Hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng đã xuất hiện ở Việt Nam hơn 10 năm và được kỳ vọng là một kênh cấp tín dụng hữu hiệu cho nền kinh tế. Tuy nhiên, cho đến nay hệ thống này vẫn chưa thực sự phát triển nhưng lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống này thường cao nhất trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam (Theo số liệu thống kê của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tỷ lệ nợ xấu của các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính tăng từ mức 10,38% năm 2010 lên mức 34,50% năm 2011). Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng như: vấn đề nội tại của từng định chế; cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo, v.v… Việc tăng cường công tác quản lý, giá sát cũng như hoàn thiện khung khổ pháp lý đối với hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng của Việt Nam là vô cùng cấp bách nhất là trong bối cảnh hậu khủng hoảng hiện nay.\nBài viết này đề cập đến công tác quản lý, giám sát các tổ chức tài chính phi ngân hàng của Hàn Quốc vì tính rõ ràng trong các quy định về giám sát hệ thống này của Hàn Quốc sẽ đem đến nhiều gợi ý chính sách cho Việt Nam.
1. Công tác giám sát hệ thống tổ chức tài chính phi ngân hàng của Hàn Quốc
Theo mục đích giám sát, Cơ quan giám sát tài chính (FSS) phân chia các tổ chức tài chính tại Hàn Quốc thành 5 nhóm là ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác. Theo đó, nhóm tổ chức tài chính phi ngân hàng (NBFIs) bao gồm: công ty tài chính tổng hợp, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, các quỹ tín dụng và công ty tài chính tín dụng chuyên ngành.
a. Các cơ quan giám sát và các bộ luật về giám sát các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Vào tháng 1/1998, Ủy ban giám sát tài chính (FSC) được thành lập và trở thành cơ quan giám sát tài chính hợp nhất đầu tiên của Hàn Quốc. FSC là một cơ quan điều tiết độc lập trực thuộc Văn phòng Chính phủ và thực hiện nhiệm vụ cải cách các tổ chức tài chính, các tập đoàn kinh tế lớn (chaebols) trong nước cũng như giám sát việc tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp và khu vực tài chính sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998. Theo đó, ngày 1/1/1999, 4 cơ quan - Cơ quan giám sát ngân hàng, Cơ quan giám sát tổ chức tài chính phi ngân hàng, Ban giám sát chứng khoán và Ban giám sát bảo hiểm được hợp nhất thành một cơ quan giám sát tài chính duy nhất là Cơ quan giám sát tài chính (FSS).
FSS là cơ quan hành pháp của FSC, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát tất cả các tổ chức tài chính tại Hàn Quốc. Về chức năng giám sát, FSS không chỉ chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các quy định1[1] mà còn lập kế hoạch và dự thảo các vấn đề mà FSC cần xem xét. Ngoài ra, FSS còn đóng vai trò là trọng tài hòa giải những tranh chấp giữa các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư, người gửi tiền và người cho vay.
Mỗi loại hình tổ chức thuộc hệ thống tài chính phi ngân hàng Hàn Quốc đều bị điều chỉnh và giám sát bởi một bộ luật giám sát riêng rẽ. Chẳng hạn:
- Bộ luật về công ty tài chính tổng hợp (MBCA) được ban hành vào tháng 12/1975 với mục tiêu hỗ trợ việc đưa các dịch vụ ngân hàng đa dạng tới các doanh nghiệp. MBCA được sửa đổi, bổ sung vào tháng 1/2000 trong đó quy định rõ về sự hợp nhất các công ty tài chính tổng hợp; các hoạt động kinh doanh và giám sát của loại hình này. Các quy định cơ bản của MBCA bao gồm: (i) cấp phép hoạt động tài chính tổng hợp; bằng cấp, trình độ của những người điều hành; việc thành lập các chi nhánh và (ii) phạm vi kinh doanh tài chính tổng hợp; yêu cầu về tồn khoản đảm bảo và những hạn chế về hoạt động kinh doanh.
