Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Hợp tác nghiên cứu

Kinh nghiệm quản lý – huy động vàng ở Ấn Độ

24/12/2014 16:20:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Theo thống kê của Hội đồng vàng thế giới, gần 80% tổng nhu cầu vàng trang sức và vàng miếng (thỏi và đồng xu) toàn thế giới đang tập trung tại khoảng 20 quốc gia. Trong đó, Ấn Độ là nước tiêu dùng vàng lớn nhất, chiếm khoảng 32% 1tổng nhu cầu vàng toàn thế giới. Nhìn vào tỷ lệ giá trị tiêu thụ vàng vật chất/GDP cũng cho thấy nhiều nét đặc trưng riêng của quốc gia này trong văn hóa tích trữ và tiêu dùng vàng.

Mặc dù Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có khối lượng tiêu thụ lượng vàng vật chất nhất nhì thế giới. Tuy nhiên, nếu ở Trung Quốc, tổng nhu cầu vàng vật chất chỉ bằng 0,5% giá trị GDP của nước này, thì ở Ấn Độ, con số này là 2,52%.

Bảng 2. Nhu cầu vàng so với GDP của 1 số quốc gia (Năm 2012)

 

Vàng trang sức

Vàng miếng

Tổng

India

1,61%

0,91%

2,52%

China

0,33%

0,17%

0,50%

Thailand

0,04%

1,15%

1,19%

Vietnam

0,43%

2,49%

2,92%

Turkey

0,47%

0,33%

0,80%

USA

0,04%

0,02%

0,06%

UK

0,05%

0,00%

0,05%

France

0,00%

0,01%

0,01%

World

0,02%

0,01%

0,04%

Nguồn: Tự tổng hợp theo số liệu từ World Bank và WGC.

Trong đó, vàng trang sức chiếm một tỷ lệ rất lớn, khoảng từ 60-70% lượng vàng vật chất hàng năm và cũng chiếm một tỷ lệ so với GDP cao hơn hẳn so với các quốc gia khác. Điều này xuất phát từ việc trong xã hội Ấn Độ, vàng có ý nghĩa văn hóa quan trọng. Theo văn hóa tôn giáo, phong tục tập quán của đất nước này, vàng là biểu tượng của sự thịnh vượng và giàu sang và là kim loại không thể thiếu trong các lễ hội của đạo Hindu (tôn giáo của 80% dân số Ấn Độ). Vàng cũng đóng vai trò quan trọng trong lễ kết hôn nơi cô dâu thường mang trang sức vàng như của hồi môn và tài sản thừa kế cha mẹ dành cho. Với trung bình mười triệu lễ cưới mỗi năm, nhu cầu vàng của người dân Ấn càng ngày càng lớn. Với nhu cầu vàng lớn như vậy, nguồn cung vàng của Ấn Độ lại chủ yếu là dựa vào nhập khẩu vàng và vàng tái chế. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho Ấn Độ trong việc quản lý kiểm soát thị trường vàng, cùng những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế khi vàng không đơn giản chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa văn hóa rất lớn trong xã hội Ấn Độ. Trong những năm gần đây, sau ảnh hưởng của diễn biến bất lợi liên tục của kinh tế thế giới, vàng càng gây ra áp lực nặng nề với sự ổn định kinh tế vĩ mô của quốc gia này. Thâm hụt cán cân vãng lai trên GDP ngày càng gia tăng chủ yếu là do khối lượng nhập khẩu lớn vàng và các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ gây ra lo ngại về sự bền vững và khả năng tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai.

Nhận thức được những vấn đề này, chính phủ Ấn Độ từ trước cho tới nay đã cố gắng cân bằng các lợi ích chính đáng của hoạt động kinh doanh vàng, cũng như nhu cầu phòng ngừa lạm phát của người tiết kiệm để làm giảm tình trạng nhập khẩu vàng, bảo vệ sự ổn định của cán cân vãng lai và các điều kiện tài chính vĩ mô. Trong các nỗ lực đó, giải pháp huy động nguồn lực vàng trong dân cũng là một chính sách được chính phủ Ấn Độ tính tới và triển khai trong nhiều thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, cho tới nay, quốc gia này cũng vẫn còn loay hoay, lúng túng trong việc tìm ra giải pháp quản lý thị trường vàng an toàn, bền vững nói chung và huy động vàng nói riêng. Với tỷ lệ tiêu thụ vàng vật chất trên GDP khá cao giống Ấn Độ, việc tìm hiểu chính sách quản lý vàng ở Ấn Độ rất có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam. Để có cái nhìn toàn diện và hiểu được bối cảnh quản lý thị trường vàng ở Ấn Độ, từ đó rút ra bài học có giá trị cho công tác quản lý thị trường vàng nói chung và huy động vàng nói riêng ở Việt Nam, bài viết dưới đây sẽ tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển chính sách quản lý – huy động vàng của Ấn Độ qua các thời kỳ khác nhau.

