Cuộc khủng hoàng tài chính 2008 xảy ra khiến các cơ quan quản lý tại hầu hết các quốc gia trên thế giới phải nhìn lại cơ chế phối hợp và điều hòa chính sách, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển đa dạng, phức tạp thì những nguyên tắc quản lý giám sát an toàn vi mô để ngăn chặn sự bất ổn của từng định chế tài chính là chưa đủ. Khi đó, những rủi ro tiềm ẩn mang tính hệ thống tại các thị trường ngân hàng và tài chính đặt ra yêu cầu phải có cả cơ chế “giám sát an toàn vĩ mô”.
Cơ chế giám sát an toàn vĩ mô
Trong cơ chế giám sát tài chính hiện nay, giám sát an toàn vĩ mô là sự bổ sung cần thiết cho các cơ quan giám sát tài chính bên cạnh cơ chế giám sát an toàn vi mô và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ để quản lý tính ổn định của hệ thống tài chính.
Giám sát an toàn vĩ mô được nhấn mạnh với chức năng theo dõi khủng hoảng tài chính phát sinh từ các rủi ro hệ thống và đảm bảo rằng hệ thống tài chính vẫn duy trì được những chứng năng cốt lõi sau những cú sốc mang tính hệ thống. Nói cách khác, giám sát an toàn vĩ mô sẽ đưa ra một sự miêu tả rõ ràng về tình trạng lành mạnh của hệ thống tài chính và xác định các nguy cơ tiềm ẩn cho sự ổn định hệ thống thông qua việc đánh giá, kiểm soát các loại rủi ro một cách hệ thống, toàn diện trong mối tương quan với sự phát triển kinh tế vĩ mô; từ đó phát hiện các tổ chức yếu kém hoặc những tồn tại của hệ thống tài chính.
� Với “giám sát an toàn vĩ mô”, các cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan thanh tra, giám sát có thể phân tích các chỉ tiêu giám sát an toàn vĩ mô (macroprudential indicators), kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống (stress testing) trước các cú sốc, phân tích các yếu tố rủi ro theo các biến đổi của môi trường kinh tế vĩ mô dựa vào các yếu tố sau:
- Các chỉ số an toàn tài chính: các chỉ số về an toàn vốn, chất lượng tài sản, khả năng sinh lời, khả năng chi trả, khả năng thanh khoản, độ nhạy cảm đối với thị trường (VD: hệ số CAR, tỷ số LDR, tỷ lệ NPL, ROE, ROA...);
- Các chỉ số kinh tế vĩ mô: tăng trưởng, lạm phát, hệ số đầu tư, nợ nước ngoài, tỷ giá, lãi suất thị trường, xuất nhập khẩu (VD: GDP, CPI, ICOR, PX, PM, tỷ lệ nợ nước ngoài, nợ công...);
- Các thông số trên thị trường (Vnindex, EPS, P/E, tỷ lệ doanh thu bình quân hàng ngày trên thị trường chứng khoán - Average daily turnover ratio,giá bất động sản...) và các thông tin mang tính định lượng ( thông qua các kết quả từ những mô hình đánh giá tác động, mô hình định giá, mô hình dự báo...);
- Các phương pháp phân tích định tính: phương pháp kiểm tra tập trung, phương pháp phân tích tình huống, phân tích cảnh báo sớm hệ thống...
Như vậy, từ những kết quả phân tích số liệu trên báo cáo cân đối tài khoản kế toán và báo cáo tài chính của các TCTD theo phương pháp giám sát an toàn vi mô của từng TCTD, cán bộ giám sát sẽ thực hiện công tác giám sát an toàn vĩ mô thông qua việc tổng hợp và phân tích số liệu báo cáo về tình hình hoạt động cũng như những diến biến bất thường trong hoạt động của các TCTD. Chức năng cảnh báo sớm rủi ro cũng bắt đầu từ đây. Căn cứ vào báo cáo giám sát, thanh tra viên sẽ có những động thái đối với từng TCTD.
Tầm quan trọng của việc xác định các chỉ số an toàn tài chính là để phân tích tình trạng và sự ổn định của hệ thống tài chính cũng như dự báo sự phát triển của thị trường. Mặc dù việc giám sát an toàn vĩ mô không thể cung cấp đầy đủ cơ sở cho việc đánh giá tổng thể hệ thống tài chính nhưng cũng là một công cụ hữu hiệu cho các nhà giám sát và quản lý nắm được phần nào tình hình hiện tại, xu hướng và mức độ an toàn của hệ thống tài chính.
