Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Một số vấn đề pháp lý về tuân thủ đạo Luật tuân thủ thuế Hoa kỳ trong lĩnh vực ngân hàng

20/03/2015 16:14:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

   Kể từ ngày 31/3/2015, phần lớn các tổ chức tài chính nước ngoài trong đó bao gồm tổ chức tài chính của Việt Nam sẽ phải cung cấp các thông tin về tài khoản/tài sản của khách hàng của mình cho Cục Thuế Vụ Hoa Kỳ để tránh việc bị khấu trừ thuế từ các khoản thu nhập có nguồn gốc Hoa Kỳ của chính mình. Quy định trên là một trong những chế tài xử phạt đối với các tổ chức tài chính nước ngoài không tuân thủ quy định về cung cấp thông tin tại Đạo luật Tuân thủ thuế Hoa Kỳ (viết tắt là FATCA) – một Đạo luật do Quốc hội Hoa Kỳ ban hành ngày 18/3/2010 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014 – một Đạo luật do Quốc hội Hoa Kỳ ban hành nhưng có tầm ảnh hưởng đối với tất cả các tổ chức tài chính nước ngoài có thu nhập từ Hoa Kỳ.

 

   Mục đích của việc ban hành FATCA là nhằm ngăn ngừa các hành vi trốn thuế của đối tượng phải chịu thuế theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ. Để làm được điều này, Cục Thuế vụ Hoa Kỳ phải thu thập các thông tin về tài khoản/tài sản của đối tượng phải chịu thuế theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ tại các quốc gia trên thế giới để đảm bảo rằng họ thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình. Theo FATCA, các tổ chức tài chính nước ngoài có hai lựa chọn, một là cung cấp đúng và đầy đủ thông tin của khách hàng là người Hoa Kỳ cho Cục Thuế vụ Hoa Kỳ; hoặc Hai là, nếu từ chối cung cấp thông tin thì có khả năng phải chịu khấu trừ 30% thuế thu nhập đánh trên (i) thu nhập từ chứng khoán có nguồn gốc tại Hoa Kỳ; (ii) tiền lãi từ tài khoản tiền gửi ngân hàng mở tại Hoa Kỳ hay chi nhánh nước ngoài của ngân hàng Hoa Kỳ; (iii) tổng các khoản thu từ mua bán chứng khoán của Hoa Kỳ.

   Hoa Kỳ đã đưa ra hai hình thức lựa chọn để thực hiện cung cấp và trao đổi thông tin: (i) từng tổ chức tài chính trực tiếp ký các thỏa thuận Tổ chức Tài chính Nước ngoài (thỏa thuận FFIs) với Cục Thuế vụ Hoa Kỳ; (ii) cơ quan thuộc Chính phủ của quốc gia nơi có trụ sở tổ chức tài chính ký thỏa thuận Liên Chính phủ (IGA) với cơ quan thuộc Chính phủ của Hoa Kỳ. Đối với trường hợp (ii) có thể có các mô hình khác nhau tùy vào việc quốc gia ký kết và Hoa Kỳ đã có các thỏa thuận song phương về tránh đánh thuế hai lần hoặc tùy thuộc vào lựa chọn của các bên về đối tượng cung cấp thông tin cho Cục thuế vụ Hoa Kỳ (là cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ký kết hay chính bản thân tổ chức tài chính tại quốc gia đó).

   Bài viết này sẽ tập trung vào các vấn đề pháp lý mà tổ chức tín dụng Việt Nam có thể gặp phải đối với hai hình thức tuân thủ FATCA.

    I. Đối với hình thức ký trực tiếp Thỏa thuận FFI giữa các tổ chức tài chính nước ngoài với Cục Thuế vụ Hoa Kỳ

   Đối với hình thức này, việc đầu tiên, các tổ chức tài chính nước ngoài trong đó bao gồm các tổ chức tín dụng Việt Nam phải đăng ký mã số GIIN với Cục Thuế vụ Hoa Kỳ. Hành động này được xem như là một sự chấp thuận của tổ chức tài chính nước ngoài về việc sẽ cung cấp bất kỳ thông tin về tài khoản có yếu tố Hoa Kỳ cho Cục Thuế vụ Hoa Kỳ.