Từ khi giành được độc lập vào năm 1947, Chính phủ Ấn Độ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến vàng, nhằm hướng tới phát triển một thị trường vàng ổn định, thúc đẩy các thị trường tài chính khác và nền kinh tế tăng trưởng theo. Ấn Độ đã mau chóng định hướng các chính sách về quản lý vàng tập trung xoay quanh 5 mục tiêu:

  • Chấm dứt thói quen ưa chuộng vàng của người dân Ấn
  • Điều tiết được nguồn cung vàng
  • Giảm tình trạng buôn lậu vàng
  • Giảm nhu cầu về vàng
  • Giảm giá vàng trong nước
  • Tuy nhiên, cho đến nay, để theo đuổi các mục tiêu này, Ấn Độ đã trải qua hai xu hướng chính sách. Trước năm 1990, Ấn Độ thực thi chính sách kiểm soát quản lý chặt chẽ thị trường vàng và sau năm 1990, thị trường vàng ở Ấn Độ được nới lỏng theo hướng tự do hóa.

    Năm 1947, Chính phủ Ấn độ ban hành Đạo luật Quy định về ngoại hối cấm toàn bộ các hoạt động xuất nhập khẩu vàng. Đến năm 1963, Chính phủ Ấn Độ đã ban hành Quy định kiểm soát vàng: cấm sản xuất trang sức bằng vàng trên 14k nguyên chất. Tất cả các thợ kim hoàn lớn, nhỏ, buộc phải thiết lập các hồ sơ lưu giữ liên quan đến mua, sản xuất và bán mặt hàng này. Cá nhân chỉ được phép nắm giữ vàng dưới dạng trang sức và phải công bố lượng vàng nắm giữ khi vượt quá mức trần nhất định (vượt quá 2000 g đối với cá nhân và 4000 g đối với gia đình). Chỉ có các nhà buôn được cấp phép mới được giao dịch bằng vàng thỏi và vàng xu. Mặc dù trong vài năm tiếp sau, quy định về mức trần 14k được nới lỏng nhưng chế độ kiểm soát vàng được khẳng định mạnh hơn qua việc ban hành dưới dạng Luật: Đạo luật quản lý Vàng năm 1968.

    Mặc dù liên tục ban hành và thể hiện bằng văn bản có tính pháp lý ngày càng cao nhưng các chính sách kiểm soát và hạn chế giao dịch vàng của Ấn Độ đạt được rất ít mục tiêu đề ra. Do vàng chỉ được sở hữu dưới hình thức duy nhất là vàng trang sức nên vàng trang sức lại trở thành công cụ để đầu tư. Ngoài trang sức được chế tác tinh xảo, rất nhiều các loại trang sức thô (chẳng hạn như nhẫn hay vòng) được chế tác (để bán với giá chế tác rất thấp) để có thể dễ dàng sử dụng như “tiền”. Sư yêu thích sở hữu vàng của người dân càng củng cố mạnh thay vì giảm dần. Nhu cầu vàng không hề giảm do một lượng lớn vàng vẫn thường xuyên được nhập lậu vào Ấn Độ. Kéo theo đó, các mối quan hệ giữa những kẻ buôn lậu vàng với quan chức cao cấp đã trở thành phổ biến.

