Dự án “Hiện đại hóa Ngân hàng và Hệ thống thanh toán“ là một trong những dự án trọng điểm trong chiến lược phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 1996-2010 của Chính phủ Việt Nam. Đây là một dự án CNTT có hàm lượng công nghệ cao, đi kèm với nó là một quy trình vận hành nghiêm ngặt. Triển khai thành công dự án này, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã thiết lập được một nền tảng hạ tầng kỹ thuật hiện đại, là tiền đề quan trọng để đổi mới các quy trình nghiệp vụ, phát triển và mở rộng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử đa tiện ích hiện đại. Bài viết này giới thiệu về Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng (IBPS) - Một thành quả của Dự án “Hiện đại hóa Ngân hàng và Hệ thống thanh toán”.
1. Sơ lược về IBPS
IBPS là 01 trong 7 tiểu dự án thuộc Dự án Hiện đại hoá Ngân hàng và Hệ thống Thanh toán do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, theo Hiệp định tín dụng số 2785 VN, ngày 16/01/1996, ký kết giữa Chính phủ Việt nam và WB (Dự án trị giá 54 triệu USD, bao gồm 7 tiểu dự án: 01 của Ngân hàng Nhà nước và 06 của các Ngân hàng thương mại). Tiểu dự IBPS do Ngân hàng Nhà nước trực tiếp quản lý và thực hiện là Tiểu dự án xương sống, quan trọng nhất trong toàn Dự án. Hệ thống gồm: Trung tâm thanh toán quốc gia lắp đặt tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương, gọi tắt là NPSC; 05 trung tâm xử lý khu vực tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ viết tắt là các RPC. IBPS được chính thức đưa vào hoạt động từ ngày 2/5/2002; qua hơn 10 năm vận hành, hệ thống này đã khảng định vai trò là huyết mạch chu chuyển vốn của nền kinh tế.
Hệ thống IBPS gồm 3 cấu phần: (1) Hệ thống thanh toán giá trị cao; (2) Hệ thống thanh toán giá trị thấp và (3) Hệ thống xử lý quyết toán vốn. Thanh toán giá trị cao là những giao dịch thanh toán có giá trị từ 500 triệu đồng (VND) trở lên hoặc những thanh toán khẩn. Đối với mỗi món thanh toán giá trị cao, hệ thống truy nhập và kiểm tra ngay số dư tài khoản khách hàng trước khi xử lý hạng mục thanh toán/hoặc quyết toán. Nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền, giao dịch đó sẽ được giữ lại và xử lý theo cơ chế hàng đợi.
Thanh toán giá trị thấp là những giao dịch thanh toán có giá trị dưới 500 triệu đồng (VND) và được xử lý theo lô. Các giao dịch thanh toán giá trị thấp được bù trừ tại các trung tâm xử lý khu vực (RPC) theo địa bàn tương ứng trên cơ sở định kỳ.
Các RPC (Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ) gửi kết quả bù trừ về Trung tâm thanh toán Quốc gia ( NPSC ) để xử lý quyết toán vào tài khoản khách hàng tại Sở Giao dịch-NHNN. Thời gian thực hiện một lệnh thanh toán (giữa ngân hàng khởi tạo lệnh thanh toán và ngân hàng nhận lệnh thanh toán) không quá 10 giây.
Hệ thống IBPS được thiết kế cho phép xử lý thanh toán cả trong trường hợp tài khoản của khách hàng không có đủ tiền. Khoản này sẽ được thực hiện thông qua cơ chế thấu chi, cho vay qua đêm theo lãi suất quy định của NHNN. Xử lý quyết toán vốn được thiết kế để quyết toán tức thời giá trị cao (nếu tài khoản đủ tiền) và các khoản thanh toán giá trị thấp trong trường hợp khẩn. Hệ thống cho phép NHNN giám sát nguồn vốn của các NHTM, đồng thời cũng cho phép các ngân hàng thành viên tham gia hệ thống kiểm soát được luồng vốn của mình. Cuối mỗi ngày làm việc, báo cáo đối chiếu được gửi về từng chi nhánh của ngân hàng thành viên (đơn vị thành viên - CI) và báo cáo đối chiếu tổng hợp được gửi về Hội sở chính của từng ngân hàng.