- Bộ luật về ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (MSBA) được ban hành vào 2/8/1972 với mục tiêu thu hút các khoản vay cá nhân trong khu vực tư nhân vào các thị trường tài chính có tổ chức. MSBA được sửa đổi bổ sung vào tháng 2/2002 và đã điều chỉnh đối với tiến trình hợp nhất các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, các hoạt động kinh doanh của loại hình ngân hàng này và những quy định giám sát chung. Với mục tiêu bảo đảm chất lượng tài sản của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, MSBA đặc biệt nghiêm cấm cho vay đối với các cổ đông cũng như cấm bất cứ các khoản vay vượt quá hạn mức cho vay đối với cùng một cá nhân.
- Bộ luật về kinh doanh tài chính tín dụng chuyên ngành (LSFBA) được ban hành vào tháng 8/1997. Các công ty tài chính bị điều chỉnh bởi bộ luật này bao gồm: công ty thẻ tín dụng, công ty cho thuê, công ty mua nợ bao thu và công ty đầu tư mạo hiểm vào các lĩnh vực công nghệ mới. Trước khi LSFBA ra đời, các công ty nói trên bị điều chỉnh bởi các bộ luật riêng lẻ như Luật về kinh doanh thẻ tín dụng, Luật về cho thuê thiết bị, Luật về đầu tư mạo hiểm vào các lĩnh vực công nghệ mới. LSFBA nghiêm cấm cho vay vượt trần đối với các công ty trong cùng một công ty mẹ có vốn đồng sở hữu.
- Bộ luật về quỹ tín dụng (CUA) được ban hành vào tháng 8/1997 và được sửa đổi, bổ sung vào tháng 7/2003. CUA điều chính đổi với tiến trình hợp nhất các quỹ tín dụng, những hoạt động của loại hình này và những quy định giám sát chung.
b. Các quy định giám sát đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng được giám sát theo những khía cạnh chính là (i) quy định về cấp phép thành lập, (ii) quy định về an toàn, (iii) hệ thống đánh giá quản trị, (iv) các hành động điều chỉnh tức thời, (v) giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, (vi) hướng dẫn quản lý và kiểm soát quản trị
- Quy định về cấp phép thành lập: Sau khủng hoảng tài chính 1997, những quy định và thủ tục đăng ký tham gia hoạt động kinh doanh phi ngân hàng được nới lỏng nhiều và hợp lý hơn sau hàng loạt nới lỏng điều tiết của chính phủ Hàn Quốc.
Để được cấp phép hoạt động, công ty tài chính tổng hợp, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, công ty tài chính tín dụng chuyên ngành và quỹ tín dụng phải nộp hồ sơ đăng ký, kế hoạch kinh doanh, nhân sự, cơ sở hạ tầng kinh doanh phù hợp với từng loại hình tổ chức lên FSC/FSS. FSC/FSS cũng quy định mức vốn pháp định tốt thiểu đối với từng loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng2[2]. Bên cạnh đó, các hợp tác xã tín dụng chuyên về nông, lâm, ngư nghiệp còn phải xin giấy phép của Bộ Nông Lâm Nghiệp, Bộ Thủy sản và Hàng hải, Cơ quan Lâm nghiệp.
- Quy định về an toàn: FSC/FSS đưa ra những quy định về an toàn rất rõ ràng, tập trung vào 8 mục chính: mức an toàn vốn tối thiểu, phân loại tài sản và trích lập dự phòng, kiểm soát tập trung tín dụng và cho vay theo quan hệ thân quen, thanh khoản, giữ các tài sản dự phòng rủi ro, hạn chế mua bất động sản; giới hạn đầu tư chứng khoán và công bố thông tin tài chính.
