Kinh tế vĩ mô 9 tháng đầu năm 2014, những kết quả đạt được và những thách thức đặt ra
Tiếp nối những thành tựu kinh tế vĩ mô đã đạt được từ năm 2013, trong năm 2014, định hướng điều hành chính sách vĩ mô của Chính phủ đó là tăng tính ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời tiếp tục triển khai những giải pháp để tháo gỡ khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tổng cầu trong nước, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2014 – 20151.
Trên cơ sở định hướng đề ra, trong 9 tháng đầu năm 2014, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp và địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm từng bước thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả năm. Kết thúc quý III, diễn biến kinh tế vĩ mô tiếp tục có những chuyển biến, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì và có sự cải thiện qua từng quý, lạm phát ở mức thấp, giá cả thị trường ổn định, các cân đối vĩ mô được đảm bảo.
Đà phục hồi kinh tế tiếp tục được duy trì thể hiện ở tốc độ tăng trưởng có sự cải thiện qua từng quý và xu hướng chuyển biến tích cực của các cấu phần cấu thành tổng cầu trong nước
Tăng trưởng kinh tế duy trì xu hướng gia tăng liên tục kể từ quý I/2014
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2014 ước tính tăng 5,62% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,42%; quý III tăng 6,19%. Đây là mức tăng cao so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 và 2013, cho thấy dấu hiệu chuyển biến tích cực của nền kinh tế, và tạo điều kiện thuận lợi để đạt mục tiêu tăng trưởng 5,8% cho cả năm 2014.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng các năm 2012, 2013 và 2014
|
Tốc độ tăng so cùng kỳ năm trước (%) |
Đóng góp của các khu vực (%) |
||
|
9 tháng 2012 |
9 tháng |
9 tháng 2014 |
|
Tổng số |
5,10 |
5,14 |
5,62 |
5,62 |
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản |
2,50 |
2,39 |
3,00 |
0,54 |
Công nghiệp và xây dựng |
5,76 |
5,20 |
6,42 |
2,46 |
Dịch vụ |
5,66 |
6,25 |
5,99 |
2,62 |
Nguồn: TCKT
Bên cạnh đó, một điểm đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng của hai khu vực nông lâm nghiệp thủy sản và công nghiệp xây dựng đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ hai năm 2012 và 2013 cho thấy những tín hiệu phục hồi của khu vực sản xuất thực trong nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp đạt mức 3%, đạt xấp xỉ so với mức tăng trưởng của giai đoạn trước khủng hoảng. Trong khi đó, tăng trưởng khu vực công nghiệp đã vươn lên dẫn đầu các nhóm ngành, đạt 6,42%, mặc dù vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng thường xuyên đạt 9-10% giai đoạn trước khủng hoảng, nhưng cũng cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân 5,72% của giai đoạn 2008 – 2013. Khu vực dịch vụ tốc độ tăng trưởng 9 tháng đạt 5,99% mặc dù thấp hơn so với cùng kỳ năm 2013 nhưng vẫn thể hiện xu hướng tăng trưởng ổn định, và là một nhóm ngành có đóng góp quan trọng giúp duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua.
Xu hướng phục hồi của khu vực sản xuất còn thể hiện rõ ràng hơn khi quan sát các chỉ số về hoạt động sản xuất của nền kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành và ngành công nghiệp chế tạo đã duy trì đà gia tăng liên tục kể từ tháng 7/2013 (trừ tháng Tết do yếu tố mùa vụ). Tính chung 9 tháng 2014, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,7% so cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2013 tăng 5,4%) trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,3% (cùng kỳ năm trước tăng 6,8%).
Tiêu dùng của khu vực dân cư có sự cải thiện so với năm trước
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (loại trừ yếu tố giá) trong 9 tháng đầu năm 2014 luôn tăng cao hơn cùng kỳ năm 2013, do đó kết thúc 9 tháng tốc độ tăng của chỉ số này đạt 6,2% so với mức tăng 5,4% của cùng kỳ 2013. Bên cạnh đó, xét về góc độ sử dụng GDP của 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng đã tăng 5,28% so với cùng kỳ (cao hơn mức tăng xấp xỉ 5% cùng kỳ năm 2013). Trong đó, tiêu dùng cuối cùng của dân cư đã tăng 5,12%, cao hơn mức tăng 5,02% của cùng kỳ năm trước. Điều này phản ánh sự hồi phục của tổng cầu trong nước.