2. Một dự án CNTT có hàm lượng công nghệ cao, phạm vi triển khai rộng.
Là một dự án CNTT có hàm lượng công nghệ cao, Hạ tầng kỹ thuật Hệ thống IBPS được thiết kế lắp đặt đáp ứng yêu cầu sẵn sàng cao (HA), kiến trúc hệ thống mở thuận lợi để giao diện với các hệ thống khác. Trung dữ liệu Dự phòng Sơn Tây (BNPSC) luôn sẵn sàng hoạt động thay thế Trung tâm xử lý quốc gia (NPSC) trong trường hợp NPSC bị sự cố. Hạ tầng mạng kết nối giữa các RPC, NPSC và BNPSC là hệ thống đường truyền cáp quang tốc độ cao, luôn sẵn sàng phục vụ cho hoạt động của hệ thống TTLNH. Chữ ký điện tử đảm bảo an toàn (chữ ký số) và các giải pháp mã hoá tiên tiến được sử dụng trong các lệnh thanh toán loại trừ các giao dịch thanh toán điện tử giả mạo, đảm bảo tính toàn vẹn và chống sửa đổi thông tin.
Là một dự án có phạm vi triển khai rộng, Dự án IBPS gồm 2 giai đoạn. Trong giai đoạn 1 của Dự án (từ tháng 5/2002 đến tháng 2/2009), hệ thống IBPS được triển khai tại Trung tâm thanh toán Quốc gia và các RPC: Sở giao dịch - NHNN, NHNN Chi nhánh TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ và RPC dự phòng. Có 65 Ngân hàng (gồm 06 đơn vị thuộc NHNN và 59 NHTM) với gần 270 đơn vị thành viên tham gia.
Trong giai đoạn 2 của dự án (từ tháng 3/2009 đến nay), Hệ thống IBPS được thiết kế với công xuất xử lý lên tới 2 triệu giao dịch/ngày; phạm vi mở rộng ra toàn bộ 63 tỉnh, thành cả nước. Hiện tại, Hệ thống đã có trên 160 thành viên (gồm 63 NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố và 96 tổ chức tín dụng) với hơn 750 đơn vị thành viên; và vẫn đang tiếp tục được mở rộng, cung cấp dịch vụ cho các công ty tài chính, các tổ chức phi tín dụng ngân hàng.
3. IBPS là một trục thanh toán xương sống của nền kinh tế Việt Nam
IBPS là hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến được xây dựng theo các công nghệ hiện đại, theo chuẩn quốc tế. Các dịch vụ và phương tiện mới, tiên tiến mà hệ thống cung cấp bao gồm tập trung số dư tiền gửi tài khoản từ các chi nhánh về Sở giao dịch NHNN (OC-RPC) và kết nối các chi nhánh NHTM tới NPSC, đảm bảo lưu chuyển thông tin, độ chính xác, tốc độ nhanh chóng và an toàn cho từng khoản thanh toán. Thông qua việc tập trung số dư tài khoản tiền gửi của các Chi nhánh về Hội sở của NHNN; Thanh toán trực tuyến (online) kết nối các Hội sở chính, các chi nhánh của NHTM với Trung tâm thanh toán Quốc gia, tạo luồng thông tin thông suốt, bảo đảm sự chính xác, nhanh chóng, an toàn cho mọi khoản thanh toán. Đặc biệt, hệ thống còn thiết lập và quản lý hạn mức nợ ròng, áp dụng cơ chế thấu chi tài khoản thanh toán và cho vay qua đêm - là những nghiệp vụ mới, tiến tiến, lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam.
NPSC có chức năng chính là kiểm soát tổng thể hệ thống TTLNH: quản lý vận hành và duy trì hoạt động thông suốt của hạ tầng kỹ thuật của hệ thống; duy trì trạng thái hoạt động của các bộ phận (RPC, CI, truyền thông, cơ sở dữ liệu, phần mềm nghiệp vụ TTLNH, …); thực hiện chức năng là trung tâm thanh toán bù trừ liên ngân hàng và xử lý tài khoản quyết toán (SAPS).
Các RPC thực hiện 2 chức năng chính: (i) Là một trung tâm xử lý khu vực: xử lý giao dịch (kiểm soát và xử lý các giao dịch đi và đến); quyết toán và đối chiếu kết quả xử lý giao dịch. (ii) Đơn vị thành viên đặc biệt tham gia hệ thống: OC-RPC khởi phát và nhận lệnh thanh toán giá làm đại lý thanh toán cho các thành viên gián tiếp; xử lý các kết quả thanh toán bù trừ giấy trên địa bàn.
Riêng OC-RPC ngoài việc thực hiện 2 chức năng như các RPC, còn thực hiện chức năng của Sở giao dịch NHNN: thực hiện khai báo số dư và hạn mức thanh toán đầu ngày cho các thành viên; hạch toán các phát sinh trong ngày; quản lý và hạch toán thấu chi trong thanh toán.