+ Mức an toàn vốn tối thiểu: FSC/FSS áp dụng các chuẩn mực về vốn điều chỉnh theo rủi ro hợp nhất do Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) đề xuất như là một biện pháp an toàn tăng thêm nhằm bảo đảm mức vốn pháp định của các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Theo đó, các công ty tài chính tổng hợp phải bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo BIS 8% (nếu công ty tài chính tổng hợp nào có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu xuống dưới 8% phải chịu các hoạt động điều chỉnh nhanh chóng); các ngân hàng tương hỗ: 5%. Hiện nay, FSC/FSS đang áp dụng hệ thống an toàn vốn tối thiểu đối với quỹ tín dụng, quỹ tín dụng tương hỗ và công ty tài chính tín dụng chuyên ngành. Quỹ tín dụng và quỹ tiết kiệm tương hỗ phải đảm bảo tỷ lệ vốn chủ sở hữu thuần cao hơn 2%. Công ty thẻ tín dụng được khuyến khích bảo đảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu đã điều chỉnh cao hơn 8%; các công ty tài chính tín dụng chuyên ngành khác cao hơn 7%.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng phải trích ít nhất 10% lợi nhuận thuần cho dự trữ pháp định. Các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ và các quỹ tín dụng phải dành cho dự trữ pháp định lên bằng với mức vốn pháp định tối thiểu. Các công ty tài chính tổng hợp và các công ty tài chính tín dụng chuyên ngành phải dành cho dự trữ pháp định cho đến khi mức dự trữ pháp định đạt tới 50% mức vốn pháp định.
+ Phân loại tài sản và trích lập dự phòng: FSC/FSS đã sửa đổi quy định về giám sát đối với các công ty tài chính tổng hợp nhằm đưa ra những chuẩn mực mới về phân loại tài sản đối với loại hình tổ chức tài chính này dựa trên hệ thống những tiêu chuẩn tiên tiến (FLC). Hệ thống FLC đối với các công ty tài chính tổng hợp bắt đầu có hiệu lực từ tháng 6/2000. Cũng giống như các hệ thống tương tự áp dụng cho các ngân hàng thương mại, tài sản của công ty tài chính tổng hợp được phân thành 5 nhóm: bình thường, cần chú ý, dưới tiêu chuẩn, nghi ngờ và có khả năng mất vốn. Hàng quý, các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, quỹ tín dụng, quỹ tín dụng tương hỗ và công ty tài chính tín dụng chuyên ngành phải phân loại tài sản vào 1 trong 5 nhóm như trên.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng phải trích lập dự phòng cho các nhóm tài sản, thông thường từ 0.5% cho nhóm bình thường đến 100% cho nhóm có khả năng mất vốn. Riêng đối với công ty thẻ tín dụng, việc phân loại tài sản và trích lập dự phòng có những quy định khác3[3].
+ Kiểm soát tập trung tín dụng và cho vay theo quan hệ thân quen:
Hiện nay, các trần tín dụng đối với công ty tài chính tổng hợp cũng giống như đối với các ngân hàng thương mại. Theo đó, cho vay đối với 1 cá nhân riêng lẻ (cá nhân hoặc thể nhân) và đối với 1 nhóm riêng lẻ là 20% và 25%/ tổng vốn của công ty tài chính tổng hợp. Cho vay đối với một cổ đông chính, người nắm giữ từ 20%/tổng cổ phiếu đang lưu hành hoặc đối với một các nhân tổng hợp không được vượt quá 15%/tổng vốn của công ty tài chính tổng hợp.
Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ cho vay đối với 1 cá nhân riêng lẻ (cá nhân hoặc thể nhân) và đối với những người góp vốn không được vượt quá 20% vốn chủ sở hữu. Cho vay đối với các nhân riêng lẻ không vượt quá 300 triệu Won. Cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và các công ty khác tối đa 8 tỷ Won. Cho vay đối với các công ty nhà nước không quá 20% tổng vốn chủ sở hữu. Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ không được phép cho vay đối với các cổ đông, thành viên ban quản trị và những người có quan hệ đặc biệt khác.
Quỹ tín dụng, quỹ tín dụng tương hỗ có thể cho vay đối với 1 cá nhân tới 15% tổng vốn.
Ngoại trừ quỹ tín dụng và quỹ tín dụng tương hỗ, các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác phải cho vay đối với các DNNVV với một tỷ lệ nhất định/tổng vốn cho vay của họ: công ty tài chính tổng hợp: 25% hoặc hơn; ngân hàng tiết kiệm tương hỗ: 50% hoặc hơn; công ty tài chính tín dụng chuyên ngành: 30% hoặc hơn của tổng mức cho thuê hàng năm.
+ Thanh khoản: FSS yêu cầu công ty tài chính tổng hợp phải duy trì tỷ lệ giữa tài sản có và tài sản nợ bằng Won với thời gian đáo hạn dưới 3 tháng thấp tối thiểu là 100% tỷ suất thanh khoản bằng Won; Đối với thanh khoản ngoại tệ 3 tháng tối thiểu là 80% tỷ suất thanh khoản.