Xuất nhập khẩu tăng trưởng tốt, đồng thời có những chuyển biến về mặt cơ cấu theo hướng tích cực
Nguồn: TCTK
Xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2014 đạt xấp xỉ 109,6 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng xấp xỉ 18% cùng kỳ năm 2013. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm 2014 giảm sút so với cùng kỳ năm 2013 tuy nhiên cơ cấu xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, khi các sản phẩm công nghệ và có giá trị gia tăng cao vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Đồng thời, các mặt hàng xuất khẩu sử dụng lao động truyền thống của Việt Nam như hàng may mặc, giày da, đồ gỗ vẫn duy trì được đà tăng trưởng vững chắc. Mặt khác, khu vực nội địa đạt tốc độ tăng trưởng các sản phẩm xuất khẩu tốt hơn cùng kỳ các năm trước (tốc độ tăng trưởng 9 tháng 2014 đạt 14,2% yoy so với mức tăng trưởng 4% năm 2013 và 1,1% năm 2012) cho thấy xu hướng phục hồi chắc chắn của khu vực sản xuất trong nước.
Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại giai đoạn T1/2012 đến T9/2014
Nguồn: TCTK
Nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2014 đạt xấp xỉ 107,2 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 15,5% của cùng kỳ năm 2013. Trong 9 tháng đầu năm, các mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất có tốc độ tăng trưởng khá tốt (máy móc thiết bị phụ tùng tăng 33%, kim loại 40%, vải 82%, chất dẻo 31%, dệt may da giầy 30%) đã khẳng định một chu kỳ mới về đầu tư và sản xuất lại xuất hiện.
Như vậy, với tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục duy trì cao hơn nhập khẩu trong 9 tháng 2014, cán cân thương mại đạt mức xuất siêu xấp xỉ 2,5 tỷ USD, tương đương 2,3% kim ngạch xuất khẩu. Đây là một tín hiệu tốt cho thấy vấn đề thâm hụt cán cân thương mại vốn tồn tại rất lâu trong thời gian qua đang dần được giải quyết khi thặng dư cán cân thương mại đã được duy trì liên tục trong thời gian gần đây.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt được mức tăng trưởng tốt
Cùng với diễn biến tốt từ hai cấu phần tiêu dùng và xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư cũng đang có những chuyển biến tích cực. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 833,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn nhiều so với mức tăng 6,1% cùng kỳ năm 2013 và 8,6% năm 2012) và bằng 31,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 329,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,5% tổng vốn và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 315,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,9% và tăng 12,8%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 188,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 22,6% và tăng 5,8%. Như vậy, nếu so với cùng kỳ hai năm trước, hoạt động đầu tư không chỉ thể hiện sự tăng trưởng tốt về mặt tổng thể mà còn ở hai khu vực quan trọng của nền kinh tế đó là khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân. Điều này cho thấy lực cầu nội địa đang có những chuyển biến theo hướng tích cực.
Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng các năm 2012, 2013 và 2014 so với cùng kỳ năm trước (% Theo giá hiện hành)
9 T 2012 |
9 T 2013 |
9 T 2014 |
|
Tổng số |
105,4 |
106,1 |
110,3 |
Khu vực Nhà nước |
108,7 |
104,2 |
110,7 |
Khu vực ngoài Nhà nước |
104,9 |
108,5 |
112,8 |
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài |
101,6 |
105,6 |
105,8 |
Nguồn: TCTK
Một điểm đáng chú ý đó là nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng tốt với những chuyển biến khả quan về phía tổng cầu trong bối cảnh tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/ GDP có xu hướng giảm từ năm 2013 trở lại đây. Cụ thể, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP 9 tháng năm 2014 đạt 31,2% GDP tương đương cùng kỳ 2013 và thấp xa so với tỷ lệ xấp xỉ 40% thời kỳ 2006-2010. Việc giảm tỷ lệ vốn đầu tư phát triển/GDP là phù hợp với chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chỗ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, tăng số lượng lao động sang dựa vào nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao năng suất lao động.
Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định
Bên cạnh những chuyển biến tốt của tăng trưởng, kinh tế vĩ mô vẫn tiếp tục được duy trì ổn định: Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, khu vực ngoại thương hoạt động tốt đã giúp Việt Nam tiếp tục duy trì thặng dư cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối ở mức cao. Bên cạnh đó, lần đầu tiên sau nhiều năm, cán cân ngân sách bắt đầu có những cải thiện với mức bội chi thấp hơn so với mục tiêu đề ra của Quốc hội.
Lạm phát diễn biến ổn định
Lạm phát các tháng trong 3 quý đầu năm thường xuyên duy trì ở mức tăng thấp, ngoại trừ các tháng 1, 2 và 9 có sự biến động do tác động của yếu tố mùa vụ (tháng 1 tăng 0,69%, tháng 2 tăng 0,55% và tháng 9 tăng 0,4%). Với mức tăng thấp của lạm phát qua từng tháng, lạm phát tính đến thời điểm hết tháng 9/2013 chỉ đạt mức tăng 3,62% so với cùng kỳ và tăng 2,25% so với tháng 12/2013 (mức tăng thấp nhất kể từ năm 2010 trở lại đây). Lạm phát cơ bản2 vẫn trong xu hướng giảm kể từ giữa năm 2013 và tính đến thời điểm tháng 9 chỉ còn ở mức tăng 3,12% so với cùng kỳ. Như vậy, có thể thấy lạm phát đã được kiểm soát tốt trong vòng hơn 2 năm qua và nhiều khả năng cho đến hết năm 2014 lạm phát còn thấp hơn nhiều mức mục tiêu do Quốc hội đề ra là 7%.
Cán cân ngân sách bước đầu cải thiện
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đề ra 5,8% (cao hơn mức tăng trưởng 5,42% năm 2013) trong năm 2014 Chính phủ sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp để hỗ trợ tổng cầu trong nước, trong đó cho phép nâng trần bội chi từ mức 4,8% lên 5,3% trong năm 2014.
Tuy nhiên, hoạt động thu chi ngân sách trong 9 tháng đầu năm 2014 đang có những diễn biến khả quan. Bội chi NSNN 9 tháng 2014 (tính đến 15/9) là 124,5 nghìn tỷ đồng, giảm 4,7% so với cùng kỳ 2013, do đó kết thúc 9 tháng mức bội chi hiện ở mức 4,9% GDP, thấp hơn so với mục tiêu đề ra đầu năm của Quốc hội.
Đạt được kết quả này là nhờ thu ngân sách đã có những cải thiện so với năm 2013. Cụ thể, tổng thu cân đối NSNN đến 15/9 đạt 597.550 tỷ đồng, bằng 76,3% dự toán, tăng 17,2% so với cùng kỳ (cao hơn nhiều so với mức tăng 8,7% cùng kỳ năm 2013). Trong đó, thu từ khu vực nội địa đạt 427,89 nghìn tỷ đồng, bằng 79,4% dự toán, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2013 (cao hơn so với mức 64,7% và 10,2% của năm 2013) . Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của khu vực xuất nhập khẩu cũng mang lại nguồn thu lớn với mức tăng trưởng 21,3% yoy, đạt 81,2% dự toán (cao hơn con số 67,4% dự toán của năm 2013).
Cán cân thanh toán thặng dư, dự trữ ngoại hối dồi dào
Thặng dư cán cân thanh toán tổng thể 6 tháng đầu năm 2014 tiếp tục ghi nhận mức cao kỷ lục 10,15 tỷ USD (6 tháng đầu năm 2013 là -0,295 tỷ USD) do sự cải thiện về cán cân vãng lai3. Sự cải thiện của cán cân thanh toán tổng thể giúp gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, tạo điều kiện ổn định tỷ giá.
Những thách thức đang đặt ra
Mặc dù tổng cầu trong 9 tháng 2014 đã có những chuyển biến mang tính tích cực ở tất cả cả các cấu phần tiêu dùng, đầu tư, xuất nhập khẩu, tuy nhiên sự chuyển biến này vẫn còn chậm để có thể tạo sức bật mạnh mẽ cho đà phục hồi của nền kinh tế.
