1. Diễn biến lãi suất
Diễn biến lãi suất huy động VND và USD:
Hiện tượng vượt trần lãi suất được kiểm soát chặt chẽ, lãi suất huy động VND có giảm nhẹ, lãi suất huy động USD ổn định ở mức 2%/năm.
Trong năm 2012, NHNN tiếp tục chủ trương áp dụng trần lãi suất huy động theo hướng điều chỉnh giảm dần, phù hợp với các diễn biến kinh tế vĩ mô. Mặc dù chính sách trần lãi suất là một chính sách còn mang tính hành chính nhưng việc áp dụng trần lãi suất huy động trong thời gian qua đã phần nào hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng, qua đó ổn định thị trường tiền tệ.
Trên cơ sở đó, mặc dù từ đầu năm 2012 đến cuối tháng 2/2012, các ngân hàng vẫn duy trì mức lãi suất cao (lãi suất huy động phổ biến sát 6%/năm với tiền gửi không kỳ hạn, 14%/năm với kỳ hạn 1 tháng trở lên) thì đến đầu tháng 3, nhiều ngân hàng đã ngay lập tức thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất theo chủ trương của NHNN, trong đó đi đầu là các ngân hàng thuộc nhóm 1 (Eximbank, Vietinbank, Vietcombank... giảm lãi suất từ 1/3). Kết thúc quý I/2012, trên thị trường, lãi suất không kỳ hạn bình quân là 3,73%/năm, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tới 12 tháng bình quân là 12,93%/năm, lãi suất kỳ hạn từ 12 tháng đến 36 tháng bình quân là 11,95%/năm. Trái với lãi suất huy động VND, lãi suất huy động USD ít biến động hơn so với năm 2011, mức lãi suất phổ biến vẫn duy trì 2,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn của dân cư và 0,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế.
Lãi suất huy động VND và USD bình quân một số kỳ hạn (%/năm) |
||||||||||
|
|
1 tháng |
2 tháng |
3 tháng |
6 tháng |
9 tháng |
12 tháng |
18 tháng |
24 tháng |
36 tháng |
VND |
2011 |
13,97 |
13,97 |
13,97 |
13,84 |
13,75 |
13,84 |
12,63 |
12,56 |
12,65 |
3/2012 |
12,94 |
12,94 |
12.94 |
12.94 |
12,94 |
12,87 |
11,99 |
11,99 |
11,88 |
|
USD |
2011 |
1,96 |
1,96 |
1,97 |
1,96 |
1,99 |
1,96 |
1,94 |
1,93 |
1,98 |
3/2012 |
1,98 |
1,98 |
1,98 |
1,98 |
1,99 |
1,99 |
1,79 |
1,78 |
1,77 |
|
Nguồn: Website của các NHTM, tổng hợp và tính toán của Viện Chiến lược
Diễn biễn lãi suất cho vay VND và USD:
Lãi suất cho vay VND có dấu hiệu giảm nhưng vẫn ở mức cao so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp. Trong khi đó, lãi suất cho vay USD không có nhiều biến động
Lãi suất cho vay là một trong những vấn đề nóng của năm 2011. Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, việc lãi suất cho vay trong năm ngoái có thời điểm lên tới 22-25%/năm đã tác động không thuận lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do vậy, việc giảm lãi suất cho vay theo một lộ trình thích hợp là nhiệm vụ cấp thiết của NHNN. Trong quý I, ngay sau trần lãi suất huy động giảm xuống 13%/năm, lãi suất cho vay cả ngắn hạn lẫn cho vay trung, dài hạn trên thị trường đã được điều chỉnh giảm từ 1 đến 1,5%/năm so với mặt bằng chung năm 2011, và hiện đang ở mức bình quân 16,81%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn (3 tháng) và 18,7%/năm đối với các khoản vay trung, dài hạn (12 tháng trở lên).
Theo lĩnh vực kinh doanh, lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu hiện nay ở mức 14,5-16%/năm, thấp nhất 13,5%/năm; cho vay sản xuất - kinh doanh khác 16,5-20%/năm, thấp nhất 15%/năm, cho vay lĩnh vực phi sản xuất 21-25%/năm.