+ Giữ các tài sản dự phòng rủi ro: Ngoại trừ công ty tài chính tín dụng chuyên ngành, công ty tài chính tổng hợp, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, quỹ tín dụng và quỹ tín dụng tương hỗ phải duy các mức dự phòng bằng tiền mặt, tiền gửi và chứng khoán theo một tỷ lệ nhất định4[4].
+ Hạn chế mua bất động sản: các tổ chức tài chính phi ngân hàng bị cấm đầu tư vào bất động sản nằm ngoài mục tiêu hoạt động. Khi muốn mua bất động sản nhằm phục vụ cho các hoạt động của mình, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ và công ty tài chính tín dụng chuyên ngành chỉ được phép mua dưới 100% tổng vốn của mình. Công ty tài chính tổng hợp và quỹ tín dụng nhân dân không được phép mua bất động sản kể cả cho mục đích hoạt động.
+ Giới hạn đầu tư chứng khoán: công ty tài chính tổng hợp và ngân hàng tiết kiệm tương hỗ không được đầu tư vào các loại chứng khoán như cổ phiếu hoặc trái phiếu dài hạn vượt quá 100% vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, hai loại hình công ty tài chính phi ngân hàng này được phép đầu tư vào trái phiếu chính phủ và trái phiếu ổn định tiền tệ do NHTW Hàn Quốc phát hành. Quỹ tín dụng và quỹ tín dụng tương hỗ không được phép đầu tư vào các loại chứng khoán rủi ro cao như cổ phiếu, trái phiếu công ty không được đảm bảo hoặc trái phiếu công ty có xếp hạng dưới BBB.
+ Công bố thông tin tài chính: các tổ chức tài chính phi ngân hàng phải công bố các báo cáo thường niên: các bảng cân đối kế toán, báo cáo doanh thu cho mỗi năm tài chính. Các tổ chức này cũng phải công bố các báo cáo tài chính hợp nhất theo mẫu do FSS quy định. FSS thực thi các quy định về công bố thông tin nhằm bảo đảm nhân dân và đặc biệt là những người gửi tiền và các cổ đông nắm được các thông tin thỏa đáng từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Theo các quy định về công bố thông tin, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải công bố tình hình hoạt động của mình thường xuyên và ngẫu nhiên. Các tổ chức này phải công bố các thông tin liên quan đến tình trạng tài sản, khả năng sinh lời, hiệu suất vốn, các nguồn vốn và việc sử dụng các nguồn vốn.
- Hệ thống đánh giá quản trị: năm 2000, FSC/FSS đã áp dụng hệ thống đánh giá CAMEL5[5] đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Mục tiêu chủ yếu của hệ thống này nhằm xác định và đối phó với những biến động tài chính và các vấn đề khác ngay từ giai đoạn sơ khai. FSC/FSS có tính đến kết quả xếp hạng tín dụng và đánh giá quản trị trong các biện pháp thanh tra, giám sát của mình. Chẳng hạn, một tổ chức tài chính phi ngân hàng có kết quả xếp hạng dưới các mức tiêu chuẩn tối thiểu phải thực hiện các hành động điều chỉnh tức thời.
- Các hành động điều chỉnh tức thời: FSC/FSS áp dụng hệ thống các hành động điều chỉnh tức thời (PCA) từ năm 1999. Khi tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn mực của BIS hoặc kết quả đánh giá tổng thể của công ty tài chính tổng hợp và ngân hàng tiết kiệm tương hỗ thấp hơn mức tiêu chuẩn tối thiểu, FSC/FSS có thể đưa ra những biện pháp để giải quyết vấn đề. Các công ty tài chính tổng hợp và ngân hàng tiết kiệm tương hỗ nào bị đưa vào diện phải thực hiện PCA đều phải đệ trình kế hoạch phục hồi lên FSS trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận quyết định thực hiện PCA. FSC/FSS chính thức áp dụng PCA đối với các công ty tài chính tín dụng chuyên ngành vào ngày 1/ 7/2002. Các quỹ tín dụng phải thực hiện PCA vào năm 1999 nhưng các quỹ tín dụng tương hỗ không thuộc diện điều chỉnh của PCA. Ngoài ra, FSC/FSS đã chuyển giao việc quản lý các quỹ tín dụng và ban hành yêu cầu đối với việc cải thiện tình trạng tài chính (RIFS) cho Hiệp hội quỹ tín dụng quốc gia Hàn Quốc (NACUFOK). Theo ủy quyền của FSC/FSS, NACUFOK có thể thực hiện việc kiểm soát đối với các quỹ tín dụng không đáp ứng đủ các mức tiêu chuẩn tối thiểu. Các quỹ tín dụng nào bị đưa vào diện phải thực hiện RIFS đều phải đệ trình kế hoạch phục hồi lên NACUFOK trong vòng 1 tháng kể từ ngày nhận quyết định thực hiện RIFS.