    Trước sự thất bại của việc thực thi Đạo luật kiểm soát vàng cùng với xu thế chính sách mới bắt đầu từ năm 1990 là giảm điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế quốc gia, Ấn Độ cũng có những thay đổi kéo theo đối với chính sách quản lý vàng. Tháng 6/1990, Đạo luật kiểm soát vàng bị bãi bỏ. Năm 1991, quyền sở hữu vàng của người dân được khôi phục hoàn toàn đối với cả vàng thỏi và tiền vàng. Nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của Ấn Độ trong việc thực hiện kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng giai đoạn này có thể thấy rõ là do: Thứ nhất, Ấn Độ đã không có một chế tài đủ mạnh, không có sự điều hành hiệu quả và thực thi pháp lý một cách nhanh chóng, dứt khoát. Thứ hai, Ấn Độ đã kiểm soát thị trường vàng với mức cao nhất là cấm quyền sở hữu vàng tư nhân nhưng quyền sở hữu vàng ở Ấn Độ không bị cấm toàn diện dưới mọi hình thức (vẫn được sở hữu vàng trang sức) trong khi văn hóa vàng trang sức ở Ấn Độ lại mạnh mẽ và ăn sâu.

    Tương ứng với 2 thời kỳ chính sách này, Ấn Độ đã thực thi những cơ chế, chính sách huy động khác nhau đối với lượng vàng trong dân cư. Cụ thể như sau:

  • Giai đoạn từ năm 1947 – 1990: Ấn Độ duy trì chế độ kiểm soát vàng theo đó, người dân không được quyền sở hữu vàng dưới dạng vàng miếng hoặc đồng xu; phát hành trái phiếu vàng (gold bond schemes)
  • Giai đoạn từ 1991 – nay: Ấn Độ cho phép người dân được sở hữu vàng dưới mọi hình thức; thực hiện cơ chế huy động vàng (gold deposit schemes)
  • Giai đoạn từ năm 1947 – 1990:

    Việc phát hành trái phiếu vàng là một trong chuỗi các giải pháp để đạt được mục tiêu giảm tình trạng nắm giữ vàng quá nhiều trong dân đã đề ra từ đầu. Với ý nghĩa đó, trong giai đoạn này, chính phủ Ấn Độ đã tiến hành 3 cơ chế trái phiếu vàng, được thực hiện lần lượt vào các năm 1962 va 1965 (2 đợt) để huy động lượng vàng nhàn rỗi trong nền kinh tế. Các cơ chế trái phiếu vàng này có điểm chung là: (i) Được thực hiện bởi Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Ấn Độ RBI; và (ii) Hình thức vàng huy động: vàng thỏi, vàng dưới dạng đồng xu và vàng trang sức.

    Có thể hiểu lý do phát hành trái phiếu vàng của chính phủ Ấn Độ trong giai đoạn thực thi đạo luật cấm sở hữu vàng tư nhân như sau:

  • Thứ nhất, vàng vẫn được phép sở hữu dưới dạng vàng trang sức, trong bối cảnh người dân vẫn ưa thích tích trữ vàng, và có thể chuyển từ đầu tư vàng miếng sang vàng trang sức, do vậy khi Ấn Độ phát hành trái phiếu vàng, đối tượng vàng thu hút ngoài vàng miếng, còn có vàng trang sức.
  • Thứ hai, thu hút và chuyển đổi được lượng vàng vật chất nhàn rỗi trong nền kinh tế thành đồng bản tệ khi mà trong hai đợt phát hành đầu, trái phiếu vàng khi đáo hạn được thanh toán bằng đồng rupee thay vì bằng vàng.
  • Tuy nhiên, hiệu quả của các đợt trái phiếu này không được như mong đợi, Đợt phát hành trái phiếu vàng lần thứ nhất được thực hiện vào 12/11/1962 với kỳ hạn 15 năm và lãi suất là 6,5% thu hút được 16,7 tấn vàng. Sau khi ban hành Quy định về kiểm soát vàng cấm mọi người dân sở hữu vàng thỏi, vàng xu, ngoại trừ vàng trang sức năm 1963, Ấn Độ tiến hành tiếp 2 đợt phát hành trái phiếu vàng vào năm 1965. Lẽ ra sau khi chính thức cấm sở hữu vàng miếng, đợt phát hành trái phiếu sau hi vọng sẽ thu hút được một lượng vàng lớn hơn, tuy nhiên ở cả 2 đợt này lượng vàng thu được thấp hơn đợt đầu tiên. Đợt phát hành trái phiếu vàng lần thứ 2 với kỳ hạn 15 năm và lãi suất 7%. lượng vàng thu được chỉ đạt 6,1 tấn. Đợt phát hành thứ 3, với tên gọi Trái phiếu vàng bảo vệ quốc gia 1980 (National Defence Gold Bonds 1980), thu hút được một lượng vàng gấp đôi lần liền trước, đạt 13.7 tấn, tuy nhiên vẫn thấp hơn đợt đầu tiên. Đặc biệt là với đợt trái phiếu lần thứ 3, chính phủ Ấn Độ đã thay đổi hình thức thanh toán bằng vàng thỏi chứ không phải bằng tiền mặt như hai đợt đầu. Động thái này cho thấy chính phủ Ấn Độ dường như đang thỏa hiệp dần với nhu cầu tích trữ vàng vật chất của người dân. Mục tiêu chấm dứt thói quen ưa chuộng vàng và giảm dần nhu cầu vàng trong dân trong bộ chính sách thuộc khuôn khổ Đạo luật Kiểm soát vàng của Ấn Độ có vẻ khó đạt được.