Lãi suất cho vay cuối tháng 3/2012 phân theo lĩnh vực kinh doanh
Nhóm NHTM |
Đối tượng (%/năm) |
Ngắn hạn (%/năm) |
Trung, dài hạn (%/năm) |
NHTM Nhà nước
|
VND: - Sản xuất kinh doanh thông thường - Nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu |
- Phổ biến: 16,5-17 - Thấp nhất: 15 - Phổ biến: 14,5-16 - Thấp nhất: 13,5 |
18-19
17-18 |
USD |
6,0-6,5 |
6,5-7,5 |
|
NHTM cổ phần |
VND: - Sản xuất kinh doanh thông thường - Nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu |
- Phổ biến: 18-19 - Thấp nhất: 17 - Phổ biến: 17-19 - Thấp nhất: 16 |
19-20
18-20 |
USD |
6,0-7,5 |
7,5-9,0 |
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Mặc dù, lãi suất cho vay đã được điều chỉnh giảm nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Theo số liệu thống kê từ hai sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh thì có rất nhiều doanh nghiệp có chỉ số ROE dưới mức lãi suất cho vay ngân hàng, chẳng hạn như các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như sản xuất công nghiệp có chỉ số ROE là 13,1%, dịch vụ tiêu dùng (13,3%), tiện ích cộng đồng (15%), tài chính (7,8%), viễn thông (4,1%). Và một điều cần chú ý là các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn phần lớn là các doanh nghiệp có quy mô tương đối. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong năm 2011 cả nước có 7611 doanh nghiệp giải thể, cao hơn mức trung bình của những năm trước.
Ngành |
Số cty |
Vốn hóa (tỷ VND) |
ROA (%) |
ROE (%) |
Lợi nhuận/Doanh thu |
Nợ/Vốn CSH |
Công nghệ thông tin |
28 |
16.681 |
9,8 |
28,1 |
1,4 |
1,4 |
Công nghiệp |
351 |
59.896 |
6,1 |
13,1 |
9,5 |
2,5 |
Dầu khí |
4 |
13.904 |
6,3 |
21,4 |
9,0 |
2,2 |
Dịch vụ tiêu dùng |
63 |
6.656 |
7,6 |
13,3 |
13,4 |
1,3 |
Dược phẩm y tế |
26 |
9.513 |
16,2 |
25,5 |
13,8 |
1,4 |
Hàng tiêu dùng |
125 |
151.143 |
17,0 |
25,4 |
22,7 |
0,7 |
Ngân hàng |
42 |
218.872 |
1,5 |
21,1 |
32,5 |
- |
Nguyên vật liệu |
98 |
54.869 |
17,1 |
25,8 |
19,8 |
1,0 |
Tài chính |
184 |
207.822 |
2,2 |
7,8 |
25,8 |
2,4 |
Tiện ích cộng đồng |
45 |
16.460 |
8,0 |
15,0 |
35,4 |
1,6 |
Viễn thông |
1 |
21 |
2,0 |
4,1 |
1,8 |
1,1 |
Nguồn: Cty cổ phần Chứng khoán HSC
Trái với diễn biến giảm của lãi suất cho vay VND, lãi suất cho vay USD được duy trì ổn định, lãi suất cho vay USD ngắn hạn dao động trong khoảng 6-7,5%/năm, dài hạn khoảng 7,5-9%/năm
2. Diễn biến hoạt động tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng nội tệ quý đầu năm 2012 giảm mạnh so với quý đầu năm 2011.
Tín dụng nội tệ tăng trưởng âm trong tháng 1, tăng nhẹ trở lại ở mức rất thấp gần như bằng 0 (0,01%) vào tháng 2, và tăng khá (0,76%) vào tháng 3. Hoạt động tín dụng trong những tháng đầu năm diễn ra cầm chừng do nhiều nguyên nhân cả từ phía cung và phía cầu.
Mặt bằng lãi suất mặc dù đang được điều chỉnh giảm dần song vẫn còn khá cao so với sức chịu đựng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Mặt khác, các quy định về hạn mức tín dụng đối với từng nhóm ngân hàng cũng đã tác động mạnh đến các quyết định cho vay vốn của các TCTD. Việc thẩm định, lựa chọn dự án để cung cấp vốn được thực hiện chặt chẽ hơn, nhằm đảm bảo hiệu quả của đồng vốn cũng như đảm bảo cho vốn được phân bổ vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Sang tháng hai, hoạt động tín dụng đã thoát khỏi tình trạng tăng trưởng âm song vẫn còn yếu. Tình trạng tín dụng từ tháng 2 được cải thiện là do các NHTM thực hiện các gói sản phẩm tín dụng ưu đãi lãi suất thấp. Tuy nhiên tổng giá trị mỗi gói chỉ ở mức 4000-5000 tỷ đồng nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế .
Huy động nội tệ tháng 1 giảm 3,15% so với tháng 12/2011, tuy nhiên đã tăng trưởng dương trở lại vào tháng 2, tháng 3 với mức tăng trưởng tương ứng là 3,93% và 2,03%. Tuy nhiên xét về tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ (theo năm) thì huy động nội tệ những tháng đầu năm 2012 giảm đáng kể so với năm trước.