PCA bao gồm các cấu phần sau:
(i) Khuyến cáo cải thiện quản trị (MIR): khi công ty tài chính tổng hợp và ngân hàng tiết kiệm tương hỗ nhận được MIR, các công ty này phải có những điều chỉnh về tổ chức, các khoản chiết khấu đặc biệt, hạn chế đầu tư vào tài sản cố định, tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới, các khoản đầu tư mới và chi trả cổ tức, tăng hoặc giảm vốn và cơ cấu lại nợ xấu.
(ii) Yêu cầu cải thiện quản trị: các tổ chức tài chính phi ngân hàng nhận được yêu cầu cải thiện quản trị phải tiến hành hợp nhất các văn phòng hoạt động, không được đầu tư mới, giảm tài sản rủi ro, kiểm soát lãi tiền gửi, thay thế nhân sự quản lý cấp cao và kiểm toán ngoài, rút khỏi một số lĩnh vực kinh doanh, giải thể hoặc hợp nhất, sáp nhập với các tổ chức tài chính khác.
(iii) Chỉ thị cải thiện quản trị (MIO): các tổ chức tài chính phi ngân hàng nhận được MIO phải xóa bỏ một phần hoặc toàn bộ vốn chủ sở hữu, cách chức giám đốc/tổng giám đốc, chỉ định người thay thế, hợp nhất hoặc sáp nhập với các tổ chức tài chính khác, ngừng kinh doanh trong vòng 6 tháng hoặc bị rút giấy phép.
- Giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ: theo thông lệ quốc tế, FSC/FSS cũng tiến hành giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ để bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
+ Thanh tra tại chỗ: gồm có hai loại là thanh tra thường xuyên6[6] (thanh tra chung) và thanh tra theo mục tiêu7[7] (thanh tra từng phần). Việc thanh tra chủ yếu tập trung vào tình trạng tài sản, sự tuân thủ các quy định, kiểm soát nội bộ, vi phạm các quy định về tài chính, sự tin cậy của các hồ sơ và công bố thông tin về tài chính, việc thu thập số liệu. Trong thời kỳ thanh tra, FSS cũng đánh giá hiện trạng quản trị và kiểm tra tình trạng quản trị rủi ro của tổ chức bị thanh tra. Những biện pháp và khuyến cáp của FSS sau thanh tra có thể bao gồm cả PCA.
Để tránh việc thanh tra trùng lắp, FSS đã ủy quyền cho NACUFOK tiến hành thanh tra thường xuyên đối với các quỹ tín dụng. Theo đó, FSS chỉ kiểm tra tính chính xác của các cuộc thanh tra do NACUFOK thực hiện. Ngoài ra, FSS cũng tiến hành thanh tra đối với các quỹ tín dụng vì những lý do đặc biệt (bị dư luận phàn nàn, có các vấn đề về kiểm soát nội bộ) hoặc các quỹ tín dụng gặp khó khăn.