Thành lập Ủy ban (Hội đồng) ổn định tài chính để giám sát an toàn vĩ mô tại một số quốc gia
Kể từ sau cuộc khủng hoàng tài chính 2008, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã thành lập Ủy ban hay Hội đồng ổn định tài chính để tăng cường chức năng giám sát an toàn vĩ mô:
|
EU |
US |
UK |
|
Hội đồng quản trị rủi ro hệ thống Châu Âu (ESRB) |
Hội đồng giám sát ổn định tài chính (FSOC) |
Ủy ban chính sách tài chính (FPC) |
Nhiệm vụ |
- Ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro hệ thống đối với hệ thống tài chính EU - Góp phần giữ cho thị trường nội địa hoạt động ổn định và đảm bảo tăng trưởng bền vững trong lĩnh vực tài chính |
- Xác định và phản ứng kịp thời đối với các mối nguy hại cho sự ổn định tài chính của Mỹ - Tăng cường kỷ luật thị trường, giảm thiểu sự kỳ vọng vào các gói cứu trợ |
- Xác định và đánh giá rủi ro hệ thống trong hệ thống tài chính Anh - Lựa chọn các công cụ chính sách phù hợp nhất để giải quyết rủi ro hệ thống |
Các công cụ |
- Cảnh báo rủi ro hệ thống và khuyến nghị ko ràng buộc đối với các thành viên trong EU
-Không chỉ thị trực tiếp, nhưng các khuyến nghị có thể được công bố trên cơ sở “thực hiện hoặc giải thích” |
- Kiến nghị với cơ quan giám sát về việc nâng cao các tiêu chuẩn an toàn - Chỉ định một cách có hệ thống các hệ thống tài chính phi ngân hàng và các tiện ích thị trường tài chính -Báo cáo với quốc hội về các kẽ hở trong pháp lý |
- Khuyến nghị về rủi ro hệ thống cho cơ quan dịch vụ tài chính (FSA) và các tổ chức tài chính - Chỉ đạo trực tiếp các cơ quan giám sát an toàn vi mô trong việc áp dụng các phương pháp cụ thể |
Cơ cấu quản lý |
- Chủ tịch ECB - Cộng thêm 37 thành viên có quyền biểu quyết, bao gồm các thống đốc ngân hàng trung ương và 28 thành viên không có quyền biểu quyết từ các cơ quan giám sát |
- Bộ trưởng tài chính của Mỹ - Cộng thêm 9 thành viên có quyền biểu quyết (là người đứng đầu của Bộ Tài Chính, FED, OCC, SEC, CFTC, FDIC, FHFA, NCUA và CFBP) và 5 thành viên không có quyền biểu quyết (là người đứng đầu của Cục Nghiên Cứu Tài Chính, Cục Bảo Hiểm Liên Bang và lãnh đạo các tổ chức giám sát Ngân Hàng, Bảo Hiểm và Chứng Khoán của bang). |
- Thống đốc ngân hàng trung ương Anh - Cộng thêm 11 thành viên có quyền biểu quyết (6 người từ ngân hàng Anh) và 1 thành viên không có quyền biểu quyết là thành viên kho bạc |
Thu thập và phân tích thông tin |
ECB, cơ quan ngân hàng Châu Âu, các ngân hàng trung Vương của các quốc gia, ủy ban tư vấn kỹ thuật (ATC), ủy ban tư vấn khoa học (ASC) |
Văn phòng nghiên cứu tài chính (OFR), cục dự trữ liên bang và các cơ quan quản lý tài chính khác |
Ngân hàng trung ương Anh |
Các lợi thế |
Bổ sung vào các điểm còn thiếu trong thể chế giám sát rủi ro hệ thống và giám sát an toàn vi mô của EU |
Hợp nhất các cơ quan giám sát, có thể đặt các tổ chức dưới sự giám sát của liên bang |
Có thể thực hiện các công cụ giám sát an toàn vi mô (ví dụ như các yêu cầu cụ thể về vốn tối thiểu) |
Các thách thức |
- Việc giám sát tiếp tục dựa vào từng quốc gia - Cơ cấu quản lý phức tạp |
Các cơ chế pháp lý vẫn phức tạp, cơ chế lãnh đạo vẫn chưa được thay đổi kể từ thời kỳ tiền khủng hoảng |
Không có sự giám sát trực tiếp đối với các công ty tài chính và thị trường |
Nhìn vào các Hội động (Ủy ban) nêu trên, có thể thấy đây là những cơ quan có sự phối hợp của tất cả các đơn vị trong mạng an toàn tài chính cũng như các cơ quan liên quan đến hoạch định chính sách. Hội đồng này làm việc theo nguyên tắc có sự điều phối, điều hòa chính sách và lấp đầy những lỗ hổng khi thiếu vắng cơ chế “giám sát an toàn vĩ mô”.
Giám sát an toàn vĩ mô thị trường tài chính tại Việt Nam
Việc giám sát an toàn vĩ mô tại Việt Nam trước đây chưa thực sự được chú trọng. Các cơ quan quản lý tài chính tại Việt Nam (NHNN, Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Cục bảo hiểm) chỉ thực hiện chức năng quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát theo từng lĩnh vực về ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm cụ thể; trong đó chủ yếu tập trung vào công tác giám sát an toàn vi mô trên cơ sở thiên về giám sát tuân thủ hơn là giám sát dựa trên rủi ro. Ủy ban giám sát tài chính quốc gia không có chức năng giám sát từng định chế tài chính mà chỉ tham mưu cho Chính phủ trong giám sát tổng thể thị trường tài chính. Những báo cáo giám sát thị trường tài chính của các cơ quan nêu trên cũng chưa thể coi là một báo cáo giám sát an toàn vĩ mô theo thông lệ quốc, cụ thể báo cáo giám sát chưa thực sự phản ánh được các dấu hiệu cảnh báo và chưa hỗ trợ cho công tác thanh tra tại chỗ trong việc xác định trọng tâm, trọng điểm, hướng tập trung vào khu vực nhiều rủi ro. Việc kết hợp phân tích định tính và định lượng chưa được coi trọng dẫn đến khả năng cảnh báo rủi ro về tổ chức, hoạt động, kiểm soát...không cao.
Tuy nhiên, những năm gần đây, việc giám sát an toàn vĩ mô đang từng bước được cải thiện trên cơ sở Chính phủ và các cơ quan trong mạng lưới an toàn tài chính đã nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giám sát an toàn vĩ mô đối với sự ổn định của hệ thống tài chính. Trước hết, cùng với Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), NHNN và các cơ quan quản lý tài chính đã triển khai chương trình FSAP tại Việt Nam. Thông qua việc triển khai FSAP, các vấn đề liên quan đến chính sách an toàn vĩ mô, với sự giúp đỡ của các chuyên gia tư vấn WB và IMF, đã từng bước được xác định theo thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Ngày 27/02/2014, Vụ ổn định tiền tệ - tài chính cũng được thành lập 1 nhằm tham mưu, giúp Thống đốc NHNN trong hoạt động, phân tích, đánh giá, thực thi chính sách an toàn vĩ mô của hệ thống tài chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro có tính hệ thống của hệ thống tài chính; cụ thể là xây dựng các mô hình và phương pháp để thực hiện công tác phân tích, đánh giá, cảnh báo sớm về an toàn vĩ mô của hệ thống tài chính. Ngoài ra, trong quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/4/2014 vừa qua 2 cũng nhấn mạnh: “Giám sát ngân hàng được tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua giám sát an toàn vĩ mô” 3 và “Giám sát an toàn vĩ mô là hình thức giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ lành mạnh tài chính và an toàn hoạt động; hệ thống thông tin, báo cáo phục vụ phân tích và giám sát an toàn vĩ mô; hệ thống phương pháp, công cụ, quy trình phân tích, giám sát, cảnh báo sự an toàn, ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về an toàn và ổn định hệ thống”.
Như vậy, với nỗ lực nâng cao năng lực giám sát an toàn vĩ mô thông qua việc tổ chức, cơ cấu lại hoạt động và thành lập một số cơ quan quản lý thị trường tài chính – tiền tệ trong năm vừa qua, để nâng cao công tác này hơn nữa thì chúng ta cần phải tập trung một số công việc sau:
1. Đánh giá toàn diện thực trạng và khả năng triển khai hoạt động giám sát an toàn vĩ mô tại Việt Nam.
2. Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát an toàn vĩ mô:
- Xây dựng hệ thống giám sát an toàn vĩ mô nhằm giám sát các rủi ro, nguy cơ đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng từ góc độ toàn ngành ngân hàng (giám sát rủi ro đối với sự ổn định thị trường tài chính) và nền kinh tế (các mối liên kết tài chính vĩ mô), gồm: (i) Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh mức độ lành mạnh tài chính; (ii) Hệ thống thông tin báo cáo phục vụ phân tích và giám sát an toàn vĩ mô; (iii) Hệ thống phương pháp và quy trình phân tích, giám sát, đặc biệt là cảnh báo sự ổn định, an toàn tài chính vĩ mô; (iv) Báo cáo ổn định tài chính hàng năm.
- Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, bao gồm các chính sách, quy trình, thủ tục và giải pháp phát hiện, ngăn chặn và xử lý các rủi ro có tính hệ thống (khủng hoảng, mất thanh khoản và phá sản hàng loạt, rút tiền hàng loạt…). Theo đó, cần có kế hoạch hoặc chương trình dự phòng trong trường hợp khẩn cấp.
3. Đào tạo cán bộ trực tiếp thực hiện công tác giám sát an toàn vĩ mô, đặc biệt trong thao tác kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống theo thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Từ đó, công tác giám sát an toàn vĩ mô và giám sát các diễn biến của nền kinh tế trong nước và quốc tế cũng như các diễn biến thị trường tài chính trong nước và quốc tế sẽ được thực hiện chặt chẽ và có hiệu quả hơn.
Tài liệu tham khảo
[1] Deutsch Bank Research – 24/5/2012 “Macroprudential supervision – In search of an appropriate response to systemic risk”
[2] Tạp chí tài chính – 5/10/2013 “Giải pháp nào cho vấn đề giám sát an toàn vĩ mô thị trường tài chính tại Việt Nam?”
|
Ths. Nguyễn Thị Minh Hằng
Phòng Xây dựng Chiến lược ngành ngân hàng
1 Theo Quyết định số 333/QĐ-NHNN
2 Theo Nghị định số 26/2014/NĐ-CP
3 Khoản 2 Điều 23 - Nghị định số 26