Sau cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, xu hướng giảm giá liên tiếp của đồng đô la Mỹ đã ảnh hưởng nhất định đến vị trí của đồng tiền này trên thị trường tài chính, thương mại quốc tế. Thậm chí, việc đồng tiền xanh có tiếp tục duy trì được sức mạnh của mình hay không đã từng trở thành câu hỏi lớn trong giới chính sách và đầu tư tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, trong năm 2014, xu hướng tăng giá của đồng USD đã bắt đầu hình thành, trong đó đáng chú ý là xu hướng tăng ổn định và liên tục từ cuối tháng 7/2014. Nếu như từ năm 2013 đến tháng 8/2014, chỉ số USD giao động qua các tháng trong ngưỡng 79 – 80, thì từ tháng 8/2014 đến nay, chỉ số này đã duy trì đà tăng mạnh trong khoảng 81 – 89,9. Theo đó, đồng đôla lên giá hầu hết so với các đồng tiền mạnh khác, lên giá gần 9% so với đồng EURO, tăng hơn 3% so với đồng Bảng anh - GBP, vượt 2,5% so với đồng Yên nhật - JPY.
Diễn biến của đồng đô la trong năm 2014
|
Nguồn: Consensus Economic Inc.
Sự lên giá của đồng USD trong năm nay đã ảnh hưởng tích cực hơn tới những dự báo về sức mạnh của đồng tiền này và những ảnh hưởng của nó tới kinh tế toàn cầu trong tương lai. Trong năm 2014 mặc dù kinh tế thế giới còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức nhưng đồng đôla Mỹ đã có được sự hỗ trợ lớn từ các nhân tố nội tại của nền kinh tế, cụ thể như sau:
* Kinh tế Mỹ tăng trưởng vững chắc hơn so với các nền kinh tế lớn trong năm 2014 đã củng cố đáng kể sức mua của đồng bạc xanh trong giao dịch toàn cầu.
Tỷ lệ tăng trưởng của Mỹ, khu vực EU và Nhật Bản
So với các nền kinh tế đầu tầu khác, kinh tế Mỹ đang diễn biến theo chiều hướng tích cực, các chỉ số kinh tế vĩ mô tiếp tục phản ánh xu hướng mở rộng bền vững. Trong năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục được cải thiện qua các quý, theo số liệu của ủy ban phân tích kinh tế, GDP quý 3 tính theo năm hiện ở mức 5%, đây là con số cao nhất kể từ quý 3 năm 2003 đến nay. Đây là số liệu đã được điều chỉnh 3 lần và là số liệu cuối cùng về GDP quý 3/2014, cao hơn so với ước tính ban đầu của Bộ Thương mại Mỹ là 3.9%. Đồng thời, đà bứt phá trong quý 3 cũng đánh dấu sự tăng tốc so với mức tăng trưởng mạnh 4.6% trong quý 2 và tình trạng bấp bênh trong quý 1 khi GDP giảm tới 2.1% do thời tiết khắc nghiệt của mùa đông.
GDP tăng mạnh trong năm 2014 nhờ có đóng góp tích cực từ tiêu dùng và đầu tư trong nước. Ngoài ra, chỉ số sản xuất công nghiệp gia tăng mạnh mẽ, tài khoản vãng lãi được cải thiện đáng kể, tỷ lệ việc làm hàng tháng thay đổi tích cực đã tác động tới tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống ở mức thấp trong 6 năm trở lại đây, khoảng dưới 6%, tiêu dùng trong nước gia tăng được ghi nhận cả ở khu vực hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ, giá nhà ở của Mỹ bắt đầu có những tín hiệu mới, chỉ số lạm phát cơ bản và lạm phát chung tiếp tục xu hướng thấp dưới ngưỡng 2% một năm.
Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp của Mỹ qua các tháng
* Khả năng tăng lãi suất vào giữa 2015 của Fed đã làm gia tăng nhu cầu năm giữ đồng USD
Cục dự trữ liên bang Mỹ sẽ sử dụng CSTT để tác động vào các điều kiện kinh tế thông qua việc tăng, giảm lãi suất; thắt chặt hay nới lỏng các điều kiện tín dụng. Việc thay đổi mức lãi suất chính sách (fed fund rate) sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá của đồng đô la. Khả năng Mỹ sẽ chính thức thực hiện CSTT thắt chặt với động thái tăng lãi suất – là xu hướng ngược với khu vực đồng tiền chung Châu Âu và Nhật bản đã làm cho nhu cầu về đồng đô la trong các giao dịch tài chính và thương mại toàn cầu gia tăng mạnh. Hiện tại, mặc dù Fed đang duy trì lãi suất ở mức 0,25% nhưng vẫn cao hơn so với chính sách lãi suất gần bằng 0 của EU và Nhật bản. Tuy nhiên, trong cuộc họp ngày 17/12 vừa qua, với những tín hiệu khá tốt từ thị trường lao động, diễn biến của lạm phát, thị trường nhà ở và chi tiêu của khu vực dân cư, Fed bắt đầu đưa ra tín hiệu sẽ tăng lãi suất chính sách để đảm bảo đạt được các mục tiêu về việc làm và giá cả trong dài hạn khi diễn biến kinh tế vĩ mô tiếp tiến triển tốt. Trong trường hợp mọi yếu tố tác động khác không thay đổi, việc tăng lãi suất ngắn hạn sẽ làm cho giới đầu tư trên toàn cầu ưa thích nắm giữ đồng đô la cũng như các tài sản được yết giá bằng đồng đô la ngay thời điểm hiện nay để có thể thu lợi từ sự lớn mạnh của đồng tiền này trong tương lai.
Tỷ lệ lãi suất ngắn hạn của FED, khu vực EU và Nhật bản
* Nhu cầu nhập khẩu dầu khí giảm mạnh đã góp phần cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại
Sản xuất dầu và khí đốt liên tục gia tăng cùng với việc việc tái khai thác các nguồn dầu mỏ trong nước bao gồm cả dầu từ đá phiến, Mỹ đã gia tăng đáng kể nguồn cung năng lượng từ thị trường nội địa trong thời gian qua. Chính vì vậy, sản lượng dầu khí nhập khẩu đã giảm đáng kể. Nếu như vào năm 2005, hàng hóa dầu khí nhập khẩu chiếm khoảng 60% nhu cầu tiêu dùng trong nước thì đến năm 2013, đã giảm xuống gần một nửa, còn khoảng 35% và theo dự báo của Cục năng lượng thì đến năm 2015, lượng hàng nhập khẩu giảm mạnh, chỉ còn khoảng 21%. Thực tế này đã góp phần cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Mỹ và từ đó có tác động tích cực đến vị thế của đồng đô la.
Tình hình sản xuất dầu thô và cán cân thương mại của Mỹ
|
Diễn biến khả quan của đồng đô la trong năm 2014 sẽ có những ảnh hưởng rõ nét hơn tới nền kinh tế và môi trường đầu tư trên toàn cầu trong năm 2015. Đồng đô la tăng giá sẽ tác động làm cho giá cả hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, giảm áp lực của lạm phát và làm gia tăng sức mua trong nền kinh tế khi mà tốc độ tăng tiền lương thực tế còn thấp. Ngoài ra, đồng đôla mạnh so với hầu hết các đồng tiền cũng sẽ đem lại lợi thế cho Nhật bản, các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Châu á và khu vực Châu Âu trong hoạt động xuất khẩu. Và nếu xét trong dài hạn thì xu hướng này sẽ tác động làm cho kinh tế toàn cầu trở nên cân bằng và mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, đồng đô la mạnh lên cũng sẽ ảnh hưởng không tích cực tới thu nhập của các khoản đầu tư quốc tế cũng như là doanh thu của các công ty có hoạt động lớn ở nước ngoài. Chính vì thế, mà có nhiều khuyến cáo cho rằng các hoạt động tư vào thời điểm hiện tại phải luôn để mắt tới diễn biến của đồng đô la mặc dù sự hồi phục của đồng tiền này vẫn còn ở mức tương đối thấp so với xu hướng giảm giá trong hơn 10 năm qua.
------------------------------------------
Tài liệu Tham khảo: Bloombergs.com; U.S Bureau of Economic analysis; ivesting.com
Phòng Nghiên cứu Phát triển Ngân hàng Trung Ương
Viện Chiến lược Ngân hàng