+ Giám sát từ xa: Mỗi vụ, cục đảm trách việc thanh tra của FSS chỉ định một thanh tra chính và một tổ thanh tra thực hiện việc giám sát từ xa đối với mỗi tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Việc giám sát từ xa chủ yếu được thực hiện bằng một hệ thống giám sát thông thường nhằm kiểm soát tình trạng của các tổ chức này. Việc giám sát từ xa cũng được thực hiện thông qua việc phân tích các báo cáo và tài liệu của các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Báo cáo này bao gồm các thông tin về tài chính liên quan đến tài sản có và tài sản nợ của tổ chức tài chính phi ngân hàng và các thông tin chung về các vấn đề như số lượng nhân viên và số lượng chi nhánh. Các thanh tra viên xác minh sự tin cậy của báo cáo này trong các cuộc thanh tra tại chỗ. Ngoài ra, việc giám sát từ xa còn được thực hiện thông qua phân tích các báo cáo định kỳ, các dữ liệu kinh doanh và thông tin chính yếu từ hệ thống cảnh báo sớm đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng gặp khó khăn, các cuộc thảo luận và thương lượng thường xuyên với ban quản trị và thông tin về các tổ chức tài chính phi ngân hàng liên quan đến những vi phạm các quy định về tài chính.
FSC/FSS có thể sử dụng kết quả giám sát từ xa khi thực hiện các biện pháp giám sát như khuyến cáo, yêu cầu, chỉ thị cải thiện quản trị, đưa ra xếp hạng đánh giá quản trị hoặc thiết lập các phương án thanh tra đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng có vấn đề về những lĩnh vực yếu kém của họ.
- Hướng dẫn quản lý và kiểm soát quản trị: để bình thường hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng ốm yếu, FSC có thể đưa ra những hướng dẫn quản lý và kiểm soát quản trị. Tùy loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng mà FSS đưa ra những hướng dẫn và kiểm soát quản trị.
- Các biện pháp giám sát khác: Hiện nay, các quy định về quản trị doanh nghiệp đối với các công ty tài chính tổng hợp, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ và công ty tài chính tín dụng chuyên ngành đã được tăng cường rất nhiều thông qua việc chấp thuận thuê quản lý ngoài, các ủy ban kiểm toán và các cán bộ tuân thủ.
+ Các quản lý thuê ngoài: Khi tài sản của một ngân hàng tiết kiệm tương hỗ vượt 300 tỷ Won thì ngân hàng đó phải thuê quản lý ngoài. Hội đồng quản trị của công ty tài chính tổng hợp và công ty thẻ tín dụng có tổng tài sản trên 2000 tỷ Won phải có ít nhất 3 quản lý thuê ngoài đảm nhiệm cả vai trò thường trực và không thường trực, chiếm 50% tổng số người trong hội đồng quản trị. Nếu tài sản của một ngân hàng tiết kiệm tương hỗ vào khoảng 300 tỷ - 1000 tỷ Won thì phải có ít nhất 2 quản lý thuê ngoài; nếu tài sản lớn hơn 1000 tỷ phải có ít nhất 3 quản lý ngoài, chiếm 50% tổng số người trong hội đồng quản trị.
+ Ủy ban kiểm toán: Công ty tài chính tổng hợp và công ty thẻ tín dụng có tài sản trên 2000 tỷ Won phải thành lập ủy ban kiểm toán gồm 2/3 các quản lý thuê ngoài. Tất cả các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ có tài sản trên 300 tỷ Won phải thành lập ủy ban kiểm toán gổm 2/3 tổng số thành viên là quản lý thuê ngoài.
+ Kiểm soát nội bộ: Công ty tài chính tổng hợp, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ và công ty tài chính tín dụng chuyên ngành phải chuẩn bị và đưa vào thực hiện các quy định về kiểm soát nội bộ đối với các nhân viên. Trong các trường hợp vi phạm, các công ty này đều phải chỉ định ít nhất 1 cán bộ tuân thủ chịu trách nhiệm chuẩn bị các báo cáo về những vi phạm và trình lên ủy ban kiểm toán.
2. Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
Hiện tại, ở Việt Nam, hệ thống TCTD phi ngân hàng gồm có 30 thành viên: 18 công ty tài chính và 12 công ty cho thuê tài chính (số liệu đến 15/6/2012).
Hoạt động của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng của Việt Nam thường không ổn định, tỷ lệ nợ xấu cao. Theo số liệu công bố trên website của NHNN, tính đến 31/7/2012, hệ thống CTTC và CTCTTC có tốc độ tăng trưởng vốn tự có khá cao (8.38%) nhưng tỷ lệ ROA và ROE lại bị âm (ROA: -0.09%, ROE: -1.21%). Hệ thống này còn có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cao nhất trong toàn ngành ngân hàng (23.36%). Điều này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và cần được giám sát chặt chẽ.