   Tiếp đó, các tổ chức tài chính phải ký kết Thỏa thuận FFIs để ràng buộc trách nhiệm báo cáo và trách nhiệm khấu trừ đối với các tài khoản chống đối – tài khoản của các chủ tài khoản từ chối việc cung cấp/bổ sung thông tin cho tổ chức tài chính báo cáo.

   Các tổ chức tài chính phải tuân thủ bao gồm các tổ chức có hoạt động nhận tiền gửi; các tổ chức có hoạt động gửi giữ; các tổ chức thực hiện hoạt động đầu tư; các tổ chức thực hiện hoạt động bảo hiểm; công ty quản lý quỹ và các quỹ… Tuy nhiên, một số đối tượng được loại trừ khỏi danh sách được coi là tổ chức tài chính gồm hầu hết cơ quan của Chính phủ; tổ chức phi lợi nhuận; một số tổ chức tài chính quy mô nhỏ, tổ chức tài chính địa phương; một số quỹ hưu trí…

   Tính đến hết tháng 12/ 2014, theo thông tin từ trang điện tử của Cục Thuế vụ Hoa Kỳ, đã có khoảng 146 tổ chức tài chính Việt Nam và các chi nhánh của các tổ chức tài chính Việt Nam hay chi nhánh của tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt Nam đã được Hoa Kỳ chứng nhận là tổ chức tài chính tuân thủ thông qua hình thức cấp cho mỗi tổ chức tài chính, chi nhánh một mã số GIIN.

Như đã đề cập, với việc đăng ký mã số GIIN, các tổ chức tài chính này cam kết sẽ cung cấp thông tin về chủ tài khoản khách hàng có dấu hiệu Hoa Kỳ cho Cục Thuế vụ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, một số quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực ngân hàng sẽ có thể trở thành rào cản đối với để các tổ chức tín dụng Việt Nam thực hiện cam kết của mình, cụ thể như sau:

   (i) Thông tin phải cung cấp là thông tin được bảo mật theo quy định của pháp luật Việt Nam

   Khoản 2 Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định : “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.

   Khoản 3 Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định : “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”.

Khoản 15 Điều 5 Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN ngày 14/12/2007 về độ mật của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Ngân hàng quy định: “Tài liệu liên quan đến tiền gửi và tài sản khác của từng khách hàng tại các tổ chức tín dụng” là tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Ngân hàng thuộc độ “mật”.

   Như vậy, theo quy định trên, các thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các thông tin liên quan đến giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng là những thông tin phải được bảo mật, không được tiết lộ cho bên thứ ba nếu không được (i) cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc (ii) không được sự chấp thuận của chính khách hàng.

   Câu hỏi được đặt ra ở đây là trong trường hợp nào và cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin về tài khoản, tài sản gửi của khách hàng tại tổ chức tín dụng và liệu ngay cả trong trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có được sự chấp thuận của chính khách hàng thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó có được đương nhiên cung cấp thông tin cho Cục Thuế vụ Hoa Kỳ hay không?

   (ii) Quy định về trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tổ chức tín dụng cung cấp thông tin về tài khoản, tài sản gửi của khách hàng tại tổ chức tín dụng:

   Khoản 4 Điều 5 Nghị định 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 về giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng quy định: “Tổ chức nhận tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng chỉ được cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng theo yêu cầu bằng văn bản của các cơ quan Nhà nước trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

   Căn cứ vào quy định ở trên, phạm vi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng chỉ gói gọn trong năm mục đích : (i) thanh tra, (ii) điều tra, (iii) truy tố, (iv) xét xử, (v) thi hành án.