    Không ngăn chặn và thay đổi được việc nắm giữ vàng của người dân, tình trạng buôn lậu vàng và sở hữu vàng ngầm diễn ra mạnh mẽ, giá vàng vẫn tiếp tục gia tăng. Trước tình hình chênh lệch ngày càng lớn (từ 50% đến trên 50%) giữa giá vàng trong nước và quốc tế, năm 1978, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ RBI đóng vai trò là đại lý của chính phủ, đứng ra thực hiện đấu thầu vàng để bán vàng từ trong tay của chính phủ nhằm: (i) hỗ trợ chống lạm phát, tạo nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách; (ii) giảm buôn lậu vàng ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, các hoạt động đấu thầu này bị chỉ trích vì cuối cùng nó không đạt được mục tiêu đặt ra. Tháng 10/1978, Chính phủ Ấn Độ bãi bỏ các hoạt động đấu thầu vàng này. Nhìn từ góc độ nghiên cứu, hoạt động đấu thấu vàng của Ấn Độ đã thất bại và sớm bị chấm dứt là do không nằm trong tổng thể chính sách, thể hiện việc thỏa hiệp với mục tiêu giảm thói quen giữ vàng trong dân trong khi đang thực thi chính sách cấm người dân sở hữu vàng. Sự thỏa hiệp này đã làm tình trạng nhập lậu và chênh lệch giá vàng trong nước quốc tế trở nên tồi tệ hơn và đẩy các nhà hoạch định chính sách của Ấn Độ vào tình thế khó khăn và trong lúng túng.

    Giai đoạn 1991 đến nay:

    Sau khi chuyển hướng chính sách quản lý vàng năm 1990, Ấn Độ vẫn kiên trì với giải pháp huy động vàng trong dân. Để thực hiện giải pháp này với xu hướng chính sách mới, Ấn Độ đã tiến hành hai cơ chế để huy động vàng trong khu vực tư nhân:

    (i) Năm 1993: Phát hành Trái phiếu vàng 5 năm (Trái phiếu 1998). Được phát hành trong vòng 3 tháng, từ 3/1993-6/1998. Đến hạn, trái phiếu được hoàn trả bằng vàng thỏi với độ nguyên chất là 99,5% cộng thêm với một khoản tiền lãi tổng là 40 rupee một gam vàng. Đợt trái phiếu này thu hút được 41 tấn vàng.

    (ii) Từ năm 1999, Cơ chế Huy động tiền gửi bằng vàng (Gold Deposit Scheme) được thực hiện dưới sự giám sát của RBI.

    Mục tiêu của cơ chế này được đưa ra là nhằm giảm lượng vàng nhập khẩu, đưa vàng nắm giữ tư nhân vào sử dụng và tạo cơ hội cho dân chúng có thu nhập từ lượng vàng mình nắm giữ.