Nguyên nhân của những yếu kém trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng phi ngân hàng do những bất cập trong cơ cấu và hoạt động cũng như hành lang pháp lý điều chỉnh hệ thống này còn chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, hoạt động giám sát hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng của NHNN còn chưa đồng bộ. Hiệu quả giám sát mới chỉ hạn chế ở việc giám sát tuân thủ của hệ thống này trong việc đảm bảo tỷ lệ an toàn mà chưa xây dựng được những văn bản pháp quy liên quan đến việc giám sát khả năng quản trị rủi ro của các CTTC, CTCTTC.
Theo định hướng cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 -2015 (Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2012, ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 03 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ), các công ty tài chính (CTTC), công ty cho thuê tài chính (CTCTTC) sẽ được chấn chỉnh, sắp xếp lại để bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả, đúng pháp luật và cùng với các NHTMNN giữ cho hệ thống các tổ chức tín dụng ổn định và phát triển vững chắc.
Song song với việc cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nói riêng và hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung, mô hình giám sát, cơ chế giám sát của các cơ quan hữu quan cũng phải được hoàn thiện để hạn chế thấp nhất các lỗ hổng pháp lý trong giám sát từng loại hình tổ chức tín dụng, từng lĩnh vực tài chính và giữa các lĩnh vực tài chính với nhau, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý hữu hiệu những rủi ro cũng như các hành vi sai trái dẫn đến rủi ro hệ thống.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, mỗi loại hình tổ chức thuộc hệ thống tài chính phi ngân hàng nên được điều chỉnh và giám sát bởi một bộ luật giám sát riêng rẽ. Như vậy, các quy định về cấp phép thành lập, an toàn hoạt động, hệ thống đánh giá quản trị, v.v... sẽ được xây dựng phù hợp với đặc trưng của từng loại hình các tổ chức tín dụng phi ngân hàng; tránh được những lỗ hổng về pháp lý không đáng có.
Mặt khác, phần lớn các CTTC, CTCTTC là công ty con của các NHTM, tập đoàn, tổng công ty nhà nước8[8] nên cơ cấu sở hữu phức tạp, chồng chéo gây nhiều khó khăn cho công tác thanh tra, giám sát của NHNN. Vì vậy, NHNN cần phải xây dựng một cơ chế giám sát phù hợp với đặc điểm riêng của hệ thống này để hạn chế thấp nhất vấn đề sở hữu chéo giữa các tổ chức này, bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh đó, do các tổng công ty, tập đoàn nhà nước cũng thuộc sự quản lý của Bộ Tài chính vì vậy cần xây dựng các quy chế về quy trình, tiêu chí giám sát chung cũng như khung hợp tác giữa NHNN và Bộ Tài chính về chia sẻ, trao đổi thông tin, cùng hợp tác, phân tích, đưa ra cảnh báo,cùng nhau kiến nghị chính sách.
Ngoài ra, cơ quan giám sát cần xây dựng mẫu báo cáo chung (bao gồm tình hình hoạt động kinh doanh, quản trị rủi ro, số lượng nhân viên, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch) cho từng loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Báo cáo này không những phục vụ cho công tác thanh tra tại chỗ (thanh tra thường xuyên, thanh tra theo mục tiêu) và hoạt động giám sát từ xa mà còn để công bố thông tin ra công chúng, duy trì niềm tin cho nhà đầu tư và người gửi tiền.
Không những thế, cần đẩy mạnh việc áp dụng tiêu chuẩn giám sát theo thông lệ quốc tế (tiêu chuẩn CAMELS; các nguyên tắc Basel I, II và III), chuyển từ thanh tra tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro; nâng cao năng lực thanh tra, giám sát (chẳng hạn: năng lực phân tích chính sách và dự báo tài chính vĩ mô) của đội ngũ cán bộ đảm nhiệm công tác thanh tra, giám sát; hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ công tác thanh tra, giám sát (hệ thống thông tin quản lý) nhằm đảm bảo luồng thông tin kịp thời, chính xác.
Ths Nguyễn Thị Mai Phượng
Viện Chiến lược Ngân hàng