Như vậy, việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng cho một mục đích khác không thuộc một trong năm mục đích kể trên là chưa phù hợp với quy định tại Nghị định 70.

   (iii) Quy định về việc cung cấp thông tin trong trường hợp nhận được sự đồng ý của khách hàng:

   Mặc dù khoản 3 Điều 14 Luật các Tổ chức tín dụng có quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp được sự chấp thuận của khách hàng.

   Tuy nhiên, theo quy định đã trích dẫn ở trên, tài liệu liên quan đến tiền gửi và tài sản khác của từng khách hàng tại các tổ chức tín dụng là tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Ngân hàng thuộc độ “mật”.

Khoản 1 Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010 quy định : “Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm lập danh mục, thay đổi độ mật, giải mật bí mật nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng gửi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định; bảo vệ bí mật của Ngân hàng Nhà nước và của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật”.

Đồng thời, Điều 17 Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước quy định : “khi tiến hành chương trình hợp tác quốc tế có liên quan đến bí mật nhà nước thì phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ bí mật nhà nước”. Và điểm b khoản 2 Điều 11 Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1087/2003/QĐ-NHNN ngày 17/9/2003 quy định : “khi tiến hành chương trình hợp tác quốc tế hoặc thi hành công vụ, nếu có yêu cầu phải cung cấp những thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài phải tuân thủ theo nguyên tắc: b) Bí mật nhà nước thuộc độ Mật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước duyệt”.

   Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, các tổ chức nhận tiền gửi sẽ không được phép tự động cung cấp thông tin có liên quan đến tài sản, tài khoản tiền gửi của khách hàng cho cá nhân, tổ chức nước ngoài ngay cả khi có sự chấp thuận của chính chủ tài khoản bởi các thông tin này được bảo vệ theo chế độ mật và chỉ được thực hiện sau khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước duyệt và ngay cả khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước duyệt thực hiện, việc cung cấp thông tin đó cũng cần phải dựa trên cơ sở là nhằm tiến hành chương trình hợp tác quốc tế.

Tuy nhiên, một vấn đề nữa đặt ra ở đây là cần phải xác định phạm vi thông tin bởi phạm vi thông tin phải cung cấp theo quy định của FATCA có thể không trùng với với phạm vi thông tin được coi là “mật” theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vậy một câu hỏi nữa được đặt ra cho nhà quản lý đó là, đối với những thông tin không được coi là “mật” theo quy định của pháp luật Việt Nam thì tổ chức tín dụng có được tự động cung cấp thông tin hay không? Vì vậy, khi đi vào triển khai thực hiện, cơ quan quản lý nhà nước cần phải rà soát phạm vi thông tin cần phải cung cấp một cách cụ thể để có ứng xử phù hợp.

   II. Đối với hình thức cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết Thỏa thuận Liên Chính phủ (Intergovernmental Agreements - IGA) với cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ:

   Với hình thức này, Hoa Kỳ sẽ ký với Chính phủ các quốc gia một trong hai phiên bản IGA. IGA theo mô hình 1 là mô hình tổ chức tài chính báo cáo cho Cục thuế vụ Hoa kỳ thông qua cơ quan có thẩm quyền của nước sở lại và IGA theo mô hình 2 là mô hình tổ chức tài chính báo cáo trực tiếp cho Cục thuế vụ Hoa kỳ. Cả hai mô hình này có thể được thực hiện ngay cả khi giữa quốc gia đó và Hoa Kỳ chưa có thỏa thuận về tránh đánh thuế hai lần.

Khi ký kết thỏa thuận theo một trong hai mô hình này, quốc gia ký kết phải cam kết gỡ bỏ tất cả trở ngại về mặt pháp lý để có thể tuân thủ các quy định của FATCA và phải giảm bớt gánh nặng cho các tổ chức tài chính có trụ sở tại quốc gia đó.