    NHTW Ấn Độ trao quyền cho 6 ngân hàng thương mại để thực hiện cơ chế này. Cụ thể:

    Ngân hàng

    Ngày trao quyền

    State Bank of India*

    Tháng 8/1999

    Indian Oversea Bank*

    Tháng 11/1999

    Corporation Bank*

    Tháng 12/1999

    Allahabad Bank*

    Tháng 1/2000

    Canara Bank

    Tháng 3/2000

    Bank of Nova Scotia

    Tháng 8/2000

    Nguồn: RBI

       Các ngân hàng được trao quyền sẽ chịu trách nhiệm thực hiện cơ chế huy động tiền gửi theo các chương trình riêng của mình. Tuy nhiên, RBI đưa ra hướng dẫn để đảm bảo các đặc điểm chung sau đây:

    (i) Đối tượng tham gia Cơ chế huy động tiền gửi bằng vàng: các cá nhân, các gia đình thống nhất Hindu (Hindu Undivided Families), các quỹ tín thác và các công ty.

    (ii) Kỳ hạn huy động vàng kéo dài từ 3 – 7 năm, mặc dù việc rút vàng trước kỳ hạn sau một thời gian nhất định là được cho phép. Khối lượng gửi tối thiểu là 200g vàng.

    (iii) Hình thức vàng được chấp nhận: vàng thỏi, đồng tiền vàng, và vàng trang sức đều được chấp nhận. Các loại vàng này sẽ được coi là vàng nguyên liệu để phân tích và tinh chế. Sau quá trình phân tích ban đầu, nhưng trước bước phân tích cuối cùng, người gửi vàng có quyền rút lại không gửi nữa.

    (iv) Lãi suất đối với giá trị vàng gửi được quy định dao động xung quanh mức 3-4% và được trả định kỳ hoặc toàn bộ vào cuối kỳ. Khi hoàn trả, việc thanh toán có thể được thực hiện bằng vàng thỏi (99,5%) hoặc bằng đồng rupee.

    Để trang trải cho các chi phí và thanh toán tiền lãi, các ngân hàng được phép cho vay vàng đã nhận gửi (sau khi tinh chế). Đối tượng cho vay là các nhà sản xuất vàng trang sức. Các ngân hàng cũng được tham gia vào các hợp đồng tương lai với các nhà giao dịch vàng miếng quốc tế, nhưng giới hạn ở khối lượng vàng nhận gửi. Họ cũng được bán lượng vàng nhận gửi ở thị trường trong nước cũng như được cho vay bằng đồng rupee với vàng gửi là tài sản thế chấp.

    Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình này vẫn chưa cao. Dân chúng có thể tham gia vào chương trình này thông qua 134 chi nhánh ngân hàng tại 55 thành phố của 4 ngân hàng được trao quyền. Tuy nhiên chỉ có một số rất ít trong số 134 chi nhánh này có được lượng vàng gửi đáng kể. State Bank of India (SBI) là ngân hàng hoạt động tích cực nhất, chiếm 90% lượng vàng gửi trên cả nước và theo nhận định từ các ngân hàng thì đối tượng khách hàng quan trọng nhất là các đền chùa. Một số đền chùa đã gửi một lượng lớn vàng trang sức cũ mà họ nhận được qua quyên góp từ thiện. Còn công chúng, theo báo cáo từ phía các ngân hàng, việc mang trang sức của mình đi gửi là miễn cưỡng vì sau quá trình phân tích sơ bộ, trang sức của họ thường có kết quả là mang hàm lượng vàng thấp hơn mong đợi của họ. Quá trình phân tích sơ bộ lại còn thường làm hỏng trang sức trong khi đồ trang sức của họ sẽ có giá trị cao hơn khi đem bán lại hoặc đem đổi cho các cửa hàng bán lẻ mà họ đã từng mua chúng.

    Như vậy, trải qua rất nhiều năm xây dựng và phát triển chính sách, Ấn Độ vẫn chưa hoàn toàn thành công trong việc đạt được các mục tiêu quản lý thị trường vàng nói chung và huy động vàng nói riêng. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình này ở Ấn Độ giúp nhận ra những bài học có giá trị cho công tác quản lý huy động vàng tại Việt Nam:

    Thứ nhất, để đạt được thành công trong quản lý thị trường vàng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách trong bộ chính sách quản lý thị trường vàng và sự thực thi nghiêm khắc với chế tài đủ mạnh để đảm bảo hiệu quả của từng chính sách. Có thể thấy, trong giai đoạn đầu, chính sách huy động vàng nói riêng và chính sách kiểm soát vàng nói chung của Ấn Độ thất bại do mục tiêu chính sách đã rõ, hướng đi chính sách đã rõ nhưng hiệu lực của các chính sách thấp do bộ các chính sách theo tinh thần của Đạo luật Kiểm soát vàng còn chưa có sự kín kẽ, thống nhất và bổ sung cho nhau; và việc thực thi Đạo luật kiểm soát vàng lại thiếu tính răn đe triệt để, chính quyền có sự thỏa hiệp với mong muốn của người dân.

