã đạt được những bước tiến đáng kể trong năm vừa qua, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đến từ hệ thống ngân hàng chưa thực sự lành mạnh, chính sách thắt lưng buộc bụng để đối phó với nợ công chưa cho kết quả tích cực như mong đợi, đặc biệt tình trạng thất nghiệp vẫn ở mức cao và chưa có dấu hiệu giảm đi. Tất cả những yếu tố trên đều có thể là nguy cơ đe dọa đà phục hồi vẫn còn mong manh tại châu lục này.

     

    Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển được dự báo đà tăng trưởng đang chững lại so với những năm trước. Theo IMF, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia này năm 2014 là 5,1%. Đáng chú ý hơn cả là khu vực các nước đang phát triển châu Á, với 2 thái cực đối lập là Trung Quốc và Ấn Độ. Trong khi Trung Quốc khẳng định chấp nhận tăng trưởng chậm để giúp nền kinh tế thoát khỏi việc phụ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu, thì kinh tế Ấn Độ được cho là sẽ khởi sắc trong năm tới. Cả IMF và The Economist đều chung nhận định kinh tế Trung Quốc sẽ có chiều hướng giảm tốc, từ 7,6% năm 2013 xuống còn 7,3% trong năm 2014, trong bối cảnh Chính phủ Trung Quốc thắt chặt tín dụng, chủ trương quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ cũng như giảm bớt kiểm soát giá cả. Đối với Ấn Độ, đồng Rupi yếu và hoạt dộng xuất khẩu tăng mạnh là những yếu tố thúc đẩy phục hồi tăng trưởng. IMF dự báo kinh tế Ấn Độ sẽ tăng tốc từ 3,8% năm 2013 lên 5,1% trong năm 2014.

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • http://www.bls.gov/
  • http://www.commerce.gov/
  • http://www.bloomberg.com/
  • http://finance.yahoo.com/
  • http://goldprice.org/
  • http://www.gold.org/
  • http://vneconomy.vn/
  • http://forbes.com
  • http://www.ihs.com
  • http://www.economist.com/
  • World Economic Outlook, IMF, October 2013
  • Báo cáo ‘Nhận định tình hình kinh tế năm 2013 và dự báo kinh tế 2014 -2015”, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam
  •  

     Nguyễn Hà Phương

    Viện chiến lược ngân hàng –NHNN VN

     


    • aA
    • Các chuyên mục:
    • Hợp tác nghiên cứu
    CÁC TIN KHÁC
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    01/05/2025
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    22/12/2015
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    22/12/2015
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    16/12/2015
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    16/12/2015
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    30/11/2015
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    30/11/2015
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    16/11/2015
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    16/11/2015
    Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
    16/09/2015
    Đang hiển thị 1 đến 10 của 94
    • 1
    • 2
    • 3
    • 10
    Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
    CPI
    Lãi suất
    Dự trữ bắt buộc
    Hoạt động thị trường tiền tệ
    • Nghiệp vụ thị trường mở
    • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
    • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
      • Thông báo đấu thầu
      • Kết quả đấu thầu
    • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
    Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản CCHC
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
    Dịch vụ công trực tuyến
    Hoạt động khác
    • Đầu tư, đấu thầu
      • Thông tin đấu thầu
      • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
      • Các dự án đang triển khai
      • Các dự án đã hoàn tất
    • Tài chính vi mô tại Việt Nam
    • Ổn định tài chính
      • Giới thiệu
        • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
        • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
      • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
    • Hợp tác quốc tế
      • Quan hệ với ADB
      • Quan hệ với IMF
      • Quan hệ với IBEC - IIB
      • Quan hệ với WB
      • Quan hệ với AIIB
      • Quan hệ với BIS
      • Quan hệ song phương
        • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
        • Khu vực châu Á
        • Khu vực châu Âu
        • Khu vực châu Mỹ
        • Khu vực châu Phi
        • Khu vực châu Đại Dương
      • Quan hệ đa phương
        • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
        • Giới thiệu tổ chức APEC
        • Giới thiệu tổ chức ASEM
        • Giới thiệu tổ chức WTO
        • Giới thiệu tổ chức ASEAN
        • Giới thiệu SEACEN
    • Công nghệ thông tin
      • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
      • Hỗ trợ kỹ thuật
      • An toàn thông tin
        • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
        • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
        • Văn bản chính sách ANTT
        • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
    • Hoạt động khoa học công nghệ
      • Các chương trình đề tài
      • Kết quả các chương trình, đề tài
      • Hợp tác nghiên cứu
      • Dịch vụ khoa học công nghệ
      • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
    • Tổ chức cán bộ
      • Tuyển dụng
    • Thi đua khen thưởng
      • Văn bản về thi đua khen thưởng
      • Công tác thi đua khen thưởng
      • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
    • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
    • Hoạt động Tổ chức tín dụng
    • Hoạt động đoàn thể
    • Tài chính kế toán
      • Chế độ kế toán của NHNN
        • Văn bản quy phạm pháp luật
        • Văn bản hướng dẫn
      • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
        • Văn bản
        • Tình hình triển khai
      • Chế độ kế toán của TCTD
        • Văn bản quy phạm pháp luật
        • Văn bản hướng dẫn
      • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
    Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
    • Các chính sách của NHNN
    • Các chính sách của TCTD
    • Giải đáp chính sách
    • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
    NHNN với Quốc hội và cử tri
    • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
    • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
    • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
      • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
      • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
    • Hoạt động về công tác Quốc hội
    • Báo cáo, giải trình
      • Báo cáo của NHNN
      • Giải trình của NHNN
    • Tài liệu tham khảo
      • Nghị quyết của Quốc hội
      • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
      • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
    • Liên hệ
    Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
    • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
    • Thông tin định kỳ
      • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
      • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
      • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
      • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
      • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
      • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
      • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
      • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
      • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
      • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
      • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
      • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
    • Thông tin bất thường
    Hệ thống các TCTD
    • Ngân hàng
      • Ngân hàng thương mại
        • NHTM Nhà nước
        • NHTM Cổ phần
        • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
        • Ngân hàng liên doanh
      • Ngân hàng Chính sách xã hội
      • Ngân hàng Hợp tác xã
    • TCTD phi ngân hàng
      • Công ty tài chính
      • Công ty cho thuê tài chính
      • TCTD phi ngân hàng khác
    • Tổ chức tài chính vi mô
    • Quỹ tín dụng nhân dân
    • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
    • Văn phòng đại diện
    Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
    • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
      • Kết quả triển khai
    • Chương trình khác
      • Kết quả triển khai
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
      • Kết quả triển khai
    Phổ biến kiến thức
    • Phổ biến kiến thức pháp luật
    • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
      • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
        • Phát hành và điều hòa tiền mặt
        • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
        • Tiền đình chỉ lưu hành
        • Phân biệt tiền thật, tiền giả
        • Bảo vệ tiền Việt Nam
      • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
        • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
        • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
    Tiếp cận thông tin
    • Danh mục thông tin công khai
    • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
    • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
    • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
    • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
    Thanh Tìm kiếm
    TIN VIDEO
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    TIN ẢNH
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    TIN ẢNH
    Icon

    Danh bạ liên hệ

    Icon

    Phản ánh kiến nghị

    Icon

    Đường dây nóng

    Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
    Ngân hàng
    ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
    Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
    © cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
    Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
    Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
    Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
    NCSC Certification
    Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
    Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
    IPv6 Ready