Tín dụng – huy động ngoại tệ
Trong 3 tháng đầu năm 2012, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng cơ bản được đảm bảo.
Tín dụng ngoại tệ giảm 2,14% và Huy động ngoại tệ giảm khoảng 2,26%. Tốc độ giảm tín dụng ngoại tệ tương đương với tốc độ giảm huy động ngoại tệ nên kết thúc quý I/2012, tỷ lệ Tín dụng ngoại tệ/Huy động ngoại tệ vẫn ở mức xấp xỉ 102% như cuối năm 2011. Xu hướng này là phù hợp với chủ trương điều hành của NHNN hướng tới hạn chế dần hiện tượng đô la hóa trong nền kinh tế.
3. Diễn biến trên thị trường ngoại hối
* Diễn biến tỷ giá USD/VND: tỷ giá USD/VND trong 3 tháng đầu năm 2012 tiếp tục diễn biến ổn định:
+ Tỷ giá bình quân liên ngân hàng (BQLNH) tiếp tục được duy trì ở mức 20.828 VND/ 1USD;
+ Tỷ giá giao dịch của Ngân hàng Thương mại (NHTM) sau một thời gian được duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm. Kết thúc tháng 3, tỷ giá NHTM dừng ở mức 20.800 (mua vào) – 20.860 (bán ra);
+ Tỷ giá trên thị trường chợ đen nhìn chung không chênh lệch nhiều so với tỷ giá giao dịch của Ngân hàng Thương mại (NHTM);
+ Một điểm khác biệt của diễn biến tỷ giá quý I/2012 so với các năm trước là tỷ giá mua vào của Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bắt đầu từ ngày 13/2/2012 được điều chỉnh cao hơn tỷ giá mua vào của NHTM nhằm tạo điều kiện cho NHNN thực hiện mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối. Ước dự trữ ngoại hối đã tăng thêm khoảng 30% so với cuối năm 20111[1].
Diễn biến ổn định của tỷ giá trong những tháng qua được hỗ trợ từ các yếu tố cấu thành nên cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế được cải thiện theo chiều hướng tích cực. Bên cạnh đó, diễn biến lạm phát cùng với việc công bố minh bạch mục tiêu điều hành tỷ giá trong năm 2012 không quá 3% đã giúp ổn định tâm lý thị trường, kỳ vọng về sự giảm giá VND được hạn chế, khắc phục phần nào hiện tượng găm giữ đầu cơ ngoại tệ như các năm trước đây.
* Diễn biến tỷ giá thực
Bên cạnh diễn biến ổn định của tỷ giá danh nghĩa, diễn biến tỷ giá thực hiệu quả REER trong 2 tháng đầu năm 2012 tăng nhẹ từ mức 88,3% vào cuối năm 2011 lên 90,02% vào tháng 2/2012. Việc giá trị REER tiến dần về trục gốc 100% hỗ trợ tích cực cho mục tiêu ổn định tỷ giá trong năm 2012.
*
Diễn biến giá vàng trong nước
Trong quý I/2012, giá vàng trong nước tăng thêm xấp xỉ 3%, từ 4,27 triệu VND/chỉ lên 4,4 triệu VND. Trong 3 tháng đầu năm 2012, khi tỷ giá cơ bản ổn định, các quy định liên quan đến hoạt động đầu tư và giao dịch vàng không có thay đổi so với thời điểm cuối năm 2011, nghị định quản lý hoạt động vàng chưa được ban hành thì giá vàng quốc tế là nhân tố chính ảnh hưởng đến giá vàng trong nước: vận động theo xu hướng của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước đã tăng mạnh trong tháng 1/2012 (tăng hơn 6% từ 4,27 triệu VND/chỉ lên 4,53 triệu VND) và duy trì chuỗi tăng/giảm không theo một xu thế nhất định trong tháng 2 và 3.
Với kinh nghiệm rút ra từ việc giá vàng cũng có lúc giảm mạnh (như những tháng cuối năm 2011) giới đầu tư và người dân đã không còn tâm lý quá tin vào hoạt động đầu tư vàng. Mặc dù vậy, hiện tượng giá vàng trong nước cao hơn tương đối so với giá vàng thế giới (giá quy đổi ra VND) vẫn tiếp tục tiếp diễn. Chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới sau một thời gian được thu hẹp xuống còn 1 triệu VND/lượng trong tháng 2 lại tăng lên 2-3 triệu VND/lượng trong tháng 3.
Tuy nhiên, sự ra đời của Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến diễn biến thị trường vàng trong nước, giúp thu hẹp khoảng cách bất hợp lý giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới trong thời gian tới.
Thạc sỹ Nguyễn Thu Trang
Viện Chiến lược Ngân hàng