    Thứ hai, giải pháp huy động vàng trong dân có ý nghĩa tích cực nhưng không phải dễ thực hiện. Trước hết, nó cần phải được thiết kế phù hợp và nằm trong tổng thể định hướng chung về quản lý thị trường vàng. Ở Ấn Độ, với mỗi giai đoạn, chính phủ Ấn Độ đã lưu ý thiết kế các cơ chế huy động tương ứng. Tuy nhiên đây chỉ là điều cần cần chưa phải là điều kiện đủ để thành công. Hoạt động huy động vàng còn cần phải tập trung xác định chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc huy động; thiết kế các tài sản tài chính (chứng chỉ, trái phiếu,..) đối ứng với vàng huy động đảm bảo đủ độ tin cậy, tính khả mại và lợi ích của người nắm giữ; Xây dựng kế hoạch cụ thể đối với nguồn lực vàng huy động cũng như các biện pháp phòng ngừa các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình huy động. Theo kinh nghiệm của Ấn Độ thì lượng vàng mà họ huy động được phần lớn chỉ cho các nhà sản xuất vàng trang sức vay, và các ngân hàng được NHTW ủy quyền thực hiện huy động vàng được phép cấp các khoản vay trên cơ sở tài sản đảm bảo là các chứng chỉ tiền gửi bằng vàng, bán vàng trong nước hay tham gia các hợp đồng kỳ hạn về giao dịch vàng trên thị trường quốc tế (với giá trị không được vượt quá khối lượng vàng họ đã huy động được). Tuy nhiên, hướng đi quản lý và phát triển thị trường vàng của Ấn Độ không hoàn toàn giống với Việt Nam, văn hóa sở hữu vàng của người dân Ấn thiên về trang sức, cũng không hoàn toàn giống người dân Việt, do vậy chắc chắn, cơ chế huy động và sử dụng vàng huy động ở Việt Nam sẽ không giống của Ấn Độ. Hơn nữa, trên thực tế, Ấn Độ cũng vẫn không thu hút được nhiều lượng vàng trong dân cư và vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề phát triển một thị trường vàng an toàn, bền vững. Có lẽ, điều quan trọng nhất trong việc quản lý – huy động vàng mà các quốc gia nên hướng tới vẫn là thay đổi thói quen tích trữ vàng của người dân, giảm tình trạng ưa thích nắm giữ vàng vật chất. Từ đó, thay vì tìm cách huy động vàng trong dân, có thể phát triển một thị trường vàng đầu tư hiện đại như các quốc gia phát triển.

    Tài liệu tham khảo:

  • India’s Gold Rush: Its Impact and Sustainability.
  • An Introdution to the Indian Gold Market.
  • Gold in the Indian Economic system.
  • World Gold Council, Gold Demand Trends, 2012
  •  

    Ths. Trần Thị Thanh Hòa

    Viện Chiến lược Ngân hàng

     

