Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận được báo cáo số 44/BC-ĐĐBQH ngày 29/09/2014 của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015”, trong đó có kiến nghị về lĩnh vực ngân hàng. NHNN xin báo cáo giải trình một số vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành Ngân hàng như sau:
1. Về kiến nghị sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị của TCTD tại Điều 50 của Luật các TCTD theo hướng thành viên Hội đồng quản trị phải là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của TCTD (ngoại trừ thành viên độc lập) để nâng cao trách nhiệm thành viên Hội đồng quản trị của các TCTD.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp: Thành viên Hội đồng quản trị có các điều kiện, tiêu chuẩn, bao gồm: Là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc người khác có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
Các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn đối với thành viên Hội đồng quản trị TCTD tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật các TCTD là phù hợp với quy định tại Luật Doanh nghiệp trên đây (thành viên HĐQT là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán).
Tiếp thu ý kiến của Đoàn Đại biểu Quốc hội, NHNN sẽ nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Quốc hội chỉnh sửa quy định trên đây của Luật các TCTD cho phù hợp với thực tiễn và các quy định tại các văn bản pháp lý có liên quan.
2. Về kiến nghị nghiên cứu, bổ sung giới hạn mức vốn được góp tối đa của nhóm thành viên có liên quan trong một số hợp tác xã tại Luật hợp tác xã hoặc Luật các TCTD để hạn chế việc chi phối của một số ít thành viên khối QTDND.
QTDND là TCTD được thành lập và hoạt động theo mô hình hợp tác xã. Nghị quyết, chiến lược, kế hoạch,... liên quan đến tổ chức và hoạt động của QTDND được thông qua trên cơ sở số phiếu biểu quyết của các thành viên theo nguyên tắc đối nhân. Mỗi thành viên của QTDND được một phiếu biểu quyết, phiếu biểu quyết có giá trị ngang nhau, không phụ thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của thành viên.
Hiện nay, NHNN đang hoàn thành các thủ tục để ban hành Thông tư quy định về hoạt động của QTDND, trong đó quy định tỷ lệ vốn góp tối đa của một thành viên tại QTDND được quy định giảm từ mức 20% vốn điều lệ theo quy định hiện hành xuống mức 10% vốn điều lệ. Với quy định về tỷ lệ góp vốn cùng với nguyên tắc đối nhân nêu trên sẽ góp phần hạn chế việc chi phối của một số ít thành viên đối với hoạt động của QTDND.
3. Về kiến nghị sớm ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 202/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Ngân hàng”.
Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng, NHNN đã trình và được Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 12/12/2014) thay thế Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 và Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2011 của Chính phủ. Nghị định số 96/2014/NĐ-CP đã khắc phục những bất cập trong Nghị định số 202/2004/NĐ-CP và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm hành chính về tiền tệ và ngân hàng. Nghị định bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm vào diện xử phạt cũng như tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm, trong đó, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng của tổ chức là 2 tỷ đồng và cá nhân là 1 tỷ đồng.
4. Về kiến nghị sớm ban hành văn bản liên bộ về kiểm soát sở hữu chéo để tạo điều kiện cho NHNN thuận lợi hơn trong quản lý chỉ đạo Công ty Quản lý tài sản (VAMC) tích cực thực hiện bán nợ song song với việc mua nợ xấu của các TCTD trong thời gian tới.
4.1. Về việc sớm ban hành văn bản liên bộ về kiểm soát sở hữu chéo.
Nhận thức rõ vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng làm gia tăng rủi ro hệ thống, tạo điều kiện cho các hành vi chuyển vốn lòng vòng, tăng vốn điều lệ không thực chất của các ngân hàng, ngày 20/11/2014, NHNN đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của NHNN, trong đó đưa ra các quy định nhằm hạn chế tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo, cụ thể:
+ Về vấn đề quản trị rủi ro: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lập, cập nhật danh sách cổ đông sáng lập, cổ đông lớn, thành viên góp vốn, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, người điều hành và các chức danh quản lý và những người có liên quan của những người này; danh sách này phải được công khai trong toàn hệ thống của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đồng thời TCTD phải báo cáo Đại hội cổ đông, Đại hội thành viên các khoản cấp tín dụng cho các đối tượng quản lý, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại TCTD, công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp TCTD nắm quyền kiểm soát.