Các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố khác tham gia trong hệ thống có chức năng: Khởi phát và nhận lệnh thanh toán giá trị cao và giá trị thấp; Làm đại lý thanh toán cho các thành viên gián tiếp; Hạch toán tài khoản khách hàng và đối chiếu dữ liệu.
Các TCTD là đơn vị thành viên tham gia hệ thống có chức năng: Khởi phát và nhận lệnh thanh toán giá trị cao và giá trị thấp; Làm đại lý thanh toán cho các thành viên gián tiếp; Hạch toán tài khoản khách hàng và đối chiếu dữ liệu.
Đối với các TCTD là hội sở chính của các đơn vị thành viên ngoài việc thực hiện chức năng là đơn vị thành viên, còn thực hiện thêm các chức năng: theo dõi và duy trì số dư tài khoản thanh toán, hạn mức thanh toán giá trị thấp tại Sở Giao dịch NHNN; thanh quyết toán về vốn với các chi nhánh trong cùng hệ thống; cùng với NHNN xây dựng hạn mức cho các khoản thanh toán giá trị thấp và các thoả ước trong thanh toán với các TCTD khác.
Hệ thống TTLNH ra đời đã thay thế cho các hệ thống thanh toán truyền thống, đáp ứng được các yêu cầu về nghiệp vụ, vận hành thuận tiện, tính an toàn bảo mật cao, đầu tư trang bị thấp. Điều kiện kỹ thuật tối thiểu cần trang bị cho một thành viên tham gia hệ thống bao gồm 01 máy PC, 01 Modem quay số, 01 đường điện thoại. Thông qua việc tập trung số dư tài khoản tiền gửi của các Chi nhánh về Hội sở của NHNN; Thanh toán trực tuyến (online) kết nối các Hội sở chính, các chi nhánh của NHTM với Trung tâm thanh toán Quốc gia, tạo luồng thông tin thông suốt, bảo đảm sự chính xác, nhanh chóng, an toàn cho mọi khoản thanh toán. Hệ thống TTLNH cho phép giám sát lượng vốn, luồng chu chuyển vốn theo từng mốc thời gian trên cơ sở đó có các đánh giá, dự báo về sự hoạt động của thị trường tiền tệ, qua đó Ngân hàng Trung ương thêm một công cụ hữu hiệu hỗ trợ hoạt động điều hành chính sách tiền tệ nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
- Một số kết quả, sau 10 năm vận hành hệ thống
Hệ thống IBPS chính thức đưa vào hoạt động từ tháng 05/2002, số liệu thống kê lượng giao dịch thanh toán qua IBPS như sau:
Năm |
Số món |
Số tiền (tỷ VND) |
||
Tổng số |
Giá trị thấp |
Giá trị cao |
||
2002 |
52.000 |
0 |
52.000 |
2.900 |
2003 |
1.800.000 |
7.000 |
1.793.000 |
900.000 |
2004 |
2.630.000 |
|
|
1.600.000 |
2005 |
3.500.000 |
|
|
2.200.000 |
2006 |
4.500.000 |
|
|
3.653.000 |
2007 |
6.334.000 |
4.750.500 |
1.583.500 |
7.572.000 |
2008 |
7.800.000 |
5.850.000 |
1.950.000 |
11.200.000 |
2009 |
12.600.000 |
9.007.662 |
3.559.942 |
15.600.000 |
2010 |
17.375.434 |
12.673.639 |
4.701.795 |
26.344.056 |
2011 |
23.038.112 |
17.152.001 |
5.949.202 |
39.749.405 |
5/2012 |
9.005.566 |
6.837.037 |
2.168.529 |
23.386.765 |
- Biểu đồ tăng trưởng hoạt động thanh toán qua Hệ thống trong 10 năm:
.
- Số giao dịch bình quân ngày
|
Địa bàn Tp. Hà Nội |
Địa bàn Tp.Hải Phòng |
Địa bàn Tp. Đà Nẵng |
Địa bàn Tp. Hồ Chí Minh |
Địa bàn Tp. Cần Thơ |
Địa bàn các tỉnh, Tp còn lại |
Giao dịch giá trị cao |
10.070 |
374 |
232 |
10.068 |
192 |
3.058 |
Gia dịch giá trị thấp |
32.215 |
1.429 |
1.006 |
42.971 |
660 |
5.763 |
Tổng số giao dịch |
42.285 |
1.803 |
1.238 |
53.039 |
852 |
8.821 |
Tỷ lệ % |
39% |
2% |
1% |
49% |
1% |
8% |
Thanh Hà (Cnth theo thnh)