    1 Số liêu năm 2010


    • aA
    • Các chuyên mục:
    • Hợp tác nghiên cứu
    CÁC TIN KHÁC
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    01/05/2025
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    22/12/2015
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    22/12/2015
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    16/12/2015
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    16/12/2015
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    30/11/2015
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    30/11/2015
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    16/11/2015
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    16/11/2015
    Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
    16/09/2015
    Đang hiển thị 1 đến 10 của 94
    • 1
    • 2
    • 3
    • 10
    Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
    CPI
    Lãi suất
    Dự trữ bắt buộc
    Hoạt động thị trường tiền tệ
    • Nghiệp vụ thị trường mở
    • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
    • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
      • Thông báo đấu thầu
      • Kết quả đấu thầu
    • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
    Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản CCHC
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
    Dịch vụ công trực tuyến
    Hoạt động khác
    • Đầu tư, đấu thầu
      • Thông tin đấu thầu
      • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
      • Các dự án đang triển khai
      • Các dự án đã hoàn tất
    • Tài chính vi mô tại Việt Nam
    • Ổn định tài chính
      • Giới thiệu
        • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
        • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
      • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
    • Hợp tác quốc tế
      • Quan hệ với ADB
      • Quan hệ với IMF
      • Quan hệ với IBEC - IIB
      • Quan hệ với WB
      • Quan hệ với AIIB
      • Quan hệ với BIS
      • Quan hệ song phương
        • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
        • Khu vực châu Á
        • Khu vực châu Âu
        • Khu vực châu Mỹ
        • Khu vực châu Phi
        • Khu vực châu Đại Dương
      • Quan hệ đa phương
        • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
        • Giới thiệu tổ chức APEC
        • Giới thiệu tổ chức ASEM
        • Giới thiệu tổ chức WTO
        • Giới thiệu tổ chức ASEAN
        • Giới thiệu SEACEN
    • Công nghệ thông tin
      • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
      • Hỗ trợ kỹ thuật
      • An toàn thông tin
        • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
        • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
        • Văn bản chính sách ANTT
        • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
    • Hoạt động khoa học công nghệ
      • Các chương trình đề tài
      • Kết quả các chương trình, đề tài
      • Hợp tác nghiên cứu
      • Dịch vụ khoa học công nghệ
      • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
    • Tổ chức cán bộ
      • Tuyển dụng
    • Thi đua khen thưởng
      • Văn bản về thi đua khen thưởng
      • Công tác thi đua khen thưởng
      • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
    • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
    • Hoạt động Tổ chức tín dụng
    • Hoạt động đoàn thể
    • Tài chính kế toán
      • Chế độ kế toán của NHNN
        • Văn bản quy phạm pháp luật
        • Văn bản hướng dẫn
      • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
        • Văn bản
        • Tình hình triển khai
      • Chế độ kế toán của TCTD
        • Văn bản quy phạm pháp luật
        • Văn bản hướng dẫn
      • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
    Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
    • Các chính sách của NHNN
    • Các chính sách của TCTD
    • Giải đáp chính sách
    • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
    NHNN với Quốc hội và cử tri
    • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
    • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
    • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
      • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
      • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
    • Hoạt động về công tác Quốc hội
    • Báo cáo, giải trình
      • Báo cáo của NHNN
      • Giải trình của NHNN
    • Tài liệu tham khảo
      • Nghị quyết của Quốc hội
      • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
      • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
    • Liên hệ
    Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
    • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
    • Thông tin định kỳ
      • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
      • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
      • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
      • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
      • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
      • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
      • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
      • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
      • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
      • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
      • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
      • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
    • Thông tin bất thường
    Hệ thống các TCTD
    • Ngân hàng
      • Ngân hàng thương mại
        • NHTM Nhà nước
        • NHTM Cổ phần
        • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
        • Ngân hàng liên doanh
      • Ngân hàng Chính sách xã hội
      • Ngân hàng Hợp tác xã
    • TCTD phi ngân hàng
      • Công ty tài chính
      • Công ty cho thuê tài chính
      • TCTD phi ngân hàng khác
    • Tổ chức tài chính vi mô
    • Quỹ tín dụng nhân dân
    • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
    • Văn phòng đại diện
    Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
    • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
      • Kết quả triển khai
    • Chương trình khác
      • Kết quả triển khai
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
      • Kết quả triển khai
    Phổ biến kiến thức
    • Phổ biến kiến thức pháp luật
    • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
      • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
        • Phát hành và điều hòa tiền mặt
        • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
        • Tiền đình chỉ lưu hành
        • Phân biệt tiền thật, tiền giả
        • Bảo vệ tiền Việt Nam
      • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
        • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
        • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
    Tiếp cận thông tin
    • Danh mục thông tin công khai
    • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
    • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
    • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
    • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
    Thanh Tìm kiếm
    TIN VIDEO
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    TIN ẢNH
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    TIN ẢNH
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Icon

    Danh bạ liên hệ

    Icon

    Phản ánh kiến nghị

    Icon

    Đường dây nóng

    Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
    Ngân hàng
    ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
    Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
    © cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
    Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
    Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
    Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
    NCSC Certification
    Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
    Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
    IPv6 Ready