+ Về các điều kiện, giới hạn cấp tín dụng: không cho phép các TCTD góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, TCTD khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD đó và không cho phép công ty con, công ty liên kết của một TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của chính TCTD đó đồng thời, quy định về giới hạn sở hữu của cổ đông và nhóm cổ đông tại TCTD; không cho phép TCTD cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm soát. Ngoài ra, Thông tư có quy định mức cấp tín dụng đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan; quy định các điều kiện, giới hạn cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo đó tổng mức dư nợ cấp tín dụng của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu không vượt quá 5% vốn điều lệ, vốn được cấp. Thông tư quy định cụ thể về điều kiện để NHTM mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác; quy định về mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM, công ty tài chính và các công ty con, công ty liên kết vào lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó và tổng mức góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp kể cả công ty con, công ty liên kết không được vượt quá 40% (đối với NHTM) và 60% (đối với công ty tài chính) vốn điều lệ và quỹ dự trữ của NHTM/công ty tài chính.
Bên cạnh đó, ngày 15/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg về một số nội dung thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước, trong đó có quy định về việc các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện thoái vốn đầu tư tại các TCTD.
Các quy định nêu trên sẽ góp phần hạn chế, xử lý sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng và tạo ra một sân chơi bình đẳng, minh bạch, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của hệ thống các TCTD Việt Nam và tạo điều kiện cho NHNN thuận lợi hơn trong quản lý, giám sát các TCTD trong thời gian tới.
4.2. Về việc chỉ đạo Công ty Quản lý tài sản (VAMC) tích cực thực hiện bán nợ song song với việc mua nợ xấu của các TCTD trong thời gian tới.
Theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC (Nghị định 53) và Thông tư số 19/2013/TT-NHNN của NHNN về mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC, VAMC được thành lập với mục tiêu: (i) Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD bằng cơ chế phân bổ dần chi phí trích lập dự phòng rủi ro giúp các TCTD cân đối năng lực tài chính xử lý các tổn thất về nợ xấu; (ii) Hỗ trợ khách hàng vay thông qua việc cơ cấu lại khoản nợ, hỗ trợ tài chính cho khách hàng vay, chuyển nợ thành vốn góp,... (iii) Với một số quyền hạn đặc thù, VAMC sẽ phối hợp các cơ quan liên quan trong việc đẩy nhanh tiến độ bán, xử lý nợ và tài sản bảo đảm. Sau khi bán nợ xấu cho VAMC, trên bảng cân đối kế toán của TCTD bán nợ, khoản nợ xấu bán cho VAMC được thay thế bằng các trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Đây là một trong các giải pháp chủ yếu trong tổng thể nhiều giải pháp xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD trong điều kiện sử dụng nội lực của hệ thống TCTD là chính, không dùng tiền từ ngân sách nhà nước.
Từ khi thành lập đến nay, VAMC đã thực hiện mua 133.555 tỷ đồng nợ xấu, giá mua 108.652 tỷ đồng; đã bán 69 khoản nợ của 11 khách hàng với tổng giá trị nợ gốc là 2.085 tỷ đồng, giá bán nợ là 1.789 tỷ đồng; bán tài sản bảo đảm của 12 khách hàng với giá bán 501 tỷ đồng. Kết quả này đã bước đầu đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, tạo nền tảng đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu trong thời gian tới, tạo niềm tin về tính khả thi của công cụ xử lý nợ xấu rất đặc thù này.
Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu VAMC đã mua còn gặp nhiều khó khăn do: (i) thị trường bất động sản phục hồi chậm; (ii) khuôn khổ pháp lý về mua bán, xử lý tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập; (iii) thiếu các cơ chế, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư mua nợ, tài sản bảo đảm; (iv) thị trường tài chính, thị trường mua bán nợ chưa phát triển.
Để tạo điều kiện cho VAMC xử lý nhanh hơn nợ xấu đã mua, NHNN đã tổng hợp, báo cáo và đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan thực hiện một số giải pháp hỗ trợ cho hoạt động của VAMC, như: (i) Tăng cường năng lực tài chính cho VAMC; (ii) Tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp lý liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, tạo cơ chế khuyến khích cho nhà đầu tư mua nợ xấu, tài sản bảo đảm; (iii) phát triển thị trường bất động sản và thị trường mua bán nợ. Cuối tháng 10/2014, NHNN đã trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013, trong đó bổ sung quy định về việc bán nợ cho tổ chức, cá nhân là người không cư trú nhằm hỗ trợ cho việc bán nợ của VAMC cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Tiếp thu kiến nghị của Đoàn ĐBQH, NHNN sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo, giám sát chặt chẽ hoạt động của VAMC, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến hoạt động của VAMC và thị trường mua bán nợ để VAMC có điều kiện đẩy mạnh việc bán nợ và thực sự là công cụ hữu hiệu trong việc xử lý nợ xấu.
5. Về kiến nghị có chính sách hỗ trợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh trong việc xử lý nợ khi xảy ra rủi ro bất khả kháng như: thiên tai, bão lụt, dịch bệnh… trên diện rộng. Đồng thời ban hành quy định riêng về phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đối với nợ vay thuộc lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ có quy định về cơ chế xử lý các khoản nợ vay gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng. Theo đó, khi có thiên tai, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng được cơ quan có thẩm quyền (Bộ Nông nghiệp, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố) công bố thì TCTD được khoanh nợ tối đa 2 năm và lãi suất khách hàng phải trả TCTD sẽ được giảm trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế. Tuy nhiên, qua hơn 4 năm triển khai, chính sách chưa thực sự hiệu quả do các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh chưa công bố thiên tai dịch bệnh trên diện rộng và các TCTD chưa được giảm trừ phần lãi khách hàng phải trả vào lợi nhuận trước thuế do vướng mắc liên quan đến pháp luật của ngành thuế. Để tháo gỡ khó khăn đó, ngày 15/12/2014 NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 41, trong đó đề xuất sửa đổi quy định này theo hướng: Giao nhiệm vụ cụ thể cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đánh giá thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phát sinh trên phạm vi rộng, báo cáo Bộ Tài chính và NHNN. Trên cơ sở báo cáo này, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với NHNN trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cách thức xử lý khoản nợ vay.
Ngoài ra, tại dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 41, NHNN đã đề xuất quy định cụ thể việc trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD để phản ánh đúng rủi ro trong cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và khuyến khích các TCTD đầu tư vốn vào lĩnh vực này, cụ thể:
- Đối với khoản cho vay không có tài sản bảo đảm: TCTD được áp dụng mức trích lập dự phòng rủi ro tối thiểu bằng 50% mức trích lập dự phòng rủi ro theo quy định hiện hành đối với các khoản cho vay tương tự thuộc các lĩnh vực khác.
- Đối với khoản cho vay có tài sản bảo đảm: NHNN quy định cụ thể tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản bảo đảm phù hợp với các khoản cho vay nông nghiệp, nông thôn trong từng thời kỳ.
6. Về kiến nghị sớm ban hành Thông tư hướng dẫn xử lý việc sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định tại Luật các TCTD; Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân và quy định về hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Tiếp thu kiến nghị của Đoàn ĐBQH, NHNN sẽ khẩn trương hoàn thiện để sớm ban hành các Thông tư nêu trên.
Trên đây là nội dung giải trình của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Đoàn đối với hoạt động ngân hàng./.