Khu vực tiêu dùng mức tăng trưởng vẫn còn khá thấp
Trước hết, xét về khía cạnh tiêu dùng, tiêu dùng tư nhân mặc dù đã có sự cải thiện nhưng mức tăng vẫn còn thấp. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng mặc dù luôn tăng cao hơn cùng kỳ năm 2013 nhưng mức cải thiện không lớn và còn thấp hơn nhiều so với mức tăng trên 10% của giai đoạn 2010 – 2011. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng khối lượng vận chuyển hàng hóa trong 8 tháng đầu năm 2014 mặc dù tăng so với cùng kỳ năm 2013 (từ 2,7% lên 5,3%) nhưng vẫn chỉ bằng ¼ so với các năm 2011 và 2012.
Khu vực sản xuất hoạt động chưa ổn định
Sự phục hồi chưa vững chắc của tổng cầu còn thể hiện ở hoạt động không ổn định của khu vực sản xuất. Quan sát chỉ số mua hàng của nhà sản xuất (PMI) có thể nhận thấy xu hướng trồi sụt bất ổn của chỉ số này. Sau khi có sự phục hồi trong những tháng đầu năm, chỉ số PMI giảm 4 tháng liên tiếp kể từ tháng 4/2014 và tiến về sát ngưỡng 50 điểm trong tháng 8/2014 do sản lượng và số đơn đặt hàng mới tăng chậm lại trong thời gian gần đây. Điều này cho thấy điều kiện sản xuất mặc dù tiếp tục cải thiện nhưng chưa thực sự bền vững.
Chỉ số PMI 8/2013 – 8/2014
Nguồn: HSBC
Những khó khăn của khu vực sản xuất còn bị cộng hưởng bởi những tác động bất lợi từ hoạt động của hệ thống doanh nghiệp, khi trong năm 2014 số lượng các doanh nghiệp thuộc sở hữu trong nước đóng cửa hoặc tạm ngừng hoạt động ngày càng tăng, và khoảng cách giữa số lượng các doanh nghiệp loại này và số lượng doanh nghiệp mới thành lập ngày càng co lại. Sáu tháng đầu năm 2014, ước tính có khoảng 34 nghìn doanh nghiệp đóng cửa, giải thể hoặc tạm ngừng sản xuất kinh doanh, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại bị ảnh hưởng nặng nề nhất, chiếm 39% trong tổng số các doanh nghiệp bị thanh lý hoặc ngừng hoạt động.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài đã chững lại trong những tháng gần đây
Một cấu phần quan trọng đóng góp vào sự hồi phục của tổng cầu trong thời gian qua là khu vực đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chững lại. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2014 thu hút 1152 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7637,8 triệu USD, tăng 32,1% về số dự án và giảm 17,8% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 417 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 3544,8 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 11182,6 triệu USD, giảm 25,5% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng năm nay ước tính đạt 8,9 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 6,4% cùng kỳ 2013.
Tóm lại, trong 9 tháng đầu năm 2014 ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được đảm bảo và đà phục hồi kinh tế được duy trì. Tuy nhiên, mức độ phục hồi kinh tế còn thấp so với mục tiêu cũng như tiềm năng của nền kinh tế và hệ thống doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng 5,8% trong năm 2014 thì song song với tái cơ cấu nền kinh tế, cần có các biện pháp hỗ trợ tổng cầu và khuyến khích đầu tư tư nhân có hiệu quả.
Phòng Nghiên cứu Phát triển NHTW
1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 2 năm 2014 – 2015 theo mục tiêu đặt ra của Quốc hội ở mức 6%
2 Lạm phát cơ bản do Ủy ban giám sát tài chính quốc gia tính toán trên CPI không bao gồm giá LTTP, giá hàng hóa cơ bản và dịch vụ công như y tế và giáo dục
3 Cán cân vãng lai cải thiện chủ yếu nhờ diễn biến tích cực của CCTM và chuyển tiền một chiều của khu vực tư nhân.