   Việc một quốc gia lựa chọn hình thức ký kết thỏa thuận Liên chính phủ với cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ không làm thay đổi nghĩa vụ buộc tổ chức tài chính nước ngoài phải đăng ký mã số GIIN trên trang thông tin điện tử về FATCA và phải thông báo cho cơ quan khấu trừ thuế mã số GIIN của mình. Đối với các quốc gia lựa chọn mô hình 1, thời hạn phải thông báo cho cơ quan khấu trừ thuế mã số GIIN của mình là ngày 01/01/2015. Còn đối với các quốc gia lựa chọn mô hình 2, tổ chức tài chính phải đăng ký mã số GIIN với Cục thuế vụ Hoa Kỳ và phải đồng ý tuân thủ các quy định như tại thỏa thuận FFIs.

Một điểm đáng lưu ý ở đây là tổ chức tài chính nước ngoài đã đăng ký mã số GIIN và ký thỏa thuận FFIs để cung cấp thông tin trực tiếp cho Cục thuế vụ Hòa kỳ có thể thay đổi hình thức tuân thủ theo thỏa thuận IGA khi quốc gia nơi đặt trụ sở của tổ chức tài chính kỳ IGA theo mô hình 1.

   Sự khác biệt giữa mô hình này là quy trình cung cấp thông tin. Trong mô hình 1, các tổ chức tài chính có trụ sở tại quốc gia nước đối tác cần phải rà soát, định dạng chủ tài khoản có dấu hiệu Hoa Kỳ và cung cấp các thông tin đó cho cơ quan có thẩm quyền của mình, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nước đối tác sẽ chuyển các thông tin nói trên cho Cục thuế vụ Hoa Kỳ.

Trong khi đó trong mô hình 2, cơ quan có thẩm quyền tại quốc gia nước đối tác chấp thuận và cho phép tổ chức tài chính nước ngoài có trụ sở tại quốc gia đó trực tiếp gửi báo cáo các thông tin về chủ tài khoản có dấu hiệu Hoa Kỳ cho Cục thuế vụ Hoa Kỳ.

   Như đã đề cập ở phần trên, việc lựa chọn hình thức ký Thỏa thuận Liên Chính phù, dù theo mô hình 1 hay mô hình 2 cũng có thể gặp phải rào cản về mặt pháp lý bởi các quy định của pháp luật trong nước có khả năng xung đột với quy định của Thỏa thuận Liên Chính phủ.

Để giải quyết vấn đề này, khoản 1 Điều 6 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế số 41/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”.

Do vậy, nếu hình thức Thỏa thuận Liên Chính phủ (IGA) là Điều ước quốc tế thì xung đột luật đương nhiên được giải quyết do Điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng trực tiếp.

   Như vậy, để thực hiện các quy định của FATCA, không chỉ các tổ chức tài chính – đối tượng trực tiếp chịu tác động mà ngay cả chính phủ quốc gia nơi có trụ sở của các tổ chức tài chính cũng chịu những sức ép để xây dựng cơ chế và chính sách, đảm bảo tổ chức tài chính có đầy đủ điều kiện để tuân thủ quy định tại FATCA. Về mặt khách quan, việc một đạo luật của nước ngoài có tầm ảnh hưởng đến một quốc gia khác là một việc khó chấp nhận, tuy nhiên, khi đã tham gia vào thị trường tài chính quốc tế, chắc chắn các tổ chức tài chính phải chấp nhận các rủi ro chính sách và cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia cần xem xét hỗ trợ một cách tốt nhất về mặt kỹ thuật để các tổ chức tài chính có thể hạn chế rủi ro này./.

 

Thái Lan Anh - PC

 

 

1

 

  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
CÁC TIN KHÁC
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
03:06, 10/02/2026
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
17:00, 02/02/2026
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
09:16, 29/01/2026
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
09:13, 22/01/2026
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
11:28, 19/01/2026
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
22:00, 15/01/2026
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
09:51, 14/01/2026
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
09:53, 09/01/2026
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
15:00, 08/01/2026
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
03:32, 18/12/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready